Thứ Bảy, 22 tháng 3, 2014

HỒI KÝ NHỮNG NĂM THÁNG LƯU ĐÀY TRONG NGỤC TÙ CỘNG SẢN CỦA DUYÊN ANH - KỲ 1


 1      2           4      5      6      7     8


GỌI LÀ THAY LỜI TỰA

Tôi không có ý định viết hồi ký về những năm tù đầy của tôi khi tôi trở lại đời sống bình thường. Con người sinh ra là để chịu đựng mọi hệ lụy. Từ đầu đường oan nghiệt, tôi khởi sự khóc và tôi sẽ gục ngã ở cuối đường oan nghiệt. Từ đấy, theo tôi, là những cái mộ u cao hơn, nhiều chông gai hơn những cái mộ u khác dốc dài sau đó. Vượt qua hay chẳng vượt qua thì rồi cũng chết. Có những cái chết thật vô tích sự và mục rả như có cây tàn tạ. Có những cái chết được phục sinh. Chinh ý nghĩa của sự sống đã phục sinh sự chết. Ý nghĩa ấy nảy mầm trong lòng những cái mộ u cao nhất của sầu đạo và mầm ấy chổi lên mặt đất, chổi lên mãi thành cây nhân sinh xum xuê lá cành xanh mướt, trĩu nặng trái chín vàng mộ bằng sự phấn đấu can đảm của con người vượt qua mộ u. Nhà tù nào cũng chỉ là một xã hội thu hẹp. Nó nhỏ bé nên nó sinh động vô cùng. Nó gần gũi nên nó lột trần muôn mặt. Nó đầy rẫy ti tiện bẩn thỉu. Nó cao thượng và nó thấp hèn. Nó phản phúc đáy tim và nó sắt son đầu lưỡi. Nó đố kỵ ban đêm và nó hòa hoãn ban ngày. Nó anh hùng trong bóng tối và nó khiếp nhược ngoài ánh sáng. Nó tạo dựng ngộ nhận, vu khống, chup mũ và hành hạ lẫn nhau, bởi quan điểm cũ kỷ, bởi lập trường sắt máu, bởi sự ngu xuẩn, bởi máu lãnh tụ và bởi cả một điếu thuốc lào, một cục đường hay một miếng thịt chia chẳng đồng đều! Nhà tù không dạy con người một bài học cao quý nào cả. Con người đã tự học ở sự tủi nhục, ở nơi cay đắng trong nhà tù. Để biết chịu đựng. Để biết coi thường tất cả. Để biết thương xót. 

Không ai thích vào tủ, dù chết trong tù sẽ thành liệt sĩ hoặc ra khỏi tù sẽ thành dũng sĩ. Sát nhân cũng sợ tù. Vĩ nhân cũng sợ tù. Đại đức cũng sợ tù. Linh mục cũng sợ tù. Các nhà cách mạng càng sợ tù hơn. Bởi thế, nguc tù không bao giờ là thành tích vĩ đại để khi thoát khỏi nó, người ta vỗ ngực khoe khoang, người ta quảng cáo nó như một món hàng thương mại, người ta xử dụng nó như một phương tiện bước vào chính trường. Như những người thật thà với chính mình, tôi rất sợ hại tù đầy. Tôi ở lại Việt Nam vì vụng về trong mưu toan chạy trốn. Tôi không bao giờ ở lại để làm chứng nhận lịch sử cả. Công việc phi thường nầy dành cho người khác. Tôi ở lại và tôi bị bắt bỏ tù. Tôi thành ở tù. Khi được thả về, nghĩa là khi biết mình chưa chết, tôi mới dám nghĩ tới những năm tù đầy bất hạnh của tôi là hạnh phúc cho riêng tôi, cho những cuốn tiểu thuyết tôi sẽ viết mai nầy. Tôi xin nhắc lại: Tôi không có ý định viết hồi ký về những năm tù đầy của tôi khi tôi trở lại đời sống bình thường. Nhưng tại sao tôi lại viết?

Tháng 10 năm 1983, tôi đến Paris như một thuyền nhân buồn bã. Bạn bè tôi, những người đã cứu tôi thoát khỏi ngục tù cộng sản, hay tin tôi đã có mặt tại Pháp, tới thăm tôi, chia nỗi vui mừng với tôi. Tất cả đều hỏi tôi về đề lao Gia Đình, về Sở Công An, về khám Chí Hòa, về các trại tập trung và những hình phạt mà những tù nhân phải chịu đựng năm nầy qua năm khác, và suốt một kiếp người. Họ hỏi tôi về những người trí thức Việt Nam vì đấu tranh cho nhân quyền mà bị lưu đầy, phát vãng. Họ hỏi tôi về các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, những tù nhân tư tưởng của thời đại khốn kiếp của chúng ta. Tôi bỗng thấy tôi có bốn phận viết hồi ký. Hồi ký của tôi sẽ không phải chỉ là bản báo cáo nỗi khổ lê thê và riêng rẽ về số phận văn nghệ sĩ, trí thức. Cũng không phải là những trang ngục sử ca ngợi các vị anh hùng không bao giờ có ở nhà tù cộng sản. Tôi có tham vọng, trong hồi ký của tôi, diễn tả cái thủ thuật gian ác và hèn mọn của chủ nghĩa cộng sản là triệt để khai thác sự yếu đuối của con người, đe dọa, khủng bố để con người khiếp nhược, đánh vào dạ dày con người bằng roi gạo để con người đê tiện và tạo mâu thuẫn để con người thù hằn con người. Những con người, con người tù nhân Việt Nam, đã chết, sắp chết hay sẽ chết vẫn tồn tại với định nghĩa làm người rực rỡ. Trong thống khổ và cô đơn.

Hồi ký của tôi gồm 2 cuốn. Cuốn thứ nhất mang tên NHÀ TÙ. Cuốn thứ hai mang tên TRẠI TẬP TRUNG. Như đã trình bày, nhà tù là một xã hội thu hẹp, nó gần gũi nên nó tự lột trần muôn mặt. Tôi có gắng ghi chép thật trung thực cái muôn mặt đỏ.
 Montreuil, tháng Giêng, 1984.

Duyên Anh


Yêu thương tặng Nguyễn Ngọc Phương, nhà tôi, người đã tốn nhiều nước mắt nuôi chồng tù



Duyên Anh

PHẦN THỨ NHẤT

CAY ĐẮNG VỠ LÒNG
(SỞ CÔNG AN)

CHƯƠNG 1.

- Anh là Vũ Mộng Long?

- Phải.

- Anh là nhà văn Duyên Anh?

- Phải.

- Kể từ giây phút này, chúng tôi bắt anh.

Người mật vụ của phòng Bảo Vệ Chính Trị thuộc Sở Công An thành phố Hồ Chí Minh bảo tôi đưa hai tay ra phía trước. Anh ta còng tay tôi lại. Bằng chiếc còng số 8, chế tạo tại USA. Người mật vụ, một sinh viên nằm vùng, nhìn tôi mỉm cười tự mãn. Bỗng anh ta quát tháo:

- Anh đứng dậy!
Tôi đứng dậy.
- Đứng nghiêm.
Tôi đứng thẳng. Hai tay không duỗi xuống được nên đành phải đặt cả còng lẫn tay trước hạ bộ cho nó nghiêm túc đúng nghĩa.
- Anh nghe tôi đọc Quyết định.
Tôi nghe.
- Việt Nam Dân Chú Cộng Hòa, Độc lập, Tự do, Hạnh phúc …

Người mật vụ gấp tờ Quyết định, nôm na gọi là lệnh bắt người, bỏ vào túi và hỏi tôi:

- Anh hiểu rõ rồi chứ?
- Hiểu.

Nhà nước Việt Nam Dân Chú Cộng Hòa và đảng Công Sản đã quyết định bắt tôi với lý do “phần tử nguy hại cho an ninh của tổ quốc.” Lúc ấy là 5 giờ chiều ngày 8 tháng 4 năm 1976. Trước đó nửa tiếng đồng hồ, tôi đang bầm thịt, nấu cháo nuôi vợ ốm, ông Tổ trưởng dân phố của tôi dẫn ông Phường trường và công an phường đến thăm gia đình tôi, hỏi chuyện sinh hoạt phường khóm và nếp sống mới. Tôi bỏ nồi cháo dưới bếp để tiếp chính quyền. Chừng mười phút, một ông công an cáo lỗi ra về. Mười phút sau, mật vụ ập vào nhà tôi, súng ngắn súng dài đầy đủ. Cộng sản luôn luôn chơi chắc ăn. Họ giả vờ thăm viếng tôi. Khi biết đích xác tôi có mặt ở nhà, họ mới đến bắt.

Cảnh tượng gia đình tôi, bấy giờ, thật bi thảm. Vợ tôi đang đau nặng, vụt tỉnh, tung mền chạy ra phòng khách. Tôi nhìn cái còng nhãn hiệu Mỹ do cộng sản xiết dính trên tay mình, nhìn vợ mặt mày tái mét, nhìn ba đứa con tôi ngơ ngác, nước mắt chảy ròng ròng. Cùng với mùi tanh tưởi của chủ nghĩa hèn mọn, tôi ngửi được mũi dầu cù là mà vợ tôi không ngừng xoa lên trán, lên mũi, lên cổ để khỏi ngất xỉu trong nghịch cảnh. Lần đầu tiên vợ tôi biết phấn đấu. Lần đầu tiên những sợi dây thần kinh của vợ tôi căng thằng tốt độ. Mật vụ lăng xăng, quan trọng như thể họ sắp đem tôi ra bãi bắn. Tôi thấy yên tâm từ giây phút mật vụ còng tay tôi. Tôi đã đoán đúng số phận của tôi. Tôi không thể trốn qua chiến dịch truy lùng rồi phơi phới vượt biên vì không có bạn tốt là Xuân Thiêm, chủ bút nhật báo Quân Đội Nhân Dân, bộ hạ của tướng Song Hào, che chở, đùm bọc, thương hại! Tôi không thể trốn vì tôi có vợ con và tôi yêu vợ con tôi, không nỡ để vợ con tôi liên lụy. Tôi đợi công an đến bắt tôi sau khi hay tin họ đã bắt Nguyễn Mạnh Côn, Trịnh Viết Thành, Doãn Quốc Sĩ … Tôi nói với người đọc quyết định bắt tôi:

- Xin anh đừng làm vợ con tôi hoảng sợ. Tôi đã chuẩn bị vào tù.
- Anh biết anh sẽ bị bắt?
- Phải.
- Ai cung cấp tin tức cho anh?
- Từ mồng 2, các bạn tôi đã lần lượt bị bắt và tôi đã sửa soạn hành lý ra đi.
- Đi đâu?
- Vào tù.

Người mật vụ nhún vai. Tôi không bao giờ quên cái nhún vai của anh ta, cái nhún vài kiêu ngạo, xấc xược của kẻ theo đóm an tàn, của kẻ nắm vùng trúng mối. Bảy năm sau, có dịp gặp lại người đã còng tay mình, đã mỉm cười tự mãn, đã nhún vai xấc xược, trong một quán cà phê nghèo nàn, anh ta bắt tay tôi, xưng “em” ngot sớt và hỏi tôi định làm gì khi đã mãn hạn tù. Tôi nói tôi đã “sửa soạn hành lý ra đi”. “Đi đâu,” anh ta tò mò. Thản nhiên, tôi đáp: ”Vào tù nữa, đời sống của bọn nhà văn phản động luôn luôn bất ổn ở chế độ ta.” Anh ta không còn nhún vai nữa. Mà thở dài. “Em dạo nầy buôn bán thuốc tây chợ trời như các nhà yêu nước khác, các trí thức yêu nước, sinh viên yêu nước. Thưa anh, anh biết chưa, sinh viên tranh đấu Phạm Hào Quang đang làm nghề mua bán ve chai. Còn giáo sư chống Mỹ cứu nước Trần Tuấn Nhậm thì chết rồi, chết không một nấm mồ.” Tôi đã định nhún vai một cái. Thấy tội nghiệp quá, lại thôi. Nhưng lúc anh ta nhún vai, anh ta không tội nghiệp ai cả. Con sói non vừa độ ngấm thuốc ngu, nó hung hắng chỉ muốn móc một người chân chính. Anh ta ra lịnh cho đồng bọn lúc lạo khắp nhà tôi, khám xét tận tình từng cái ngăn kéo. Giấy tờ, bản thảo, thư từ, ảnh kỷ niệm, nhất nhất đều bị soi kính mật vụ. Anh ta cầm cuốn Lửa Rừng của Vũ Hạnh, lẩm nhẩm câu Kính tặng nhà văn Duyên Anh. Tác giả rất trân trọng. Rồi anh ta xe phăng trang sách mang chữ ký và thủ bút của đồng chí nằm vùng lớn của anh ta. Anh ta xếp nhỏ, nhét vô túi quần.

Lục lạo, bới tung, quăng bừa bãi, hạch hỏi đến 10 giờ tối, mật vụ tịch thu toàn bộ tác phẩm ấn bản đặc biệt đóng bìa da, gáy mạ chữ vàng của tôi. Tôi thở phào. Vì đồ “tế nhuyễn” của vợ tôi, mật vụ không tìm ra chỗ dấu. Tôi chợt nhớ Nguyễn Du tả cái đám côn quang vào nhà Vương ông. Bọn ăn cướp thời đại nào cũng thế. Bọn ăn cướp có chủ nghĩa hậu thuẫn còn ghê tởm hơn. Cái đám côn quang của chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, buồn thay, rặt một lũ sinh viên, trí thức Sàigòn nằm vùng mà trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, người ta quen gọi chúng là bọn “ăn cơm quốc gia, thờ mà cộng sản.” Chúng tuân lệnh đến bắt tôi, bắt một người cầm bút chẳng quốc gia, chẳng cộng sản, một người “cộng sản không tha, quốc gia không dung” như tôi hằng xác định thái độ từ khi tôi cầm bút. (Xin hiểu quốc gia tôi dùng ở đây là quốc gia giả hiểu từ sau 1-11-1963, thứ quốc gia đốn mạt với những cơ cấu vá víu và những hạng người điều hành tham lam. Bởi các chế độ Saigòn đã làm mang tiếng quốc gia, thiết tưởng những người Việt Nam chân chính đã chiến đấu bảo vệ tổ quốc mấy chục năm ròng rã và đang tiếp tục chiến đấu giải thoát tổ quốc khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa cộng sản hãy tạm quênquốc gia. Còn nhân danh quốc gia là còn bị ngộ nhận chiến đấu để phục hồi dĩ vắng, vì không bao giờ phục hồi nổi dĩ vãng, hiểu theo bất cứ lối suy diễn nào.) Trong khi chờ đợi đồng chí chan nước màu lên bát bún riêu chủ nghĩa, tức là làm biên bản khám xét nhà, bắt người, tịch thu đồ đạc, người sinh viên nằm vùng hỏi tôi, giọng đã bớt sắt máu:

- Anh ăn cơm chưa?
- Chưa.
- Anh được phép ăn uống một chút gì đấy.

Vợ tôi vẫn ngồi xoa dầu cù là và nhìn mật vụ lập biên bản. Con gái tôi pha cho tôi ly sữa đá. Con trai lớn của tôi mua cho tôi khúc bánh mì. Tôi đưa hai tay còng cầm khúc bánh mì. Ăn không vô. Tôi buông khúc bánh xuống sàn nhà. Lai nâng ly sữa uống. Uống không vô. Tôi nhìn thằng con trai đầu lòng của tôi. Nó đã thôi khóc. Mắt nó mở trừng trừng. Tôi nghĩ nó muốn chup cảnh tượng này vào trí óc của nó. Bất chợt, nó vùng chân đạp từng cái ghế ở bàn ăn. Mật vụ giật mình, khó chịu:

- Tao sao cháu đạp ghế?
- Ghế của nhà tôi, tôi có quyền đạp.
Mật vụ lặng thinh. Chẳng lẽ đọc thêm quyết định bắt đứa bé 13 tuổi. Tôi phục thằng con tôi quá. Những đứa trẻ không muốn lớn của tôi, những Dzũng Dakao, Chương Còm, Bồn lừa, Danh ná … đã muốn lớn. Và đã lớn trong kinh qua của lịch sử buồn thiu. Hình như, nhiều người lớn thì lại … con nít đi!

Đúng 11 giờ, biên bản lập xong. Mật vụ đọc cho vợ tôi nghe. Vợ tôi đọc lại và chỉ bằng lòng ký tên nếu mật vụ trả lại tấm ảnh chụp cả lớp mỗi cuối năm của các con tôi và mấy cuốn Lucky Luke vô tội. Mật vụ nhả ảnh nhưng ôm 2 cuốn Billy the Kid và En remontant le Mississippi theo. Lucky Luke cũng can tội … nhân vật phản động. Như John Wayne, tài tử phản động, vì đóng phim Mũ nồi xanh. Bỗng dưng, vợ tôi nổi máu phản kháng vi Lucky Luke. Lúc ấy, tôi không hiểu và lúc này tôi không thích hỏi lại vợ tôi.

1 giờ 30, mật vụ mở cửa chiếc xe du lịch Toyota màu trắng đậu sẵn trong sân nhà tôi, dục tôi bước vào. Vợ tôi, vừa ra khỏi cửa là ngất xỉu, khụy ngã. Hai đứa con nhỏ của tôi quỳ xuống ôm lấy mẹ khóc nức nở. Tôi ngoái lại, đưa hai tay dính còng USA vẫy vẫy từ biệt con tôi. Chúng nhìn theo, đầm đìa nước mắt. Thằng con lớn đứng chờ ngoài cổng. Nó ghé sát cửa kính, khích lệ tôi:

- Bố giữ gìn sức khỏe!

Tôi dơ cao tay còng, từ giã con tôi. Kể từ đó, tôi xa gia đình. Đường khuya phố vắng, chiếc Toyota chay vun vút. Tôi nghĩ đến nồi cháo chưa kịp bỏ thịt đã cháy khét trên bếp. Tôi nghĩ đến những tiếng nghẹn ngào khi vợ tôi tỉnh dậy. Tôi nghĩ đến ngày mai của các con tôi. Tôi nghĩ tới bãi chiến trường ở gia đình tôi sau thời gian địch rút lui. Chúng để lại gì nhỉ? Trước hết, đôi mắt chim khuyên của con tôi đã biến thành diều hâu dữ tợn. Đó là niềm chua sót vĩnh cửu. Con tôi biết hận thù quá sớm. Anh đừng đặt câu hỏi tại sao cộng sản đàn áp nhà văn nhà thơ bạo thế. Anh đừng đặt bất cứ một câu hỏi nào về chúng tôi, hay, ít nhất, về tôi. Rằng, tại sao, tôi không tư bản, không Thiên Chúa, không làm tay sai cho một thế lực chính trị nào – nói theo danh từ cộng sản, tôi không là đầy tớ Mỹ, không Ngụy – tôi dân tộc thuần túy, tôi Việt Nam thuần túy, tôi con người thuần túy, tôi hoàn toàn độc lập, tự do tư tưởng mà tôi vẫn bị cộng sản còng tay dẫn đi như một tội đồ ghê gớm. Anh chỉ nên xét lại bản thân anh rồi nhìn thật rõ mọi hành động của cộng sản ở khắp nơi trên trái đất. Và anh sẽ may mắn hơn tôi, hơn chúng tôi, hơn dân tộc tôi, nếu anh biết thầm thì hỏi chinh bản thân anh: Bao giờ đến lượt mình bị cộng sản còng tay lại?

Bây giờ, tôi nghĩ về tôi. Một nhà văn xuất thân là con nhà nghèo, tổ tiên cần cù lao động, không địa chủ bóc lột, không cường hào ác bà nên không phải là kẻ thù của giai cấp vô sản; thất học từ thời thơ ấu, không bị ảnh hưởng văn minh văn hóa tư bản, phong kiến nên không được xếp vào thành phân trí thức; không tôn giáo, đảng phải, nên không phải là kẻ thù của quyền bính; không ca ngợi dục tình nên không bị liệt vào hàng đồi trụy; y viết văn ca ngợi tuổi thơ, quê hương, những người công chính và những điều công chính; y yêu hòa bình và thù ghét chiến tranh; y ca ngợi tình người và mơ ước làm kẻ viết thông điệp cho cảm thông, gần gũi và thương yêu. Chỉ có thế. Y đã bị tịch thu toàn bộ tác phẩm, bị cấm tàng trữ chính tác phẩm của y, bị cấm hành nghề công khai, khí giới của y chỉ là chủ nghĩa; vậy mà đảng cộng sản bách chiến bách thắng phải vận dụng một bầy mật vụ võ trang súng ngắn súng dài, còng tay y lại rồi mới dám đọc quyết định bắt ý bỏ tù thì y rất xứng đáng hãnh diện.

Nhà văn, anh đã chấp cộng sản không những hai tay mà còn cả hai chân nữa. Họ sợ hãi anh, sợ hãi ảnh hưởng tư tưởng của anh, nên mới phải bắt anh. Họ bắt anh, nhốt anh vào sà lim, còng tay còng chân anh lại rồi mới dám tiêu diệt ảnh hưởng anh trên sách báo, vô tuyến truyền thanh, vô tuyến truyền hình của họ. Chưa đủ, anh đã chấp họ hai tay, hai chân mà họ vẫn chưa dám một mình đánh anh. Họ phải kêu gào quần chúng làm hậu thuẫn của họ; bắt quần chúng học tập để thù ghét anh rồi mới đánh anh. Đó là chiêu thức bẩn và hèn của Nhạc Bất Quần cộng sản. Ở Việt Nam, ở Liên Xô và ở bất cứ hang hốc nào có cộng sản. Và, hèn hơn, họ phải giết người hiền lành khác để tạo lý do rất “lô-gích” – xin lỗi, cộng sản Việt Nam cứ mở miệng là lô-gích – mà bắt anh.

Lý do rất “lô-gích” của họ để bắt chúng tôi là cái mà họ gọi là “vụ án hồ con rùa.”

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, xe tăng cộng sản nghiến lên những con đường RMK mở rộng, trải nhựa láng nhẵn, phẳng phiu. Đá và nhựa không biết đau đớn. Như chính sách của nước Mỹ ở Việt Nam. Như trò chơi chiến tranh của họ. Họ chơi chiến tranh ở nước tôi. Đủ kiểu. Có một kiểu quái đản nhất là kiểu chơi “không được phép chiến thắng.” Người Mỹ lớnkhông được phép chiến thắng nhưng người Mỹ bé được phép chết – chết khổ đến nỗi mãi hôm nay gia đình của họ vẫn chưa thấy tổ quốc tri ân một lóng xương vì cộng sản dấu kỹ để mua bán, đổi chác – và người Việt Nam được phép hy sinh xương máu, được phép thua cuộc, được phép tù đầy, được phép nhịn đói, được phép nhìn nhận 30-4 là ngày Quốc Hận! Đất nước còm cõi của tôi sao mà nhiều ngày quốc hận thế. Vừa mới quốc hận 20-7, đã có quốc hận 30-4. Lấp sống Bến Hài chán chê (bằng mồm, dĩ nhiên) lại đang hì hục đập xa lộ xuyên Thái Bình Dương để phát lời thể trở về ngồi trên “công viên ghế đá”, ngắm “hàng me già” và gặp lại “người em gái năm xưa”! Đá và nhựa không biết đau đớn. Vì nó không có trái tim. Và chúng tôi biết đau đớn.

Niềm đau đớn riêng biệt của chúng tôi (có lẽ, là niềm đau đớn chung của tất cả vì nó là biểu tượng không dính dáng gì tới Mỹ, Ngụy, là cái đẹp đẽ của hai mươi năm miền Nam tự do tương đối), là thấy tác phẩm của chúng tôi nằm ngơ ngác trên các vỉa hè Sàigòn thất thủ. Văn học nghệ thuật miền Nam bán xon tập thể, đồng giá, mỏng 10 đồng, dày 30 đồng (tiền chế độ cũ). Văn học nghệ thuật miền Nằm buồn tủi, lẫn lộn với dép râu, dưới ống kính ngạo báng xấc láo của bọn quay phim Hà Nội. Tôi không hiểu tại sao các nhà xuất bản còn cố vơ vét chút tiền còm khi họ đã biết chắc chắn gia sản kếch xù của họ sắp tiêu ma và, thân thế họ sắp lận đận. Lê Xuyên, tác giả Chú Tư Cầu, dạo xem cảnh hoàng hôn chủ nghĩa miền Nam đã phát biểu một cậu chua xót: “Tôi đi xem người ta chôn tôi!” Người ta đã chôn những đứa con tinh thần của chúng tôi, người ta đã nhục mạ chúng tôi. Chưa đủ, Trần Bạch Đằng, “thi sĩ” cộng sản có bút hiệu Hưởng Triều, thét lên điệu ca “phanh thây uống màu quân thù”: Bọn văn nghệ miền Nam không còn đất sống dưới ánh mặt trời nữa! Tiếng thét của nghệ nhân rèn mã tấu Trần Bạch Đằng, có thể, đã làm một số người hoảng sợ. Nên Tố Hữu vội vàng ra lệnh cho Chế Lan Viên vào Sàigòn bằng “bài thơ bố xung” trong buổi họp đầu tiên của Văn Nghệ Giải Phóng tai trụ sở đường Trương Minh Giảng (sau nầy đổi thành Nguyễn văn Trỗi). Buổi họp ấy, người ta mời Bình Nguyên Lộc. Anh đã cáo ốm không đi. Chỉ có Sơn Nam phó hội với tư cách đảng viên cũ bị … mất liên lạc từ lâu và ông nhà văn Kẻ Tà Giáo, giáo sư triết hoc, với tư cách em vợ Trần Bạch Đằng! Chế Lan Viên múa gậy vườn hoang, biểu diễn thêm "Bổ xung bài thơ bổ xung.”

Nhục mạ và đe dọa và trấn an rồi người ta phát động chiến dịch tận diệt văn hóa phản động, đồi trụy. Lớp lớp xuống đường, giăng khẩu hiệu, hò hét, hùng hổ tiến về các vỉa hè tịch thu sách báo cũ, từ điển cũ, sách giáo khoa cũ …; tiến vào nhà sách, các nhà cho thuê truyện, càn quét “tàn dư của Mỹ Ngụy.” Người ta không đốt đâu. Không có phần thư 1975. Người ta chia nhau đem về Hà Nội. Người ta giữ làm của quý. Người ta xé mỏng, cho mượn. Người ta nhân danh chủ nghĩa ưu việt để ăn cướp văn chương miền Nam một cách dơ dáy. Văn học nghệ thuật Sàigòn đã vượt Trường Sơn ra Hà Nội. Nó lấn át văn học nghệ thuật khô cằn, văn học nghệ thuật đường một chiều, văn học nghệ thuật rèn mã tàu, nhồi thuốc súng của Hà Nội. Nó làm quên lảng “nhà thơ lớn nhat” Hồ Chí Minh. Nó hạ thấp “nhà thơ lớn nhì” Tố Hữu. Nó phơi phới. Nó là trận mưa mong ước của đại hạn miền Bắc. Nó vùng vẫy. Nó tung hoành. Nó thật sự chiến đấu. Súng đạn đã vất bỏ. Tướng tá đã phi tang tích chiến bào. Chữ nghĩa còn lại. Nhà văn vẫn nghênh ngang. Văn học nghệ thuật Sàigòn xô bồ lắm. Đồng ý. Nhưng nó tác dụng thật mạnh với những kẻ chiếm đóng Sàigòn. Cuốn lịch Tam Tông Miếu vẫn sừng sững. Nghệ thuật bói bài đã là mới lạ, thèm khát. Kể chi đến tư tưởng nhân bản và hành văn bay bổng của văn chương Sàigòn.

Hà Nội tuyệt đường tiểu thuyết. Tiểu thuyết vẽ một chân trời mơ ước, mở một xã hội không giống xã hội hiện hữu. Và thế hệ phản kháng ở xã hội chủ nghĩa. Là phản động. Là đi tù. Hà Nội đọc tiểu thuyết Saigòn, chìm trong xã hội tiểu thuyết. Mê say. Mơ mộng cái gì khác hơn cái đã mòn teo ba mươi năm. Tiểu thuyết Sàigòn có những nhân vật thần tượng. Không phải Nixon, Brejnev, Hồ Chí Minh. Chỉ là người bình thường. Là Trần Đại. Là Chú Tư Cầu. Là Dzũng Dakao … Vậy mà Đảng đã điên lên. Phòng Triển Lãm Tội Ác Mỹ Ngụy mở ra. Bên ngoài là máy chém, bom CBU. Bên trong là Phạm Duy, Doãn Quốc Sỹ, Duyên Anh, Dương Nghiễm Mậu, Nhất Hạnh. Thằng Vũ mang tội ác. Bồn lừa mang tội ác. Người “đàng ngoài” vô, ngươi “bưng biền” ra, thấy những tên sách triển lãm ở Phòng Triển Lãm Tội Ác Mỹ Ngụy, tò mò đi tìm kiếm. Rồi đọc. Rồi mê. Và quên Đảng, quên Bác. Quà quý của Sàigòn là sách, truyện phản động mua lén. Đảng ra thông cao tháng 9, 1975, cấm phổ biến, lưu hành, tàng trữ toàn bộ tác phẩm của ngót 50 nhà văn phản động và đồi trụy. Thông báo học tập ở các trường, các cơ quan nhà nước, phường, khóm, phụ nữ, nhi đồng … Thông cáo đọc liên chi hồ điệp trên vô tuyến truyền hình, truyền thanh. Các nhà văn tiếng tăm của Sàigòn biến thành nhân viên CIA hết. Dĩ nhiên, có vài ông thoát cảnh bêu nhục vì đã dày công đức nuôi ông Vũ Hạnh ở trụ sở và ông Thái Bạch ở tòa soạn. Đảng càng chửi bới sách báo phản động, sách báo phản động lại càng sáng giá, lên giá vùng vụt. Sách báo Hà Nội đem vào chả ai thèm đọc, thèm mua. “Dưới ngọn cờ quang vinh của Đảng” không hấp dẫn bằng “cậu Chó”. Đang lại điên nữa. Báo Đảng bắt đầu “đặt vấn đề nghiêm túc” và đòi “có thái độ với bọn nhà văn phản động miền Nam.” Tháng 6, sĩ quan (các nhà văn quân đội, kể luôn) và viên chức chế độ cũ đã đi trình diễn học tập hết. Mặt trận súng đạn hoàn toàn yên lặng. Mặt trận chữ nghĩa khởi sự ồn ào.

Từ 30-4-1975 đến 2-4-1976, cộng sản dành một thời gian khá dài để tiêu diệt ảnh hưởng của các nhà văn Sàigòn, đồng thời, chờ đợi nơi họ một thái độ mới thích nghi với chế độ mới. Cộng sản đã thất vọng. Những người có tiếng tăm, đa số, không thích khước bỏ vinh quang cũ của họ. Họ im lặng. Chỉ còn bọn cầm bút vớ vẩn, khờ khạo là lăng xăng trong trụ sở Hội Văn Nghệ Giải Phóng để mưu cầu công danh, hi vọng chiếm địa vị của đàn anh đã bị khu trừ khỏi sinh hoạt văn nghệ. Người ta thấy vô số những khuôn mặt “bốn sáu” trên tuần báo Văn Nghệ Giải Phóng, trên giai phẩm Xuân Tin Sáng với những câu trả lời “phỏng vấn” cộng sản hơn cả cộng sản. Người ta đọc những bài thơ, những truyện ngắn của “nhà văn Sàigòn phản tỉnh”! Có cần thiết phải nêu tên họ ra không nhỉ? Với tôi thì không, mặc dù, trong đám họ, có kẻ vẫn tiêu bạc giả ở Mỹ, ở Pháp, sau khi cộng tác với cộng sản chán chê đến chán chường, họ đã trốn khỏi Sàigòn. Đảng chờ đợi nhà văn, nhà thơ Sàigòn đến. Mà nhà văn, nhà thơ Sàigòn thì cứ lơ lơ láo láo đi giữa đời sống mới, bất chấp mọi sự. Bọn này không sĩ quan, không viên chức chế độ cũ, không đảng phải, không tư sản mại bản, không tình báo nên không thể bắt chúng nó đóng 10 ngàn đồng đi trình diện học tập được. Phải tìm cách bắt chúng nó, phải chụp lên đầu chúng nó một cái tội thật …”lô-gích”, không phải là tội nhà văn. Trần Bạch Đằng thảo kế hoạch.

Buổi tối 1 tháng 4 năm 1976, cộng sản gài mìn và cho nổ tung con rùa đồng đen dưới chân đài kỷ niệm các nước đồng mình viện trợ Việt Nam ở công trường Duy Tân (trước viện đại học Sàigòn). Tiếng nổ khá lớn. Tôi nghe rõ. Sáng hôm sau, đọc báo Tin Sáng, thấy tường thuật đầy đủ chi tiết vụ “phá hoại” của bọn công an và bộ đội vô sự. Thủ phạm bị bắt ngay tại phạm trường. Không đăng hình tên sát nhân. Chỉ đăng hình người chết để gây xúc động trong quần chúng. 12 tiếng đồng hồ sau vụ nổ, các nhà trí thức Thiên Chúa giáo, Phật giáo, các nhà văn, nhà báo lần lượt bị bắt. Chiến dịch bắt văn nghệ sĩ, trí thức kéo dài từ 2-4 đến 8-4. Và ngừng lại. Mãi đến 28-4, mới bắt thêm vài người thuộc thành phần phát hành sách báo. Có thêm nhà thơ Thái Thủy và ông bố vợ Mặc Thu. Dư luận trong và ngoài nước rất xôn xao về chiến dịch này. Nhưng không một ai hiểu cái kế hoạch bắt nhà văn của đảng cộng sản quang vinh, bách chiến, bách thắng. Mãi đến giữa năm 1982, nghĩa là 6 năm sau vụ nổ, Huỳnh Bá Thành, tên mật vụ của phòng Bảo Vệ Chính Trị, tên tình báo nằm vùng trong tòa soạn nhật báo Điện Tín của nghị sĩ Hồng Sơn Đông, dưới bút hiệu Ớt vẽ hí hoạ, viết lại Vụ án hộ con rùa (nhà xuất bản Tuổi Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh 1982) độc giả Sàigòn mới sững sờ, bán tin, bán nghi.

Trong Vụ án hồ còn rùa, bỏ qua thứ văn chương hạng bét và thứ kiến thức giầy dép của Huỳnh Bá Thành, cộng sản khẳng định chúng tôi là tay sai của CIA gài lại. Căn nhà số 104 đường Công Lý (sau này đối thành Nam Kỳ Khởi Nghĩa) của vợ chồng Đằng Giao là trụ sở lui tới họp bàn của chúng tôi. Bút hiệu của chúng tôi được nhai nhái hơi hơi giống nhau. Đằng Giao là Đỗ Gia. Chi Thị Thủy là Chu Nữ. Vợ chồng Nhã Ca, Trần Dạ Từ là Lệ Dạ, Thu Dung. Nguyễn Mạnh Côn là Nguyễn Côn. Tôi là Vũ Long … Cộng sản đề cao Hoàng Hà Đặng (tên thật là Đặng Hoàng Hà) như một lãnh tụ ghê gớm, ngang cơ với Hồ Chí Minh thuở hoạt động bí mật. Thật ra, Đặng Hoàng Hà chỉ là anh phóng viên tài tử, con người hiền lành, chưa từng biết tình bảo là cái gì. Đưa chúng tôi lên mây, trao mìn vào tay chúng tôi, chờ chúng tôi thảo luận chiến lược(!) với các đại cố vấn Mỹ trước 1975, rồi khi tóm được chúng tôi thì mô tả chúng tôi là những thằng “ăn mày,” những thằng “đói thuốc phiện thất thểu” vào tù đền tội, và “xưng em” với nữ công an ngọt xớt! Sẽ có dịp và ở nơi khác, tôi nói nhiều về cuốnVụ án hồ con rùa. Ở đây, tôi chỉ muốn diễn tả cái lý do bẩn thỉu và hèn mọn của cộng sản đã tạo ra để bắt chúng tôi. Cộng sản không bao giờ đàn áp, bắt bớ các nhà văn, cộng sản luôn luôn quí trọng con người và tài năng con người. Cộng sản chị bắt bọn gài min sát hại lương dân, dù chúng nó là nhà văn! Đó, bạn đã hiểu lòng dạ cộng sản chưa? Rồi đến lượt bạn, với tội bẩn hơn, hiếp dâm chẳng hạn, dẫu bạn đã thực hiện Vietnam, A Television History hay dẫu bạn đã ngồi ghế chánh án xứ tử tên tội đồ chiến tranh đế quốc Mỹ trong cái gọi là tòa án hòa bình cà chớn của bạn.

Chiếc xe Toyota dẫn tôi đến Sở Công An thành phố Hồ Chí Minh. Tưởng cũng nên nói sơ quá về cái địa chỉ không cần biết số nhà này. Trước nữa thì tôi không biết, nhưng trước ngày anh em ông Ngô Đình Diệm làm “cách mạng tháng 10” – lại cách mạng tháng 10 – (Đất nước tôi nhiều cách mạng mới lắm quốc hận!) Địa chỉ này chỉ là nơi chốn của công an Bình Xuyên, sào huyệt của trang chúa Bảy Viễn, chuyên viên chứa thổ đồ hồ quốc doanh. Nơi chốn của công an là gì? Là giam cầm, tra tấn, xiềng xích và chết chóc. Nhà cách mạng Ngô Đình Diệm dẹp xong sứ quân thổ phỉ Bình Xuyên, vẫn để nguyên sào huyệt của trang chúa Bảy Viễn, cải danh thành Nha Giám Đốc Cảnh Sát Đô Thành. Quí vị tướng lãnh thoái nghịch làm “cách mạng tháng 11” không thay đổi gì về cái “Nha” nhiều nha dịch, nha lại quái ác này cả. Đến triều đại vẻ vang Nguyễn văn Thiệu, “Nha” vẫn là “Nha” với bom đạn, chiến thuật, chiến lược, người Mỹ cũng còn cố vấn cả cách bắt bớ, thẩm cung những kẻ đối lập ông Thiệu và cộng sản, và viện trợ còng, khóa, nhà giam. Nha Giám Đốc Cảnh Sát Đô Thành trở thành một trụ sở lý tưởng của bá đạo. Cộng sản tiếp thu “Nha”, cải danh xuống hạng “Sở”. Dụng cụ công an để nguyên, không hề vác ra triển lãm tại phòng Triển Lãm Tội Ác Mỹ Ngụy. Với châm ngôn Mác-xít, Lê-nin-nít, Hồ Chí Minh hít “bắt oan hơn tha lầm’, Sở Công An của thành phố mang tên Bác đã nhốt người vượt chỉ tiêu Mỹ Ngụy. Do đó, các kho chứa đồ phế thải của Sở cũng đươc dọn dẹp để giam người.

Bạn vừa nghe tôi kể vài nét đan thanh của lịch sử một nhà lao bình dân ở đất nước tôi. Nó tiêu biểu cho thân phận một nước nhỏ, phải không bạn? Tôi muốn gọi nó là một địa chỉ chung của chủ nghĩa. Các thứ chủ nghĩa đã đến nước tôi. Chả có gì để lại, ngoài nhà tù. Chả có gì để nhớ, ngoài nhà tù. Nỗi đau đớn của thời đại chúng ta là, khi cộng sản đến một nơi nào người Mỹ cuốn gói, thì y rằng, nhà tù mọc thêm và cộng sản chỉ xử dụng công cụ người Mỹ để lại. Ban suy nghĩ gì không? Riêng tôi, tôi nghĩ rằng, vì quê hương tôi có một địa chỉ chung của các chủ nghĩa nên chúng tôi có nô lệ, đói rách, ngu dốt, chiến tranh, chết chóc, thù hận, ngục tù và rồi mất quê hương.

Tôi đã tới một địa chỉ chung của chủ nghĩa. Quá nhiều sang nhượng, địa chỉ này mang tên Sở Công An, sau khi đã là Công An Nội Chính. Lần đầu tiên, tôi tới đây. Người ta lái xe vào phía sau căn nhà lớn, dừng lại, mở cửa và bảo tôi xuống. Rồi người ta dẫn tôi đến một phòng nhỏ, ánh sáng mờ mờ. Bảo tôi ngồi trên ghế dài, người ta cho phép tôi hút thuốc lá. Nhiệm vụ của những tên sinh viên nằm vùng chấm dứt. Từ lúc này, tôi chỉ còn gặp những khuôn mặt công an chuyên nghiệp. Một người, giọng miền Bắc thuần túy, mở cổng cho tôi và nói:

- Họ khóa anh lâu chưa?

- Hơn 6 tiếng, tôi đáp.

- Bậy quá. Nhà nước mời các anh đi nghỉ ngơi ít bữa chứ đâu có bắt bớ giam cầm các anh. Hiện tượng, hiện tượng, luôn luôn là hiện tượng. Hiện tượng không bao giờ là bản chất. Chính sách đúng mà thi hành sai. Anh đừng buồn nhé!

Tôi nín thinh. Người này mỉm cười, nói tiếp:

- Thú thật, chúng tôi sợ các anh phá bầu cử.

Chúng tôi phá bầu cử? Tại sao người ta sợ chúng tôi đủ thứ vậy? Người ta đã phát thẻ cử tri cho chúng tôi, không tước đoạt quyền công dân của chúng tôi. Chúng tôi được tham gia bầu cử Quốc Hội Cả Nước. Mấy hôm trước, đọc mục xã luận của tuần báo Văn Nghệ Giải Phóng, biết chắc chắn rằng, chúng tôi rất thiếu “vinh dự” bỏ phiếu. “Những tên tướng, những tên đại tá ác ôn, buông súng là chúng hết ngóc đầu dậy. Nhưng bọn nhà văn nô dịch phản động, buông bút xuống, ảnh hưởng của chúng vẫn còn nguy hiểm cho nhiều thế hệ. Những tên nhà văn đã phục vụ cho guồng mày chiến tranh bẩn thỉu của Mỹ Ngụy không được phép tới gần các thùng phiếu của chúng ta.” Người ta không thích chúng tôi “tới gần các thùng phiếu.” Người ta cứ tưởng chúng tôi thèm bỏ phiếu lắm. Tôi đã tự khước quyền công dân của tôi từ lâu! Tôi chưa bao giờ biết bỏ phiếu. Tôi không khoái trò bỏ phiếu gian lận ở nước tôi. Điều tôi cảm thấy hãnh diện thêm về nhà văn chúng tôi là, cấm bỏ phiếu, cộng sản vẫn chưa yên tâm, phải bắt chúng tôi nhốt kỹ, họ mới dám tin tưởng bầu cử Quốc Hỏi Cả Nước thành công. Nhà văn Sàigòn nhờ cộng sản mới biết, mình còn sức mạnh phá hoại bầu cử!

- Anh có nghĩ thế không?

- Nghĩ gì, thưa anh?

- Nghĩ rằng các anh sẽ phá bầu cử?

- Bầu cử ăn nhằm gì tới chúng tôi?

- Các anh tụ tập ở 104 Công Lý làm Báo Nói! Các anh toàn là chuyên gia các đài Tiếng Nói Tự Do, Gươm Thiêng Ái Quốc, đài Sàigòn, đài Đà Lạt. Các anh rỉ tải phản tuyên truyền. Anh Hoàng Anh Tuấn là vua đặt chuyện tiếu lâm nhạo báng Đảng. Còn anh, vừa chế lời ca nhâm nhi vào bài hát cách mạng rồi xúi dục trẻ con hát. Cái nguy hiểm của các anh là ở chỗ đó.

Tôi lại nin thinh. Và bất đầu ớn. Quả thật, tôi đã chế lời ca nhâm nhi vào các bài hát cách mạng và in trong sách của tôi. Từ 30-4-75, tôi chưa hề chơi trò này. Nhưng thấy dân Sàigòn đặt lời ca mới vào các bài ca của công sản, tôi phục sát đất, tự nhận mình thua xa. Tôi không đủ khả năng của dân gian. Nhưng tôi vẫn bị ám chỉ.

- Anh có cảm tưởng gi? Người của Đảng hỏi.

- Cảm tưởng gi, thưa anh?

- Cảm tưởng chúng tôi mời anh tới đây?

- Tôi không có cảm tưởng gì cả.

- Có chữ, phát biểu di!

Một người bị còng tay dẫn vào tù phải phát biểu cảm tưởng của y về sự người ta bắt y! Nó có về khôi hài. Hơn cả khôi hài. Nó hoàn toàn độc ác. Bạn đã đọc “giờ thứ hai mươi lăm” chưa? Bạn nghĩ thế nào về viên trung úy Mỹ yêu cầu anh nông dân Moritz “keep smiling, keep smiling” trước ống kính máy ảnh. Anh Moritz khó mà cười nổi. Còn tôi, tôi cũng khó mà phát biểu cảm tưởng.

- Phát biểu đi!

Tôi chợt nhớ cái tựa đề cuốn truyện tếu của tôi “Cám ơn em đã yêu anh” và tôi phát biểu ngắn, gọn:

- Cám ơn anh đã bắt tôi!

Tôi không ngờ lời phát biểu cù nhầy của tôi đã làm hài lòng người của Đảng.

- Đúng, các anh phải cám ơn chúng tôi. Nếu chúng tôi không bắt các anh (bây giờ, người của Đảng chia động từ bắt) chúng nó sẽ quyến rũ các anh vào rừng. Chiến tranh lại kéo dài, và các anh sẽ bị chết thảm.

Phần mở đầu từ cái phòng ánh sáng mờ mờ ở Sở Công An chấm dứt. Người của Đảng dẫn tôi đi, giao tôi cho chúa ngục Hai Phận. (Dần dà, bạn sẽ làm quen với Hai Phận, con người cộng sản mà tôi nghĩ còn vĩ đại hơn Hồ Chí Minh. Và chúng tôi đồng ý gọi ông ta là Hai Phận vĩ đại “sống mãi trong sự nghiệp” coi tù.) Hai Phận bắt tôi cởi hết quần áo. Ông ta nắn, rờ, mò mẫm kỹ lưỡng từ quần áo lót của tôi. Các thứ đồ đạt tôi mang theo trong túi quần áo và trong bị đều bị lục tung. Tiền bạc bị giữ lại, cấp cho cái biên nhận cầm chơi. Đồng hồ, nhẫn cưới cũng thế. Trò này, cộng sản gọi là đăng ký! Thẻ căn cước bọc nhựa, bằng lái xe bị tịch thu, và ghim vào hồ sơ. Cái kính viễn thì được phép mang vì tôi đã “gian dối” khái là tôi bị cận thị. Hai Phận ghi chép biên lai giữ đồ vật của tôi mất nửa tiếng. Đồng chí Lê Duẩn cũng không thể viết nhanh hơn. Bắt tôi trần truồng đứng chiêm ngưỡng hình bác Hồ treo trên tường chán chê, Hai Phận vĩ đại cho phép tôi mặc quần áo. Ông ta bắt đầu giáo dục tôi:

- Kể từ nay, anh đi học, nghe chưa. Mà đi học là phải có thầy. Tôi là thầy anh.

- Dạ.

- Những người khác thì anh gọi họ là cán bộ. Riêng tôi, anh phải gọi là ông Trưởng trại.

- Dạ.

Hai Phận đích thân cầm xâu chìa khóa. Ông ta dẫn tôi vào phòng tập thể B, mở cửa sắt và tống tôi vô. Im lặng tuyệt đối. Hai Phận khép cửa phòng, cài chốt, ấn khóa. Ông ta mất hút trong hành lang cachot tối mờ.

CHƯƠNG 2

Nhà văn, nhà thơ trong chiến dịch từ 2-4 đến 28-4-1976:

1. Dương Nghiễm Mậu

2. Doãn Quốc Sĩ

3. Trần Dạ Từ
4. Nhã Ca
5. Lê Xuyên
6. Nguyễn Mạnh Côn
7. Thế Viên
8. Thái Thủy
9. Mặc Thử
10. Vũ Hoàng Chương
11. Duyên Anh ....

Nguyễn Sĩ Tế bị bắt trước chiến dịch, bị “tình nghi trong tổ chức phản động”. Hồ Hữu Tường bị bắt năm 1977. Hoàng Hải Thủy bị bắt năm 1977, can tội gửi bài vở ra nước ngoài. Nguyễn Đình Toàn bị bắt năm 1977, can tội âm mưu vượt biên. Nguyễn Thụy Long bị bắt năm 1977, can tội phản động. Một nhà thơ duy nhất được đưa ra tòa kết án 18 năm khổ sai lao động là Tú Kếu “trong tổ chức chống phá cách mạng”.

Nhà báo bị bắt trong chiến dịch từ 2-4 đến 28-4-1976:

1. Đằng Giao
2. Chu Thị Thủy và đứa con mới sinh được vài ngày
3. Hồng Dương
4. Thanh Thương Hoàng
5. Văn Kha
6. Hồ Nam
7. Đào Xuân Hiệp
8. Như Phong
9. Nguyễn Văn Minh
10. Trịnh Viết Thành
11. Anh Quân
12. Xuyên Sơn
13. Cao Sơn
14. Đặng Hải Sơn
15. Đặng Hoàng Hà
16. Lê Văn Vũ Bắc Tiến
17. Sao Biển
18. Nguyễn Văn Mau
19. Hồ Văn Đồng
20. Lê Hiền
21. Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
22. Tô Ngọc
23. Uyên Thao
24. Lý Đại Nguyên
25. Vương Hữu Đức
26. Mai Thế Yên
27. Tô Kiều Phương
28. Mai Đức Khôi
29. Lê Trọng Khôi

Còn vài người nữa tôi không nhớ tên. Nguyễn Tú bị bắt từ đêm 30-4-1975 và đã chết ở khám Chí Hòa vì tê liệt. Trần Việt Sơn cũng bị bắt trước chiến dich 2-4-1976, được thả sau 3 năm tù đầy và đã chết trong khoảng tháng 9-1983.

Đạo diễn điện ảnh bị bắt trong chiến dịch từ 2-4 đến 28-4-1976:

1. Hoàng Vĩnh Lộc
2. Hoàng Anh Tuấn
3. Thân Trọng Kỳ
4. Minh Đăng Khánh

Soạn giả cải lương bị bắt trong chiến dịch từ 2-4 đến 28-4-1976:

1. Mộc Linh

Giám đốc các nhà phát hành bị bắt trong chiến dịch 2-4 đến 28-4-1976:

1. Nam Cường
2. Đồng Nai
3. Độc Lập
4. Khai Trí (nhà sách Khai Trí)

Họa sĩ bị bắt trong chiến dịch từ 2-4 đến 2804-1976:

1. Nguyễn Hải Chí (Chóe)

Dich giả bị bắt trong chiến dịch từ 2-4 đến 28-4-1976:

1. Nguyễn Hữu Hiệu
2. Nguyễn Hữu Trọng

Nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhạc sĩ quân đội, nếu là sĩ quan hay công chức cấp trưởng ty trở lên, đi trình diện học tập từ tháng 6-1975. Những người tôi biết:

1. Thanh Tâm Tuyền
2. Mai Trung Tĩnh
3. Dương Hùng Cường
4. Hà Thượng Nhân
5. Phan Lạc Phúc
6. Tô Thùy Yên
7. Văn Quang
8. Thảo Trường
9. Duy Lam
10. Phan Nhật Nam
11. Huy Vân
12. Đặng Trần Huân
13. Hoàng Ngọc Liên
14. Diên Nghị
15. Phan Lạc Giang Đông
16. Vũ Đức Nghiêm
17. Vũ Văn Sâm (Thục Vũ)
18. Đỗ Tiến Đức
19. Minh Kỳ
20. Thế Uyên
21. Vũ Thành An
22. Dương Kiền
23. Đinh Tiến Luyện
24. Nhất Bảng

Những người đã chết trong ngực tù:

1. Minh Kỳ
2. Thục Vũ
3. Nguyễn Mạnh Côn
4. Nguyễn Tú
5. Huy Vân

Những người đã chết sau khi được tha:

1. Vũ Hoàng Chương
2. Hồ Hữu Tường
3. Hoàng Vĩnh Lộc
4. Minh Đăng Khánh
5. Trần Việt Sơn

Những người được tha rồi bị bắt lại: 1. Hoàng Hải Thủy
2. Dương Hùng Cường
3. Doãn Quốc Sĩ
4. Nguyễn Đình Toàn

Những người mới bị bắt từ tháng 4-1984:

1. Nguyễn Hoạt
2. Phạm Thiên Thư 1

Những người trình diện từ tháng 6-1975 và bị bắt từ 2-4-1976 chưa hề được thả lần nào và vẫn còn nằm tù:

1. Trịnh Viết Thành
2. Trần Dạ Từ
3. Tô Ngọc
4. Nguyễn Viết Khánh
5. Thảo Trường
6. Duy Lam
7. Phan Nhật Nam
8. Hoàng Ngọc Liên
9. Vũ Đức Nghiêm
10. Văn Quang 2

Những người không hề bị bắt:

1. Thanh Lãng
2. Phạm Việt Tuyền
3. Nguyễn Quang Lãm
4. Vũ Bằng
5. Tam Lang
6. Trần Lê Nguyễn
7. Thượng Sĩ
8. Toan Ánh
9. Nguyễn Hiến Lê
10. Bình Nguyên Lộc
11. Nguyễn Xuân Hoàng
12. Nguyễn Mộng Giác, v.v... và v.v...

Những “cây chống cộng” và những “tiền bối” văn chương, đặc biệt tiền bối Toan Ánh Nguyễn Anh Toán còn được phép ký bút hiệu Lã Vi phóng tin ra ngoại quốc bêu nhục những người nằm tù. Riêng con số những nhà thơ, nhà văn công tác với cộng sản, xin miễn kể ra. Bởi vì, ít nhất, đã có 5 “nhà” vượt biên và xuất ngoại chính thức đang ồn ào chống cộng sản bên Mỹ. Kể rõ tên và các báo quý vị ấy đang cộng tác, sợ rằng quý vị ấy mất khí thế chống cộng.

Anh hề dễ thương Khả Năng cũng bị … đi học tập. Cộng sản đánh giá thấp nhạc sĩ nên Phạm Đình Chương, Nhật Trường, Y Vân … cứ nhởn nhơ mà vượt biên hay ở lại mà lêu bêu ngoài đời. Năm 1980, sau 5 năm tiêu diệt ảnh hưởng văn học Sàigòn bằng đủ phương tiện truyền thông của Đảng và Nhà Nước, cảm thấy vẫn chưa ổn, vẫn còn sợ hãi, nhà xuất bản Sự Thật (Hà Nội, 1980) bèn tung ra cuốn sách ghê gớm, nhan đề nghe đã rụng tóc gáy: Những tên biệt kích trong mặt trận tư tưởng văn hóa miền Nam. Biệt kích văn nghệ gồm 10 tên:

1. Võ Phiến (di tản trước 30-4-1975)
2. Vũ Khắc Khoan (di tản trước 30-4-1975)
3. Nhất Hạnh (bị lưu đầy từ lâu)
4. Nguyễn Mạnh Côn (chết tại Xuyên Mộc, 1979)
5. Hồ Hữu Tường (sắp chết được thả ra ở trại Z30D, về nhà chết 1980)
6. Dương Nghiễm Mậu (được thả đầu năm 1977)
7. Nhã Ca (được thả đầu năm 1977)
8. Mai Thảo (trốn chiến dịch 2-4-1976, vượt biên 1978)
9. Doãn Quốc Sĩ (được thả cuối năm 1979)
10. Duyên Anh (được thả 1981)

Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng định “xử tử” thêm Phạm Duy, Chu Tử, Thanh Tâm Tuyền nhưng phải vội vàng cất kỹ máy chém vào “nhà truyền thống”. Bởi vì, quần chúng đọc Những tên biệt kích trong mặt trận tư tưởng văn hóa miền Nam say sưa qua. Đọc xong rồi, kiếm tác phẩm của biệt kích văn nghệ đọc … bổ xung. Đảng bèn khẩn trương thu hồi cuốn “Những tên biệt kích trong mặt trận tư tưởng văn hóa miền Nam” về đốt. Đồng thời, Đảng thộp cổ mấy chiến sĩ in lậu sách của biệt kích văn nghệ bằng roneo đưa ra tòa, kết án khổ sai chung thân! Kể ra thì Đảng hơi ngu. Có ngu mới trích câu này của Doãn Quốc Sĩ: “Tôi ví tôi như kim cương, răng cộng sản không thể cắn vỡ nó”. Có ngu mới trích câu này của Duyên Anh: “Cầm tay con Thúy êm ái hơn cầm tay bác Hồ”. Vân vân... Những sự ngu dốt của Đảng làm rất nhiều lão thành văn nhân, thi sĩ nổi giận. Quần chúng đặt câu hỏi hiểm hóc: Tại sao tiên chỉ văn học không bị bắt? Ờ nhỉ, có sự tréo cẳng ngỗng. Sĩ quan đi từ mút chỉ, lính học tập có 3 ngày. Dân quèn văn nghệ vào ấp, tiên chỉ và chánh tổng văn nghệ ở nhà. Trong chiến dich 2-4-1976, quý vị thấy sợ hãi toát mồ hôi. Thoát nạn, quý vị ấy thở phào sung sướng. Rồi ròng rã 8 năm, cộng sản không thèm bắt, đã đành, cũng chẳng thèm nhắc nhở quý vị ấy (dù để chửi bới), quý vị ấy thấm nỗi nhục … không bị bắt, quý vị ấy không dám cay cú cộng sản, liền trút những sự cay cú ấy vào những thằng nhà văn bị bỏ tù, bị bêu nhục, bị đói khát, bị lao động khổ sai hộc máu mồm. Quý vị ấy ung dung tự tại, cà phê sáng, rượu chiều và bốc máu chứng nhân lịch sử để ru rú xó nhà, phẩm bình người này người nọ quằn quại trong ngục tù và rất can đảm, rất “uy vũ bất năng khuất” gửi bài ra ngoại quốc không dám ký tên mình để mạ lỵ người này, nói xấu người kia vì đố kỵ, vì mặc cảm thua sút bị cộng sản coi như rác. Tôi không thể điểm mặt quý vì chứng nhân lịch sử này. Rất tiếc, tôi đang ở Pháp. Một cơn bốc nóng, có thể, làm khổ quý vị ấy và e rằng lịch sử mất hết chứng nhân rờ voi, chứng nhân xem chuông.

Tôi vừa trình bày một danh sách tạm đầy đủ về nhà văn, nhà báo bị đàn áp thẳng thừng trong chiến dịch 2-4-1976. Qua danh sách này, trừ những nhà văn, nhà báo di tản trước 30-4-1975, và trừ những nhà văn ngàn đời không chính kiến, người đọc sẽ có 2 câu hỏi: 1. Tại sao một số khuôn mặt văn nghệ sừng sỏ cỡ tác giả Bão thời đại không hề bị bắt mà còn được leo lên máy bay … vượt biên? 2. Tại sao một số khuôn mặt văn nghệ có giải thưởng đã không bị bắt mà còn được cộng tác với văn nghệ của chế độ mới? Khi ấy, người ta nhân danh cái gì, nhân danh ai để vinh tôn hãy để bêu nhục những người ngụp lặn dưới vực sâu thống khổ, ê chề. “Đoạn trường ai có quá cầu mới hay.” Chưa qua cầu, chưa hay sự đời. Thì đừng nói phét, đừng phán xét những gì nghe người ta kể. Nếu đã qua cầu, sẽ hiểu, sự đời thường đen mà lạitrắng, trắng mà lại đen. Đen và trắng đâu phải tại sự đời. Mà tại thói đời. Tôi qua chuyện khác.

Trình diện học tập và bị bắt bỏ tù khác nhau. Do đó, quy chế giam giữ và đối xử cũng khác nhau. Người trình diện học tập, không bao giờ bị thẩm vấn, không bị nhốt trong phòng 24/24 năm nầy sang năm khác. Họ chỉ làm bạn tự khai tập thể, một lần duy nhất, rồi chờ đợi. Chung quy thì cũng chỉ là tù nhân cả, nhưng tù trình diện dể thở hơn tù bị bắt. Tù trình dện tự ý vào tù nên không bị còng tay tại nhà, bị khám xét và tịch thu món gì. Được quản lý bởi quân đội, những người tù trình diện đã có những tháng năm thoải mái. Thí dụ ở Phước Long. Họ có thể cắm lều ngủ với vợ mỗi lần vợ họ thăm nuôi họ. Vô số những cậu bé, cô bé mang tên Phước Long nhờ sự “nhân đạo” của Đảng! Cái ý chí chiến đấu đã buông xuôi ở những cuộc mây mưa ân huệ đó. Và nó chỉ dừng đúng từ cuối năm 1978, sự quản lý nằm trong tay công an. Người ta vẫn có thể làm tình dầu người ta đau đớn, tủi nhục và bị quản chế. Sự ưu đãi của kẻ thù luôn luôn ru ngủ lòng bất khuất. Người ta không thích bị ngược đãi, dù bị ngược đãi người ta mới thấm thía thân phận tù đay.

Chúng tôi nằm trong tay công an từ phút đầu. Chúng tôi không có thời giờ chuẩn bị vào tù. Công an ập vào nhà chúng tôi, còng tay chúng tôi lại, khám xét nhà cửa, tịch thu đủ thứ rồi chở chúng tôi, từng người, tống vào nhà giam. Chúng tôi ở chung với trộm cướp, sát nhân ...
--------------------------------
1
Không chính xác lắm.
2
Số các tù nhân tư tưởng bị bắt từ tháng 4-1984 và còn bị giam giữ không được chính xác lắm. Có thể bị bắt đông hơn và còn bị giam giữ đông hơn. Cũng có nhà văn nhà báo bị bắt khoảng 1978 can tội hình sự.
CHƯƠNG 3
Mỗi người có một cảm giác khi, lần đầu tiên trong đời, bước vào phòng giam của nhà tù. Cảm giác của tôi là sợ hãi. Anh phải nhớ rằng nhà tù và trại cải tạo khác nhau. Nếu tôi đã phục vụ quân đội như Thanh Tâm Tuyền, Phan Nhật Nam, Tô Thùy Yên … tôi sẽ đóng một khoảng tiền ăn 10 ngày cho đơn vị tôi trình diện học tập ở trường Gia Long, ở trường Lasan Taberd hay ở cô nhi viện Don Bosco, chẳng hạn. Rồi tôi chờ đợi xe molotova, xe GMC, xe đò nữa, chở tôi đến trại nào đó ở Long Giao, ở Suối Máu, ở Long Thành. Tôi đi tù với hàng ngàn, hàng vạn bạn bè, tôi không việc gì mà sợ hãi. Ít ra, hai bà năm đầu, bộ đội quản lý tôi cũng dễ dãi hơn công an. Tôi đi lại thong thả khắp trại và đêm đêm cửa phòng tôi không bị khóa chặt. Nhưng tôi đã thiếu vinh hạnh được làm sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà, tôi là nhà văn phản động và công an đã đến còng tay tôi, đưa tôi đi một mình. Nỗi cô đơn của tôi không những chất ngất trên đường đời mà còn chất ngất trên đường tù. Và tôi sợ hãi nếu tôi không gặp người quen trong cái phòng giam ở địa chỉ chung của chủ nghĩa, của những thứ chủ nghĩa đã đưa dân tộc tôi phiêu lưu quá xa khỏi tình tự đích thực của mình, từ 100 năm nay.



May quá, tôi đã gặp văn hữu. Người đầu tiên, Hoàng Anh Tuấn. “Nhà văn nghệ cao nhất nước” của tôi mặc trần xì cái quần đùi xắn cao tít lên thành một kiểu xì-líp … xã hội chủ nghĩa. Phòng giam chật ních gần 80 tù nhân, không khí nồng nặc mùi mồ hôi, mùi hôi nách, mùi nước đái và mùi khói thuốc. Tuy đã khuya và tuy cái quạt hút gió lắp ngược chạy xình xịch sát trần phòng, mồ hôi vẫn cứ chảy râm ran trên ngực phanh áo của Tuấn. Anh ta vỗ vai tôi, mỉm cười:



- Sao mày đến muộn thế? Anh em đợi mày mỏi cả mắt!


- Vì hôm nay họ mới hỏi thăm.

- Lạ nhỉ, mãi hôm nay nó mới vồ mày.

Bấy giờ, tôi hơi hơi lạ. Sau này, tôi hết lạ. Buổi tối, mùng 2-4-1976, tôi định xuống Cây Quéo kiếm Trần Dạ Từ hỏi xem Từ có đem về nhà cuốn Em Yêu nào không. Em Yêu là cuốn sách mới nhất của tôi, nhờ Trần Dạ Từ in mướn. Sách chưa kip vô bìa, thì Sàigòn mất, và cơ sở ấn loát Nguyễn Bá Tòng bị tiếp quản liền. Rẽ vào đường Ngô Tùng Châu, nhìn con ngõ nhà anh chị Hoàng Văn Đức thấy tối tăm, bùi ngùi quá, tự nhiên, tôi đạp xe về. Đêm ấy, vợ chồng Trần Dạ Từ – Nhã Ca bị bắt cùng với Đặng Hoàng Hà, Đặng Hải Sơn. Nếu tôi có mặt ở nhà Từ, tôi cũng bị bắt luôn. Đêm ấy, Trịnh Viết Thành, Nguyễn Mạnh Côn… lên đường trực chỉ Sở Công An. Đêm ấy, đêm kinh hoàng, đêm mở đầu chiến dịch khủng bố văn nghệ. Hôm sau, cả Sàigòn xôn xao vụ bắt bớ nhà văn, nhà thơ, nhà báo. Tối mồng 3-4, tôi đến nhà Mai Thảo ở 101 Phan Đình Phùng xem Mai Thảo bị bắt chưa. Tôi ngồi ngoài xe hơi của Đặng Xuân Côn, bảo Côn xuống hỏi thăm Nguyễn Đăng Viên, anh ruột Mai Thảo. Viên rất thông minh, anh trả lời Mai Thảo đi vắng và nhờ Côn, nếu gặp Mai Thảo, nhắn về gấp. Viên ra dấu cho Côn chuồn lẹ. Côn hiểu ý vì đã đoán ra 2 khách là nón cối, dép râu, nhìn Côn không chớp mắt. Tôi rú ga, vọt mau. Côn ngoái lại, 2 khách công an đã phóng ra vỉa hè. “Nó đến bắt Mai Thảo.” Côn nói. Tôi đi tìm dấu vết Mai Thảo. Công an không bắt được Mai Thảo, không lùng nổi tung tích Mai Thảo, đã giả vờ quên tôi. Để tôi kiếm giùm Mai Thảo. Như thế, có thể, tôi vuột luôn với Mai Thảo, họ bèn chấm dứt trò chơi và đưa tôi vào ngục.

- Ừ, lạ thật. Tôi nói.

Sau Hoàng Anh Tuấn, tôi nhận ra Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Hữu Hiệu, Thanh Thương Hoàng, Nguyễn Hải Chí (Chóe), Văn Kha, Đằng Giao, Hồ Nam… Hoàng Anh Tuấn thuyết trình:

- Quần hào đã tụ tập hết ở Quang Minh Đỉnh! Bên cạnh chúng ta có Trịnh Viết Thành, Anh Quân, Lê Xuyên. Trước mặt chúng ta có Doãn Quốc Sỉ, Nguyễn Mạnh Côn, Trần Dạ Từ, Thế Viên, Hoàng Vĩnh Lộc, Minh Đăng Khánh…

Hoàng Anh Tuấn lúc nào cũng có thể vui được. Những ngày ở sở Công An, nguồn vui của Tuấn là tranh luận với Thân Trọng Kỳ về điện ảnh. Tuấn chê Thân Trọng Kỳ chẳng hiểu điện ảnh tí gì, dù đã du học bên Mỹ. Tôi sẽ quên Hoàng Anh Tuấn nhiều thứ, kể cả những bài thơ thật bồng bế, những đóa hoa trên 10 ngón tay họ Hoàng, nhưng có 2 thứ tôi khong bao giờ quên Tuấn, 2 thứ quá đơn giản mà rất người. Thứ nhất, Tuấn nhường chỗ trên bục xi măng cho tôi nằm cạnh Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, tình nguyện vác chiếu xuống ngủ sát lối vào cầu tiêu. Luật lệ bất thành văn của bất cứ nhà tù ở bất cứ một chế độ Việt Nam nào là, hễ anh mới bước chân vào một phòng mới, anh đành chịu “tạm trú” ở nơi hẩm hiu nhất. Nơi hẩm hiu nhất của đêm tù đầu tiên của đời tôi là nền căn phòng ẩm ướt gần khít cửa vô nhà xí. Tù nhân, ngót 80 tù nhân, đêm như ngày, sẽ bước qua tôi, bước qua “nhà văn của tuổi trẻ,” bước qua cha đẻ của Trần Đại, James Dean Hùng, Hoàng Guitar, Dzũng Dakao để đi đái, đi ỉa! Hoàng Anh Tuấn không nỡ nhìn tôi nằm co ro khốn khổ. Tôi từ chối. Tuấn nói Tuấn thức suốt đêm, Tuấn chẳng cần ngủ. Thứ hai, Tuấn ngồi xếp bằng tròn “diện bích”, trân trọng lần chuỗi và đọc kinh. Lucifer cầu nguyện Chúa! Tuấn trả lời anh em: “Chúa không đến với tôi ngoài đời. Nhưng tôi biết ông theo tôi vào tủ. Và tôi đọc kinh cầu nguyện. Tôi cảm giác ấm áp vì có ổng trên tôi.”

- Mấy hôm đầu, bị cơn ghiền hành hạ, ông Nguyên Mạnh Côn rên rỉ khiếp lắm.

Đằng Giao nói. Vợ của Giao, Chu Thị Thủy – con gái Chu Tử – và đứa con sơ sinh cũng bị bắt. Chủ nghĩa cộng săn thù hằn cả sản phụ lẫn hài nhi! Thế mà người ta vẫn khoe khoang chế độ người ta ưu việt. Và thế giới vẫn bị huyễn hoặc bởi sự ưu việt lợm giọng ấy. Nếu có những vĩ đại lãnh tụ cộng sản tự hào về thành tích tù đầy của mình từ thiếu niên tranh đấu thì con trai út của Đằng Giao, sau này, xứng đáng tự hào hơn. Vì mới sinh ra đời 3 ngày, sinh ra giữa đời hòa bình thống nhất tổ quốc, đã can tội phản động, phải theo bố mẹ vào tù. Và nếu thế giới có bỉ thử chúng ta rằng, tại sao nước anh có nhiều tướng lãnh đào ngũ chạy trốn trước lệnh đầu hàng thế, thì chúng ta còn chỗ dựa vớt vát: Nước tôi còn có vị anh hùng vĩ đại nhất loài người, mới 3 ngày đã nằm tù cộng sản! Một vết son của chế độ hay một dấu ấn dơ bẩn hằn lên chủ nghĩa? Câu trả lời dành cho lương tri của nhân loại.

- Nguyễn Sĩ Tế nằm cachot. Nhã Cả nằm cachot. Lần lượt tới bọn mình. Linh mục Hoàng Quýnh về nước Chúa tháng trước, ở cachot. Linh mục Trần Hữu Thanh bị tê liệt, mới rời phòng nầy hôm kia. Cứ bình tĩnh.

Như Phòng nói:

- Tớ sẽ khước từ mọi khai báo. Tớ không vợ con nên có quyền cù nhầy. Các cậu đừng noi gương tớ. Chỉ đàn anh Trung Quốc mới cứu nổi chúng mình.

Quân sư Phải Gió, nhà tiên đoán thời cuộc chơi bạo hơn Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh. Lúc ấy, tôi cho rằng Như Phong nói phét. Sau này, Trung Quốc gây hấn với Việt Nam, tôi mới phục tài Như Phong.

- Tớ lạ nhất trường hợp thằng Chóe.

Chóe, hỗn danh của Nguyễn Hải Chí, giai cấp nông dân và có thể xếp vào hàng ngũ bần cố nông. Sinh quán ở Long Xuyên. Cha bỏ đi phiêu lưu từ nhỏ. Sống với mẹ. Ngày ngày đóng vai “cowboy” bên kinh rạch và hát bài tủ “Ai bảo chăn trâu là khổ”! Chiến tranh dẫn Chí lên Sàigòn, đăng lính, đeo lon hạ sĩ, phục vụ tại Tống Tham Mưu. Hạ sĩ Nguyễn Hải Chí bé tí trước đại tướng Cao Văn Viên. Nhưng họa sĩ Chóe thì vĩ đại gấp nghìn lần Cao Văn Viên. Khi đại tướng tổng tham mưu quân lực Việt Nam Cộng Hòa đào ngũ trốn khỏi Việt Nam quên đọc Huấn thị, Nhật lịnh nhờ đại tá thi sĩ Cao Tiêu viết hộ thì hạ sĩ Hải Chí còn nằm ở phòng giam của Cục An Ninh quân đội. Trước ngày tổng thống anh minh Nguyễn Văn Thiệu tự vặn ốc đinh bù loong khỏi cặp đùi rời ghế rồng chừng 3 tháng, đám cầy cáo Hoàng Đức Nhã, Đặng Văn Quang đã bắt một số ký giả chống “độc diễn” năm xưa và thường xuyên diễu cợt Thiệu. Một cái chảo to tướng chụp lên đầu Sức Mấy, Chóe: Cộng sản. Chóe bị bắt cùng lúc với vài tên ký giả nằm vùng. Vì Chóe gốc quân đội nên Chóe về nằm ấp Nguyễn Bỉnh Khiêm. Dịp này, Tổng Nha Cảnh Sát cũng bắt Mặc Thử, Vũ Bằng không phải lý do chính trị mà do nhà tỷ phú Phạm Quang Khai gài bẫy!

Chiều 30-4-1975, các thư cục lớn nhỏ trong cái Cục An Ninh chuồn đâu mất tích. Một mình Chóe mở cửa nhà giam đi về nhà thơ thới hân hoan. Rồi Chóe về chỗ nhật báo Tin Sáng của bọn thời cơ chủ nghĩa Ngô Công Đức, Nguyễn Văn Bình, Hồ Ngọc Nhuận, ký biệt hiệu Ta. Rồi Chóe được mời làm thư ký toà soạn cho tuần báo Lao Động Mới của công đoàn thành phố, dưới trướng đồng chí Nguyễn Hộ, ăn lương biên chế cán bộ. Và rồi, công an bảo vệ chính trị đem còng tới tận nhà Chóe đưa Chóe vào nhà lao. Người ta đã phẩm bình Chóe rằng tại sao Chóe cộng tác với chế độ mới và đả kích chế độ cũ. Người ta không chịu tìm hiểu cuộc đời Chóe. Chế độ cũ cho tài năng số 1 về hí họa của đất nước cái gì? Một cái lon hạ sĩ và những tháng tù đầy! Cộng sản rất gian ác nhưng đã không ngu. Nó nhìn rõ tài năng hiếm có của Chóe. Nó biết Barry Hilton đã in tập hi hóa của Chóe. Hilton bị áp lực của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nên không đem phát hành tập hí họa. (Vì trong tập hí họa nầy, Chóe lố bịch Nixon va Kissinger rất điêu luyện và rất độc địa. Barry Hilton là công chức của Bộ Ngoại Giao. Người ta đặt 2 điều kiện. Một: Rời khỏi ngành ngoại giao thì phát hành tập hí họa của Chóe. Hai: Ở lại ngành ngoại giao thi hủy tập hí họa đi. Hilton chọn điều kiện thứ 2.) Do đó, thế giới chưa biết tài năng của Chóe. Nếu tập hí họa của Chóe được phát hành, thế giới đã ồn ào can thiệp cho Chóe, khỏi cần đợi mãi đến cuối năm 1983, người ta mới đi hỏi vung vít khắp nơi về lý lịch một họa sĩ trứ danh tên là Nguyễn Hải Chí. Nó biết hoàn cảnh sống hiện tại của Chóe. Nó biết giai cấp xã hội của Chóe. Nó biết mức độ và ảnh hưởng chống đối trước đây của Chóe. Và nó xử dụng Chóe. Nó xử dụng Chóe để thu hút những tài năng khác còn cay cú, ngờ vực nó. Nó cần Chóe một giai đoạn nào đó thôi. Chóe chưa có kinh nghiệm cộng sản, Chóe còn trẻ, Chóe vừa mang thương tích chế độ cũ. Chóe bèn trả thù 3 tháng năm tù oan ức ở Cục An Ninh quân đội bằng cách giao du với cộng sản. Rồi Chóe lại bị cộng sản bắt giam. Lần này lâu quá, đã 9 năm rồi đấy. 9 năm tức là 108 tháng! Người ta cứ thích phẩm bình và phẩm bình. Chưa thấy ai đem tiền bạc nuôi Chóe và bảo Chóe đừng công tác với cộng sản. Và, hình như, vẫn chưa thấy ai gởi quà về trại Gia Trung tặng Chóe, ngoài vợ con của Chóe1. Nhưng người ta đã thấy, trên các tạp chí màu sắc lòe loẹt, vài anh đại tá hạng bét, học đòi mang tâm sự Mã Chiếm Sơn, dâng hoa tặng gái hoa hậu, cười toe toét. Và nhận những tràng pháo tay. Khi ấy, Phan Nhật Nam quạnh hiu ở Thanh Hóa, Văn Quang rã rượi ở Sơn La, Tô Thùy Yên mệt mỏi ở Hàm Tân, Thảo Trường phờ phạc ở Vĩnh Phú.. Đó là sự lạ lùng của Như Phong.

- Hôm qua có chuyện vui lắm, Đằng Giao nói, nếu ông vô cùng lượt tôi, cuộc chơi sẽ vui hơn.

Anh em bị bắt từ 2-4, trừ Nguyễn Hữu Hiệu và Dương Nghiễm Mậu trầm lặng, thường tụ tập gần cửa sắt chấn song đan khit nhìn thẳng sang khu cachot, cũng là lối dẫn tù mới vào 2 phòng A, B, xem đến lượt thằng nhà văn, nhà thơ nào … nhập Cõi. Hồ Nam đến trước tôi một hôm. Khi Hồ Nam thấp thoáng, Đằng Giao kể, trong phòng đã chuẩn bị đón chàng. Đạo diễn hò hét: Thằng Trưởng phòng Thu ngồi xếp bằng tròn trên bục, lẹ đi. Mặt mày phải thật cô hồn. Mày không cần hỏi han gì cả. Cứ ngậm miệng. Hai đứa khác quạt, 2 đứa khác đấm bóp cho nó. Cấm cười. Tất cả nghiêm trang, sợ hãi. Thủ Trưởng phòng to xác, can tội dắt tàn quân vô bưng biền tìm đơn vị cũ. Hồ Nam lọt cõi B. Anh em mừng quá. Chàng ký giả biết cả những điều mình không biết lơ lơ láo láo. Chàng thấy 4 nhà văn, nhà báo gồ ghề đang phục vụ Trưởng phòng thì chàng bèn hình tượng vua tù và tù con so của chế độ cũ. Chàng rét. Chàng đứng trơ trơ. Đạo diễn ra hiệu. Một tên nhà văn phục dịch Trưởng phòng hất đầu: “Chào Trưởng phòng đi, Hồ Nam.” Hồ Nam quýu lưỡi: “Xin chào ông Trưởng phòng”. Trưởng phòng nín khe. “ Mày có thuốc là không?” Hồ Nam móc bị hành lý ra 2 gói Bastos de Luxe, trịnh trọng để lên bục. Anh em nhào tới, xé ra, mời nhau hút. Và cười rộ. Hồ Nam cười theo. Hú vía!

Sau Đằng Giao là Dương Nghiễm Mậu kể những giây phút công an ập vào nhà mình. Mậu thở dài: “Tôi chỉ tiếc mấy tập bản thảo viết từ tháng 5, 1975. Họ tịch thu hết”. Tôi hỏi: “Cậu viết về cái gi?” Mậu đáp: “Về sự hấp hối của Sàigòn trọn ngày 30-4 mà tôi nhìn rõ, nghe rõ”. Mai Thảo, có lần nói với tôi, trước chiến dịch 2-4-1976: “Cần 20 thằng nhà văn cự phách mới có nổi đại tác phẩm Sàigòn, ngày dài nhất”. Mai Thảo nói đúng. Tôi nghĩ Mậu đã viết và Mai Thảo đã nghĩ tới, chắc chắn, nhiều anh em khác đã viết, đã nghĩ tới. Nhưng bao giờ thế giới mới được đọc Sàigòn, ngày dài nhất, ngày dài nhất cho kẻ chiến thắng lẫn người chiến bại, cho cả đồng mình phản phúc lẫn thế giới toa rập, cho cả thủ đoạn hân hoan mất Sàigòn của Mỹ lẫn âm mưu dơ bẩn không muốn mất Sàigòn của Liên Xô, Trung Quốc… Sàigòn, ngày dài nhất của nhà văn Việt Nam, của những tâm hồn đích thực Việt Nam, không phải của bọn nhà báo Mỹ đê tiện vừa ngửa tay lãnh tiền CIA vừa ngửa tay lãnh tiền KGB. Thế giới, nhất là thế giới thứ 3, và đặc biệt các nước đang diễn trò quân ta giết quân mình bằng ý thức hệ cộng sản, tư bản, bằng bom đạn Mỹ, hỏa tiễn Nga cần học tập kinh nghiệm Sàigòn, ngày dài nhất, ngày dài nhất của hậu quả 20 năm khốn khổ nhất của lịch sử chiến tranh nhân loại. Và sau ngày dài nhất ấy là năm tháng dài nhất của đói rách, ngu dốt, hận thù, trại tập trung, nhà tù. Và vẫn chiến tranh!

Hình như thế giới vẫn bị mê hoặc trong sương mù chiến tranh ý thức hệ. Thực ra trò chơi của ý thức hệ đã chấm dứt. Ngày nay không còn ý thức hệ vô sản chơi nhau với ý thức hệ tư bản và các ý thức hệ khác nữa. Chủ nghĩa của Marx, Angel đã bị phôi pha từ sự “sáng tạo” của Lenine, từ sự thoát lý của Tito, từ sự tách rời của Mao Trạch Đông. Bây giờ, chỉ còn là sự tranh chấp quyền lực, tranh chấp ảnh hưởng giữa 2 thế lực mạnh nhất, dã man nhất, đê tiện nhất, xảo quyệt nhất. Hai thế lúc ấy, tạm dùng chữ nghĩa của Hồ Hữu Tường, là văn minh chính ủy và văn minh cơ khí. (Nếu Hồ Hữu Tưởng còn sống và đang có mặt ở Mỹ, ở Âu, ông sẽ sửa văn minh cơ khi thành văn minh bấm nút.) Ngày nay, không một thế lực nào dám mở miệng nói về chính nghĩa, về lý tưởng nữa. Hay mở mắt hướng về việt Nam! Hãy nhìn rõ cái lý tưởng giải phóng dân tộc bị trị của công sản! Hay hỏi xem 10 năm ròng rã kháng chiến chống thực dân Pháp được cái gì và mất những gì? Được cái lớn nhất và vĩ đại nhất là sự nghiệp “cứu nước” của ông Hồ Chí Minh, là tên tuổi danh vọng của ông Võ Nguyên Giáp, là nền độc lập cưa đôi xử sở, là tiếng thơm “dân tộc anh hùng” viễn vông, là … Hồ Chí Minh muôn năm! Cái mất lớn nhất, vĩ đại nhất là 1 triệu 500 ngàn dân Việt Nam chết ghê rợn bằng 1 triệu 500 ngàn cách giết, kiểu giết, lối giết của cháu yêu của ông Hồ trong mùa liên hoan máu Cải Cách Ruộng Đất năm 1956 và kế tiếp là mùa liên hoan máu sửa sai, thêm 500 ngàn cháu yêu của ông Hồ “tình nguyện” chết bằng 500 ngàn mẫu chết khiếp đảm nhằm xoa dịu sự phẫn nộ của nhân dân. Chưa kể một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam và hàng chục ngàn trí thức tinh hóa của đất nước vùi xác ở chiến trường và rừng già thủ tiêu ròng rã 10 năm kháng chiến đánh bóng cho Hồ Chí Minh và chủ nghĩa cộng sản. Hãy mở mắt hướng về Mã Lai, một nước vô danh tiểu tốt, một nước đói kém văn hóa, văn hiến, một nước hiếm hoi anh hùng! Mã Lại gần Việt Nam lắm, cũng nô lệ 100 năm đấy, cũng Nhật đến đuổi Anh, cùng cộng sản nhi nhô. Thế mà, chẳng cần 10 năm kháng chiến, chẳng cần tiêu thổ kháng chiến, chẳng cần quy định giai cấp, chẳng cần đấu tố, chẳng tốn một giọt máu nào, Mã Lai vẫn độc lập. Độc lập trong hòa bình và đoàn tụ. Độc lập theo kiểu độc lập nước nhỏ. Đừng đòi hỏi độc lập toàn vẹn cho bất cứ một nước nhỏ nào trên thế giới, ở thời đại của chúng ta. Mày độc lập chính trị thì tao áp đặt nô lệ kinh tế lên đầu xứ sở máy. Dân tộc mày cứ chống tao đi, không sao, tao nắm cổ bọn thống trị thôi. Mày ái quốc cách mấy cũng khó thoát khỏi lưới thép thực dân mới, thoát khỏi móng vuốt đô la! Đó, nhìn rõ chưa? Chính nghĩa và lý tưởng cộng sản đã rực rỡ trên một nửa bản đồ hình chữ S. Chưa hết đâu, lý tưởng giải phóng còn tiến xa, tiến mạnh, tiến vững chắc, tiến sâu vào tội ác thêm hai mươi năm nữa.

Hai mươi năm sáng danh “chủ nghĩa Mác Lê bách chiến bách thắng” ở Việt Nam, ở toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, được cái gì và mất những gì? Nói về cái mất trước. Hàng mấy thế hệ thanh niên, cả 2 miền Nam Bắc, chết thê thảm, chết văng chân lên trời, chết cắm đầu xuống đất bởi bom Mỹ, hỏa tiễn Nga. Dọc Trường Sơn, trên đường mòn Hồ Chí Minh, xương khô và xương khô, lóng tay và đầu lâu ngỗn ngang như đất cục, như củi mục! Không đếm xuể mồ mả của dân lành vô tội được hóa kiếp bởi bom napal, bom bi, bom B52 tư bản, đạn đại bác, hỏa tiễn vô sản. “Vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa, vì Đảng cộng sản, quân đội ta tiến lên!” Quân đội ta chết nhiều quá. Những sư đoàn lừng lẫy Điện Biên Phủ năm xưa chỉ còn cái tên, người đã bị nướng hết. Thôn quê miền Bắc hết sạch thanh niên trên 17 tuổi. Đảng vay tuổi – ôi chủ nghĩa cộng sản! – thiếu niên. Vì lý tưởng, nhãi ranh 15 tuổi nhập ngũ. Vì lý tưởng, không, vì hết lính hứng bom Mỹ cho lý tưởng, nhi đồng 15 tuổi bị võ trang bằng thù hận, bằng mồi thơm dũng sĩ, bằng AK và một tuần tập bắn rồi bị tung vào chiến trường. Và thành liệt sĩ. Và thành thương phê binh. Số ít sống sót thành chiến sĩ anh hùng quanh năm ăn cơm gạo hẩm trộn khoai sắn với rau muống già luộc chấm nước muối. Cả chục ngàn dân bị chôn sống ở Huế mùa Tổng Công Kích Mậu Thân. Rồi buồn vì lính vô sản chết nhiều mà chôn sống dân lập thành tích quá ít, lại thua đau, mất luôn chủ tịch vĩ đại Hồ Chí Minh. Trước khi nhắm mắt để vào hòm kính, Hồ Chí Minh muôn năm đã phát điên. Lăng của chủ tich là một sự cười đùa trên nỗi khổ của nhân dân. Chỗ nằm của xác chết giá trị bằng lương thực nuôi cả dân miền Bắc một năm! Có thể hai, ba năm. Tiến nhanh, tiến mạnh, lý tưởng giải phóng tự thiêu quân mình và nướng dân mình ở Bình Long, ở Quảng Trị, ở Quy Nhơn, ở Kontum. Cái lý tưởng giết người của chủ nghĩa cộng sản đã mê hoặc bọn lãnh tụ Việt Nam. Họ chấp nhận mọi lạc hậu về khoa học, kỹ thuật, họ thản nhiên bắt dân đói khổ, ngu dốt, họ khích lệ tuổi trẻ nhảy xuống vực thẳm chiến tranh mù mịt, lao vào họng súng tư bản, đứng giữa trời hứng bom đế quốc để thỏa mãn sự ưu việt của chủ nghĩa và óc sáng tạo của lãnh tụ. Họ đã chiến thắng đế quốc Mỹ ở Việt Nam, sau 20 năm gặm khoai đánh giặc. Nhưng được gì? Một quê hương hòa bình thống nhất, tan nát, rã rượi, chia lìa. Một mảnh đất đầy dẫy nhà tù, trại tập trung. Một vùng trời ngút ngàn thù hận anh em. Người Việt Nam trả thù người Việt Nam. Chẳng còn vấn đề thực dân, đế quốc nữa. Bây giờ là nanh vuốt Việt Nam khống chế Việt Nam. Và chủ nghĩa, và lý tưởng giải phóng đứng chót vót đỉnh cao thành công. Và người ta bảo đó là độc lập, tự do tìm thấy sau hai mươi năm chiến đấu gian khổ!

Hãy mở mắt hướng về Mã Lai! Dân tộc ấy hòa bình trong chiến tranh triền miên của Việt Nam. Dân tộc ấy không được vinh dự thường xuyên đặt tít hàng đầu trên báo Mỹ, báo Pháp, báo Nhật, báo Đức… Về tỷ tỷ tấn bom rơi. Về triệu triệu người chết. Về Huế Mậu Thân. Về Mỹ Lai thảm sát. Không, dân tộc ấy bình thường. Do đó, đất nước Mã Lại thiếu một hố bom B52 nhưng thừa nhiều thành phố mới xây dựng, thừa lúa gạo, thừa cao su, thừa thiếc, thừa dầu hỏa. Và, hiện nay, Mã Lai, cái nước vớ vẩn ấy lại đóng vai trò quyết định số phận cả vùng Đông Nam Á, quyết định luôn cả số phận dân tộc anh hùng 20 năm chống Mỹ cứu nước! Nhìn rõ để thức tỉnh. Để nhận chân giá trị của lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản.

Cái lý tưởng giải phóng dân tộc bị trị đã vậy còn cái lý tưởng khai phóng tự do, dân chủ cho các nước chậm tiến của người quân tử Hoa Kỳ ra sao? Người quân tử Hoa Kỳ, bằng kinh nghiệm Việt Nam, ngày nay chúng ta có thể gọi là ngụy quân tử mà không sợ mình thiên kiến. Người Mỹ đến với các nước chậm tiến như một tên trọc phú đến với dân nghèo. Họ ồn ào thi ân, bố đức vì họ đã ngắm trước được những thứ họ sẽ thu về. Bọn lái buôn nào cũng tính toán kỹ lưỡng. Trong tác phẩm Một người Nga ở Saigon, tôi đã nói về người Mỹ ở Việt Nam. Và tôi khẳng định rõ rệt: Chính sách của nước Mỹ cư xử với dân tộc tôi không phải là dân tộc Mỹ. Tôi chống chính sách của chính phủ Mỹ, không chống dân tộc Mỹ. Bởi vì, suy nghĩ cho cùng, cái sự đầu tắt mặt tối, nợ đầm nợ đìa, đến chết vẫn chưa trả hết nợ cho nhà cửa, cho xe cộ, cho đủ mọi tiện nghi; đến chết vẫn chưa hiểu hạnh phúc đơn sơ, hạnh phúc thung dung của người phương Động của dân chúng Mỹ cũng là do thứ chính sách nó lệ hóa con người phóng ra từ một thứ chủ nghĩa đê tiện, thứ văn minh bấm nút. Tôi nói tiếp về lý tưởng khai phóng tự do, dân chủ và sự có mặt của người Mỹ, chính sách Mỹ ở nước tôi. Trước hết, lý tưởng ấy được khai phóng một cách trịch thượng, xấc láo và đốn mạt. Nó khỏi sự bằng 2 bàn tay thân hữu. Rồi không thân hữu nữa. Vì nó không muốn kết bạn với nước nhỏ. Nó có đầy tớ. Nó rút bàn tay biểu tượng trên nên cờ sao sọc khỏi bàn tay nước nhỏ. Để nắm cổ nước nhỏ! Muốn nắm cổ nước nhỏ mà thao túng, nó phải tiêu diệt thần tượng của nước nhỏ, nó phải gạt loài người công chính mà đem mồi phú quý nhữ lũ cầy cao tay sai. Và nó đã chơi trò bẩn y hệt Nhạc Bất Quần cộng sản. Nếu cộng sản phát động quần chúng để chôn sống các giai cập đối nghịch thì người Mỹ cũng xúi bẩy các phong trào quần chúng vùng dậy bắn bỏ lãnh tụ của họ, kẻ đối nghịch với quyền lợi Mỹ. Cộng sản trơ trẽn tuyên bố: Đó là sự phẫn nộ của nhân dân. Người Mỹ trơ trẽn tuyên bố: Đó là sự phẫn nộ của các phong trào đối lập muốn có tự do, dân chủ thật sự! Về thủ thuật giết người ái quốc nước nhỏ, chỉ khoái xử dụng đầy tớ ngoan ngoãn, cộng sản và tư bản giống nhau. Tư bản tệ hơn cộng sản ở điểm, đã tình nguyện làm đầy tớ cho nó mà nó vẫn không bênh vực tận tình. Hà Nội và Sàigòn là sự so sánh chính xác nhất.

Không hề thấy báo chí Liên Xô phê bình cuộc chiến đấu chống Mỹ của Hà Nội. Nghệ thuật tuyên truyền của Liên Xô đã kích thích cả ông già sắp chết, con nít còn hôi mùi sữa ủng hộ nước bạn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Đến Simonov, nhà thơ kích thước của Liên Xô, còn chi một bài thơ ca ngợi sự hứng bom Mỹ của Hà Nội và lên án Mỹ kịch liệt. Ngoài Liên Xô, trước 30-4-1975, không hề thấy bảo chí Đông Âu nói xấu người anh em cộng sản Việt Nam. Không hề thấy một lời ngắn nào của các nhà lãnh đạo xã hội chủ nghĩa công kích Hà Nội. Fidel Castro, người hùng của Mỹ Châu La Tinh, đã ca ngợi Hồ Chí Minh và cuộc chiến đấu ăn cướp của Hà Nội hết lời. Fidel Castro đã đánh bóng Hà Nội, đã huyễn hoặc các nước Nam Mỹ và Phi Châu. Chỉ Fidel Castro mới dám tạc tượng Nguyễn Văn Trỗi và xuất bản sách viết về anh hùng Nguyễn Văn Trỗi! Vân vân … Ngoài mặt, cộng sản nó cưu mang nhau lắm, nó “hữu nghị” thắm thiết lắm. Trong lòng nó, dĩ nhiên, bẩn thỉu, bẩn thỉu như lòng đàn anh nước lớn tư bản. Thế giới cộng sản nó chơi với nhau, thế đấy. Còn thế giới tự do chơi với nhau ra sao? Thế giới tự do luôn luôn ngoác cái miệng vinh tôn “Sàigòn là tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á”, “Nam Việt Nam là thành trì bảo về tự do thể giới” nhưng cũng luôn luôn uốn lưỡi bôi nhọ Sàigòn đủ cách, đủ kiểu, mặc dù, đại diện của cái thế giới nhỏ mọn, bất công ấy đã làm giàu trong chiến tranh tủi nhục 20 năm của Sàigòn. Nhật Bản là con kên kên dơ dáy và vô liêm sỉ nhất. Nó tiêu biểu cho tinh thần giả đạo đức của thế giới tự do. Nó phơi bày nguyên vẹn tâm hồn lái buôn tư bản gian dối. Xoá bỏ cái thế giới tự do mù lòa đi, chỉ nói về ông chủ Mỹ thôi. Và hãy nói cái bề ngoài của ngụy quân tử Mỹ. Này, anh thế giới thứ 3, anh nước nhỏ chậm tiến, anh nên sưu tầm những câu thuộc loại “xú ngôn” phọt ra từ những cái miệng gang thép của quý vị nghị sĩ, dân biểu bọ cú về Saigon để suy gẫm. Nhiều lắm. Tôi xin đan cử một vị tiêu biểu cho tinh hoa của dân tộc Hoa Kỳ thôi. Vị này, ngài Fullright (Nếu tôi viết đúng càng tốt, viết sai cũng tốt luôn vì tôi có thể dịch rất bồi: Fullright là nghị sĩ của lẽ phải đầy nồi chân, là nghị sĩ công chính tràn trề, là nghị sĩ lụt lội lẽ phải, là nghị sĩ đầy quyền, vân vân …) đã nằm ngủ ở Hoa Thịnh Đốn, trong chiêm bao, ngài ú ớ: “Sàigòn là một ổ điểm!”. Anh thấy vị nghị sĩ tinh hoa của văn mình 200 năm Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ này có mặt dầy, vô giáo dục không? Kẻ thù của Mỹ là Liên Xô. Kẻ thù hung hãn nhất thời đó là Việt Cộng mà không dám sủa: “Washington là một ổ lưu manh!” Những đồng minh Mỹ đã xất xược ví thủ đô “nước bạn”, thủ đô của văn hóa, của văn học nghệ thuật, của mọi cơ cấu quốc gia, của anh hùng dân tộc Việt Nam là “ổ điếm” thì, quả thật, miệng ông ta và công ty có gang có thép. Nghị sĩ Mỹ chơi nước nhỏ kỹ lắm. Báo chí Mỹ chơi nước nhỏ kỹ hơn. Tôi không nói tất cả báo chí Mỹ. Điều này hồ đồ. Tôi chỉ nói cái số báo Mỹ đã chơi nước nhỏ mà Sàigòn là nạn nhân thê thảm của họ. Anh hãy đến thư viện nước Mỹ, bất cứ một thư viện lớn của tiểu bằng nào, lục lại các báo đã xuất bản năm 1954, trước ngày chí sĩ Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh mà đọc. Anh đừng quên đọc chuyện Mỹ du của chí sĩ Ngô Đình Diệm mà báo chí Mỹ đã thắp hào quang rực rỡ chung quanh thân thế và sự nghiệp vị lãnh tụ anh minh của Nam Việt Nam. Đọc kỹ, anh nhé, chuỗi ngày dẹp sứ quân, chuỗi ngày xây dựng ấp chiến lược. Đủ rồi, anh lại tìm đọc, vẫn những tờ báo đã ca ngợi chí sĩ Diệm, bởi nhờ ông quyết liệt, xả láng, xuất bản năm 1963, trước ngày ông bị tay sai của Mỹ bắn chết trong xe bọc sắt của Mỹ. Họ đã khạc đờm xuống vỉa hè rồi họ hạ mình cúi liếm những bãi đờm họ đã khạc! Chữ nghĩa có 2 tiếng phản tỉnh vừa dễ yêu vừa ghê tởm. Những kẻ trót “bốc thơm” người khác, trót đánh bóng, mạ kền người khác vì những quyền lợi nào đó, khi cảm thấy mình hố hay khi cảm thấy quyền lợi mới beo bở hơn thì “thối” hóa “thơm” vá “thơm” hóa “thối”. Ngụ ngôn Tây phương đã có chuyện Cái lưỡi. Khổng Tử cũng đã luận về hạng người này. Và ở nước Mỹ, một vị tổng thống (tôi quên tên) đã nói thẳng vào mặt họ, đại ý: Bảo chỉ có thể bẩn thỉu, vô liêm sỉ, nhưng vẫn cần thiết có báo chí và tự do báo chí. Dĩ nhiên, tổng thống Mỹ luận về báo chí Mỹ. Vậy thì họ có quyền tự do khạc đờm rồi liếm lại đờm đã khạc trong 2 nghĩa bốc thơm, bốc thối. Chẳng sao, phản tỉnh là động từ tuyệt diệu để vỗ về lương tâm. Cũng còn để bán rẻ lương tâm nữa.

Cái số báo chí đã nhục mạ quân đội của Sàigòn: “Chết bị xe cán nhiều hơn là chết bị Việt Cộng giết”, chắc chắn, chưa hề đọc “Nghĩa vụ luận” nghề nghiệp. Họ không ưa ông tướng Phan Trọng Chinh, họ bênh cố vấn của họ bị ông Chinh khinh thường thì họ cứ “bốc thối” ông Chinh, việc gì họ phải hèn hạ xuyên tạc lính của Sư đoàn 25? Nước tôi có một số nhỏ thông tín viên chuyên bán tin mật cho các báo Mỹ, các hãng thông tấn ngoại quốc. Những thằng này chỉ cần tiền nhảy đầm, đánh bạc mà moi móc tin bẩn của các nhà lãnh đạo Sàigòn và vợ con họ để cung cấp cho báo Mỹ. Và báo Mỹ đã không phê bình cá nhân các nhà lãnh đạo, mà nó cứ ra rả miệt thị chế độ Sàigòn. Báo chí Mỹ là lũ cán bộ tuyên truyền cấp xã của cộng sản Hà Nội. Đại khái vài nét đan thanh của cái gọi là khai phóng tự do, dân chủ của ngụy quân tử Hoa Kỳ. Dân tộc ta được những gì, mất những gì từ chính sách tân biên cương của trọc phú Mỹ. Trước hết, về cái được. Ngôn ngữ của chúng ta giàu có thêm nhờ những danh từ “ôkê sa lem, năm bờ oăn, chích cun đai, pho ren, yét nô, ốp lai mít, xăn ốp bít” vân vân… Sĩ giới thì phong phú bằng các thầy thông ngôn, các cô bán bar xuất thân từ những English courses. Chúng ta có cả một chuồng tiến sĩ các kiểu tốt nghiệp ở Mỹ. Nông dân của chúng ta được nghĩ làm ruộng vì phi công Mỹ cần chỗ dội bom. Chúng ta được ăn gạo Mỹ hột tròn, gạo Thái Lan. Rừng đồi của chúng ta được thay mầu vì thuốc khai hoang của Mỹ. Phụ nữ của chúng ta được công khai làm điếm. Bọn lưu manh được làm giàu bằng chiến tranh. Tuổi trẻ của chúng ta được chết hết ở chiến trường. Chúng ta được ăn nhiều đạn đại bác và các bà tướng được ăn cắp vỏ đạn đồng bán cho lái buôn nước ngoài kiếm đô la gửi ngân hàng Thụy Sĩ. Các thành phố lớn của chúng ta được mở sì-nách-ba, sòng bạc, nhà thổ. Chúng ta được bán hàng Mỹ lậu ở chợ trời. Kinh tế của chúng ta được ngưng sản xuất. Xã hội của chúng ta được xuống dốc. Văn hóa của chúng ta được để tóc dài. Chính trị của chúng ta được thao túng bởi lũ vai u thịt bắp. Quốc hội của chúng ta được buôn bán lich cởi truồng. Và, vĩ đại nhất từ lập quốc, chúng ta được suy tôn thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ! Tóm lại, chúng ta được quá nhiều đến nỗi không thể kể hết.

Nhưng chúng ta cũng mất vô tả. Một nỗi mất dài dài, dài bằng lịch sử 200 năm Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ là nỗi mất nước. Về nỗi mất này, chúng ta đành chịu vì chúng ta khờ khạo, chúng ta không nhìn rõ cái gian manh của chính nghĩa 20 năm chính nghĩa khai phóng tự do, dân chủ. Và chúng ta không nhìn rõ lịch sử của chúng ta. Chúng ta cũng chẳng tiên đoán nổi những khúc rẽ oan nghiệt của lịch sử thế giới trong tương lai. Đừng bao giờ tự đặt chúng ta ở vào hoàn cảnh của Nam Triều Tiên hay Tây Đức. Nếu vị thế địa dư của chúng ta như ở Tây Đức thì dù lãnh đạo của chúng ta có ngu dốt, tham nhũng hơn nữa, Sàigòn vẫn cứ tồn tại. Và nếu Tây Đức hoán chuyển vị thế cho chúng ta, Tây Đức cũng sẽ bị dẹp đúng chu kỳ 20 năm. Sự có mặt của người Mỹ ở Việt Nam cùng với cuộc chiến mà người ta tưởng là “sa lầy” nhằm 3 mục đích rõ rệt: Một: Tạo dựng mâu thuẫn để chia rẽ Liên Xô và Trung Quốc. Hai: Thử vũ khí, đo vũ khí và thao dượt quân đội. Ba: Ngăn Trung Quốc tràn xuống Đông Nam Á. Mục đích thứ nhất thành công. Liên Xô và Trung Quốc đã biến thành cựu thù, thế lực của cộng sản giảm đi, ảnh hưởng của Cẩm Linh yếu dần, người Mỹ mở cửa vào Bắc Kính bằng xương máu lính Mỹ và lính Việt Nam cả 2 miền. Mục đích thứ 2 thành công. Ngay từ khi đắc cử tổng thống, ông Kennedy đã hứa với ông Hồ Chí Minh là “không xóa bỏ chế độ Hà Nội”. Vụ tàu Maddox dưới triều đại ông Johnson chỉ là cái cớ để không quân Mỹ học tập tránh né Sam-3, Sam-6 của Liên Xô. Hà Nội rêu rao Mỹ muốn xâm lược miền Bắc cũng chỉ nhằm khích động quân dân của mình và làm sáng “chính nghĩa” đánh Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam. Ông tướng Vĩnh Lộc, khi bị “biếm” về trường Cao Đẳng Quốc Phòng, có lần, dở trang báo Pháp chụp nguyên vẹn thành phố cảng Hải Phòng và buồn bã nói với tôi: “Ông xem, không tập dài dài, bao nhiêu phi vụ, bao nhiêu tấn bom mà Hải Phòng co sứt sát gì đâu. Họ đổ bom xuống núi!” Không lực Mỹ chỉ muốn đùa với lực lượng phòng không của công sản Hà Nội. Các kiểu máy bay oanh kích của họ đã vùng vẫy trên vùng trời miền Bắc. Chưa hề thấy một tên đảng viên cấp huyện nào chết vì bom Mỹ. Mà chỉ thấy dân vô tội chết oan, nhà cửa cháy rụi, mồ mà tổ tiên chúng ta bị khai quật. Vụ B52 “ta pi” bom xuống khu phố Khâm Thiên cũng không nhằm giải quyết chiến tranh. Đó là đòn của kẻ mạnh bắt kẻ yếu ngoan ngoãn, vì đã đến lúc … triệt buộc trong ván domino. Hà Nội cứ nói phét “Mỹ cút”. Mỹ cứ yên lặng để Hà Nói nói phét. Thế giới ghét Mỹ cứ hoan hô sự nói phét của Hà Nội. Tình báo Mỹ đã điều nghiên kỹ lưỡng. Khả năng chịu đựng B52 của Hà Nói không quá 12 ngày. Mỹ “ta pi” bom đúng 12 ngày thôi. Hà Nội vào bàn hội nghị nghiêm chỉnh. Nếu Mỹ đội bom thêm 1 ngày nữa, chỉ cần một ngày nữa thôi, Hà Nội đã đầu hàng, dân chúng miền Bắc đã hả hê và lịch sử Việt Nam đã khác hẳn. Nhưng sức mấy Mỹ thích Hà Nội tan rã. Bắc tiến là khẩu hiệu hò hét cho sướng miệng. Mỹ nuôi dưỡng chiến tranh Việt Nam, nuôi dưỡng cộng sản Việt Nam. Để dùng cộng sản Việt Nam làm “tiền đồn” ngăn Trung Quốc bành trướng thế lực khắp vùng Đông Nam Á.

Mỹ nghiên cứu lịch sử Việt Nam tường tận. Những trang sử quật khởi làm nên bởi Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ cho Mỹ một bài học: Chỉ có dân tộc Việt Nam mới đủ khả năng bịt lối nam tiến của anh khổng lồ Trung Hoa. Thái Lan, Mã Lai, Miến Điện không hề bị Trung Quốc đô hộ là nhờ cái nút Việt Nam đóng thật chặt. Nhật Bản muốn vùng vẫy ở Đông Nam Á cũng đã phải dùng Việt Nam làm bàn đạp. Mỹ đã hòa hoãn với Trung Quốc nhưng vẫn sợ Trung Quốc bành trướng. Đã đánh nhau với Hà Nói rồi, biết người biết mình rồi, Mỹ bỏ rơi Sàigòn và khoán cho Hà Nói làm phú-lít canh giữ không cho Trung Quốc xuống phía Nam. Lịch sử sang trang dễ dàng sau 20 năm âm mưu đê tiện. Mỹ giả vờ thua đau để gây phẫn nộ cho dân chúng, để chuẩn bị một khí thế dìều hâu y hệt vụ Trân Châu Cảng. Và ngân sách quốc gia dưới triều đại Jimmy Carter lên vọt. Và B-1 thay thế B52. Và bom sạch. Và vân vân … Và mới nhất Liban thê thảm. Mà không ai chửi chiến tranh dơ bẩn nữa! Mỹ xúi Việt Nam giải phóng Kampuchia. Tại sao? Vì sợ Kampuchia lọt vào tay bọn lãnh tụ tay chân của Bắc Kinh. Để Pol Pot va Iang Sary thủ tiêu hết bè lũ thân Liên Xô, để Pol Pot va Iang Sary dấn sâu vào tội ác và để hai tên đồ tể quá khích này phát động chiến tranh khắp biên giới Việt Miên, tràn qua lãnh thổ Việt Nam, khí thế đằng đằng, yêu sách hỗn xược, Mỹ mới bật đèn xanh cho Việt Nam. Và Việt Nam giải phóng Kampuchia cái rụp, ngon ơ, dưới cặp mắt sững sờ rồi nổi giận của Đặng Tiểu Binh. Không chiếm Kampuchia để Trung Quốc ép Việt Nam rồi thao túng Đông Nam Á à? Đâu được. Đạo diễn Mỹ lại trổ thêm thủ thuật. Liên Hiệp Quốc làm nổi trò gì cứu dân tộc Kampuchia? Những ông thông dịch Việt-Miên của đài phát thanh Hà Nội đã biến thành những lãnh tụ vĩ đại của nước cộng hòa nhân dân Khmer. Ván đã đóng thuyền. Đã đóng thuyền cho cuộc chơi của chính sách toàn cầu của Mỹ. Nhà đạo diễn xúi Trung Quốc “cho Việt Nam một bài hoc”. Đặng Tiểu Binh đánh qua rồi rút lẹ, sợ để lâu sẽ có thêm một Thoát Hoan, một Tôn Sĩ Nghị! Cộng sản Việt Nam đã là một cái xác chết. Đấm đá xác chết chỉ tổ mỏi tay thôi. Cái xác chết được dựng lên bởi đạo diễn Mỹ. Muốn xác chết gục xuống, chỉ cần biết thọc nách đạo diễn Mỹ. Buồn thay, người ta, những người muốn tiêu diệt cộng sản Việt Nam, vẫn ngây thơ ôm chân Mỹ, trông cậy Mỹ sẽ có lần đưa mình về giải thoát xứ sở. Ông Ford đã dõng dạc tuyên bố: “Lịch sử đã sang trang”. Người Mỹ đã hết sứ mạng “khai phóng tự do, dân chủ” ở Việt Nam rồi! Lật lại lịch sử để hồi tưởng, để học tập chứ không để … “encore une fois”! Chắc chắn, người Mỹ chỉ làm lịch sử Mỹ. Làm lại lịch sử Việt Nam phải là người Việt Nam, phải là tâm hồn Việt Nam đích thực.

Tóm tắt: Không còn chiến tranh ý thức hệ nữa. Quá độ của thứ chiến tranh này là sự chia vùng ảnh hưởng của hai thế lực bất lương, bất nhân. Ngày kia, chúng sẽ diệt lẫn nhau. Và nhân loai mơ ước cả 2 thế lực sẽ bị dìm sâu dưới đại hồng thủy. Để con người xứng đáng làm người. Nhưng mỗi con người, trước đó, cần truy nã thân phận mình, cần phải nhớ rằng, làm đấy tớ cho cộng sản thì khổ, lắm đấy tớ cho tư bản thì nhục. Nỗi khổ và nỗi nhục nhìn rõ ở Việt Nam, từ Sàigòn, ngày dài nhất.

Đêm đầu tiên trong cuộc đời tù đầy của tôi là đêm đầu tiên ở Một địa chỉ chung của chủ nghĩa. Tôi đã nằm trên bục xi măng, cố nhắm mắt mà không sao ngủ nổi. Tự nhiên, tôi nhớ miếng bìa đỏ ghi họ và tên của một người quen ghim vào tấm các-tông lớn treo trên tường văn phòng Hai Phận. Họ và tên của những người khác ghi trên bìa xanh. Tại sao họ và tên người quen tôi, người dính líu với tôi những vấn đề mới nhất lại bìa đỏ? Tôi nằm không yên. Tôi ngồi dậy, ra cửa hút thuốc lá với Hoàng Anh Tuấn. Và tôi bắt đầu nghĩ đến sự tra tấn. Tôi sợ …

--------------------------------
1
Đã được trả tự do khoảng 1986 - Chú thích của nhà xuất bản.

CHƯƠNG 4

Không phải tôi thích ở lại làm chứng nhân lịch sử. Tôi đã thành khẩn nói lên điều này trong lời tựa của hồi kỳ Nhà tù. Trung tuần tháng 4 năm 1975,...Hoàng Hải Thủy báo tin cho tôi biết là người Mỹ sẽ di tản toàn bộ khỏi Sàigòn và muốn đưa một số nhà văn, chủ bút, chủ nhiệm rời Việt nam để tránh sự trả thù cộng sản. Bấy giờ, Hoàng Hải Thủy làm phụ tá chủ bút tạp chí Cảm Thông của Phòng Thông Tin Mỹ trực thuộc Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Như những nhà văn khác, tôi đã đến Usis đường Lê Quý Đôn ghi tên. Tôi đã gặp Phạm Kim Vinh, Đỗ Quý Toàn, Đỗ Ngọc Yến, Nguyễn Viết Khánh, Doãn Quốc Sĩ … ở một nơi mà nếu không có 30-4-75 thì tôi không bao giờ thèm đặt chân tới. Giữa tôi và Usis có một mối thù. Mối thù nhẹ: Hồi nó còn là Juspao chễm chệ tại đường Nguyễn Huệ, Mark Crooker, viên chức Mỹ loại xịa, đọc nhật báo Sống, thấy tôi không mấy thiện cảm với chánh sách Mỹ ở Việt Nam, đã làm quen với tôi. Anh ta khuyên tôi nên Mỹ du ba tháng dưới sự bảo trợ của chính phủ Mỹ. Tôi nói tiếng Mỹ tôi nghèo lắm. Anh ta bảo không cần. Anh ta "tét" tôi vớ vẩn rồi đem hồ sơ đến tận báoSống chỉ dẫn cách điền vào những ô cần thiết. Nửa tháng sau, Mark Crooker tìm tôi, buồn bã: “Tôi rất ân hận. Mọi chuyện đã kể như xong, bất ngờ boss của tôi đổi ý. Một nhân viên Việt Nam báo cáo với ông ấy rằng Duyên Anh chống Mỹ quá khích. Ông ấy sợ trách nhiệm.” Tôi cười: “Thế càng tốt, sợ đi Mỹ về, tôi chửi bọn quan lại Mỹ ở Việt Nam kỹ hơn vì Mỹ ở Mỹ khác Mỹ ở Sàigòn”. Mark Crooker cười theo. Chúng tôi trở thành bạn. Crooker nói tiếng Việt rất giỏi và khoái tiếu lâm Việt Nam. Hôm anh hết nhiệm kỳ, anh có mời tôi dự tiệc từ giã Việt Nam. Tôi không đi. Mối thù nặng: Lũ cầy cáo ở Usis đã xúi chủ Mỹ áp lực với Bộ Thông Tin cấm tôi viết phóng sự Tiền Mẽo Sến Việt trên báo Sống. Đinh Trình Chính cấm luôn cả bút hiệu Thương Sinh của tôi. Thế mà tôi lại phải vát mặt đến Usis ghi tên vô danh sách … di tản. Rốt cuộc, Alan Carter, sứ thần và giám đốc Usis đã bỏ rơi chúng tôi, mặc dù, trong bài diễn vẫn rửa tay chạy tội, Ford đã hứa bằng mọi cách phải di tản những nhà văn, chủ bút, chủ nhiệm càng sớm càng tốt.


Một người duy nhất, trước khi bỏ con chạy thục mạng, còn gọi dây nói cảnh giác tôi: “Tìm đường khác mà cút, đừng tin bọn Mỹ, chúng nó chó đẻ lắm”. Người ấy là Phạm Duy. Tôi thực sự yêu Phạm Duy từ phút báo tử đó. “Bon Mỹ chó đẻ lắm!” Tôi bỗng nhớ người Mỹ Robert Jones với cái danh thiếp in bằng Hán Viết câu “tứ hải giai huynh đệ” đã thuộc cả tiểu sử tôi, đã hứa cho tôi biết tin tức để tôi chuẩn bị đảo tẩu và đã cút mất khỏi căn nhà số 35 đường Duy Tân. Alan Carter cũng là thứ người Mỹ đó. Ông ta cam kết với Nguyễn Viết Khánh. Rằng, danh sách nhà văn, chủ bút, chủ nhiệm được bảo vệ bí mật. Thế mà nó lại nằm trong tay người công an chấp pháp bí danh Hai Nghiêm! Nói người Mỹ ở Việt Nam chó đẻ thì hơi quá đáng. Nói họ vô tư cách, có lẽ, chính xác hơn. Còn chính sách chạy làng của Mỹ cần viết một pho xú thư cho nhân loại nghiền ngẫm. Người Pháp năm 1954 và người Mỹ năm 1975 là hai hình ảnh phải so sánh. Người Pháp thực sự bại trận ở Việt Nam, một phần họ thiếu cái khôn ngoan của người Anh, một phần tại họ bị người Mỹ phản phúc. Vài phi vụ B26 là giải quyết xong Điện Biên phủ, là lịch sử đổi khác. Người Mỹ từ chối. Người Mỹ buộc tay người Pháp lại như, trước khi cuốn gói, họ đã từ chối viện trợ cho Sàigòn, họ đã cúp bom đạn, chiến cụ. Pháo binh của chúng ta hứng hàng ngàn quả đại bác mà chỉ phản pháo vài chục quả! Tuy bại trận đau đớn, nhuc nhã và đang nghèo rớt mùng tôi, người Pháp vẫn đóng góp tích cực vào công cuộc di cư năm 1954. Những chuyện bay Hà Nội – Sàigòn đều đặn, tốt đẹp và lịch sự. Dĩ nhiên, bên cạnh tàu Mỹ, tàu Pháp đã biến thành con nhà nghèo, tiều tụy. Người Pháp ở Việt Nam hơn 100 năm rồi. Dân tộc Việt Nam cũng đã chán họ, nhất là trong nghịch cảnh chiến bại, xác xơ. Dẫu người Pháp luôn luôn chứng tỏ họ thuộc về một dân tộc văn minh, hào quang văn hóa của họ ngất trời; luôn luôn chứng tỏ là những con người có liêm sỉ, có trách nhiệm – trách nhiệm của người thua trận – người Việt Nam vẫn muốn xa họ để xích gần người Mỹ. Lý do thật giản dị và chua xót: Người Mỹ giàu. Và trên tàu Mỹ, những người di cư được chiêu đãi quá sức tưởng tượng. Tha hồ ăn và tự do đái ỉa! Thủy thủ Mỹ vui vẻ quét dọn.



Đã biến mất cái cử chỉ hào hoa của công từ Mỹ những ngày trước 30-4-1975. Người Mỹ hù “biển máu”, tạo ra "pa-ních" để trốn trách nhiệm. Đừng ngây thơ tưởng ông đại sứ Martin không biết gì đến nỗi phút chót thủy quân lục chiến Mỹ phải bảo vệ sự cuốn gói của ông ta. Ở phi trường Tân Sơn Nhất, hiện thực nhất là ở Tòa Đại Sứ Mỹ, lính thủy đánh bộ, tay trần, áo giáp, kè kè M-16 gắn lưỡi lê đã giáng những báng súng tàn bạo và đạp những cú thô bỉ xuống, vào thân thể những người Việt Nam sợ hãi “biển máu” cần trốn tránh. Vết ô nhục hẳn lên lương tri của dân tộc Hoa Kỳ ở cái tòa nhà vĩ đại và khốn kiếp mang tên Tòa Đại Sứ Mỹ. Nó cứ ở phi trường Tân Sơn Nhất đi. Không sao. Và chúng ta, có thể, chỉ trách cứ bọn lính bay mất dạy, vô giáo dục. Và, vì thân hữu ngầm với cộng sản, chính phủ Mỹ, có thể, dùng chữ của Việt Cộng để thanh minh rằng, đó chỉ là hiện tượng, không bao giờ là bản chất của cái dân tộc tạp nham có những vĩ nhân như Washington, Lincoln và … Al Capone! Những người Mỹ giáng báng súng xuống người Việt Nam đồng minh ở ngay Tòa Đại Sứ Mỹ những ngày kinh hoàng nhất thì, quả thật, dân tộc Mỹ đã ỉa lên cái chính nghĩa khai phóng tự do, dân chủ của họ cho các nước nhỏ bé trên thế giới. Vô số tướng lãnh, nghị sĩ, dân biểu đã leo tường vào sân Toà Đại Sứ Mỹ buổi chiều 29-4-1975, đã bị cư xử như súc vật. Và, hiện nay, vẫn ôm lấy chân Mỹ mà hít hà, mà mơ ngày về giải phóng vinh quang! Lý tưởng truyền bà tự do, dân chủ của Mỹ đấy. Trách nhiệm của họ đấy! Người Mỹ chỉ đáng xách dép cho người Pháp. Mãi đến 29-4-1975, người Việt Nam mới có dịp so sánh văn hóa Mỹ và văn hóa Pháp ở di tản 1975 và di cư 1954.


Một số người ngây thơ, trong đó có tôi, cứ đinh ninh rằng, người Mỹ sẽ là Noé của hồng thủy Việt Nam. Họ sẽ dành vài con tàu để cho những người Việt Nam lương thiện trở về giải thoát quê hương mình. Tất cả đã lầm. Công lao di tản của Mỹ ở Tân Sơn Nhất, ở Tòa Đại Sứ Mỹ chỉ nhằm phục vụ me Mỹ, bọn tướng tá đào ngũ trước lịnh đầu hàng, bọn làm giàu trong chiến tranh, bọn thư lại tham nhũng, bọn nghị sĩ, dân biểu hèn mọn và bọn gian manh. Những người lương thiện phải tìm phương tiện riêng, phải vượt biên và phải ở lại chịu cảnh ngục tù. Và rồi, một ông dân biểu thuộc tiểu bang California đã nao núng thẫn thờ: “Rác rưởi trôi giạt đến từ bên kia Thái Bình Dương!” Và rồi, mới nhất, tiêu biểu nhất, báo chí Mỹ “nghi" người hùng Nguyễn Cao Kỳ là trùm Mafia … mít! Cái cơ hội ngàn năm một thuở để loại bỏ lũ vô lại chính trường của dân tộc Việt Nam đã mất. Chúng ta lại thấy bọn vô lại hiện nguyên hình. Ở Mỹ. Để chờ được làm đầy tớ Mỹ. Và những người lương thiện, vì liêm sỉ, đành im hơi lặng tiếng trong cái thế tân xuân thu … phục quốc!

Bị bỏ rơi, 99% văn nghệ sĩ chống cộng ở lại. Họ đã là những nhà văn trực diện chống cộng sản; can đảm chống bất công, áp bức, bóc lột, chà đạp nhân quyền của bọn thống trị Sàigòn; hiên ngang chống chính sách nước lớn trịch thượng của Mỹ, bị nằm lại chờ đợi sự trừng phạt của cộng sản.

Bây giờ trở về nỗi sợ hãi của tôi. Một buổi tối đầu tháng 11 năm 1975, tôi đang ngồi trên vỉa hè trước cổng nhà mình, gặm bánh mi rất thảm não thì ông Đinh Xuân Cầu tới. Một thanh niên chở ông ta bằng Honda. Thanh niên thả ông Cấu xuống rồi lái xe sang bên kia đường chờ đợi. Ông ta hỏi:

- Tôi có chuyện muốn nói với ông, được không?

- Được. Ông cứ nói đi.

- Chuyện khá dài, nếu ông đồng ý, hai hôm nữa tôi cho người đến đón ông.

- Chuyện gì?

- Xuất ngoại.

Vượt biên. Tôi đang cần vượt biên. Nghe chuyện vượt biên, mắt tôi sáng lên.

- Đồng ý.

- Vậy tôi về. Người của tôi sẽ đến đón ông ngày mốt, buổi chiều. Họ sẽ nói “ông Hoàng mời ông”. Ông nhớ nhé, ông Hoàng.

- Tôi nhớ.

Ông Đinh Xuân Cầu băng sang bên kia đường. Honda cõng ông ta mất hút. Tôi quen ông Cầu hồi tôi còn ở cư xá Chú Mạnh Trinh, Phú Nhuận. Ông ta cùng chung một cư xá với tôi. Trước đó, tôi chỉ biết ông Đinh Xuân Cầu là tác giả cuốnBên kia Bến Hải, cuốn sách tố cáo tội ác cộng sản thủ tiêu các chiến sĩ quốc gia đầu tiên ở miền Nam, sau vụ di cư 1954. Tôi biết thêm ông Cầu là chủ tịch Hội Nạn Nhân Công Sản và tác giả kịch sản Đôi Kính. Có lần, anh Hoàng Văn Đức bảo tôi: “Đinh Xuân Cầu là người chống cộng cuối cùng của Đại Việt”. Tôi đã viết câu nầy trên nhật báo Sống. Buổi chiều, tôi không nhớ rõ ngày tháng, ông Cầu qua nhà tôi, cho tôi mượn cuốn sách của ông viết bằng tiếng Anh do Rank Corporation, New York xuất bản khổ lớn, in roneo. Bấy giờ tôi bận viết, cũng chẳng đủ tiếng Anh để đọc, chỉ lật qua trang đầu và biết đó là một tác phẩm chiến lược. Hai hôm sau, ông Cầu sang đòi lại. Bẵng đi mấy năm, tôi mới gặp lại ông, quá vội vàng và đầy bí mật. Người của ông Cầu rất đúng hẹn. Anh ta chở tôi xuống Xóm Mới, Gò Vấp. Lần đầu tiên tôi đến Xóm Mới, nơi cung cấp “quần chúng” biểu tình hoan hô, đả đảo và đón rước quốc khách cho các chế độ Sàigòn. Căn nhà ông Đinh Xuân Cầu, bí danh Hoàng, tạm ngụ là một căn nhà lá hiu quạnh. Sau tuần trà, ông Cầu vào chuyện:

- Tôi đã viết xong cuốn Chiến tranh chống chiến tranh nhân dân của cộng sản và phác họa một chủ thuyết mới. Tôi muốn ông đọc và san nhuận văn chương giùm tôi.

- Bằng tiếng Việt?

- Vâng, bằng tiếng Việt.

- Được.

- Tôi muốn mời ông tham gia tổ chức chống cộng của chúng tôi.

- Của các ông?

- Vâng, có linh mục Trần Hữu Thanh, anh Nguyễn Tiến Hỷ, nhiều người khác. Tôi đang đợi một nhân vật để giới thiệu ông.

- Ai đó?

- Trương Mộng Hoàng.

- Bao giờ ông ta tới?

- Cuối tuần. Ông ta đi Mỹ 2 tuần trước, đã hẹn với tôi về cuối tuần này.

- Ở Mỹ về?

- Vâng.

- Xin lỗi ông tí nhé, ông Cầu. Ông có mắc bệnh … mộng du không?

- Tôi nói chuyện nghiêm chỉnh. Có lẽ, phải bắt đầu bằng một tóm tắt quãng đời dỉ vãng của tôi…

Đinh Xuân Cầu người Việt, dân tộc Thổ. Từ bé, ông học ở trường Albert Sarraut vì là con địa chủ. Đậu tú tài toàn phần, ông không lên đại học mà mon men vào con đường chính trị. Ông là đàn em của Nguyễn Văn Hướng tự Mười Hướng, Xứ Ủy Đại Việt miền Nam, sau này là Tổng Thư Ký Phủ Tổng Thống, triều đại Nguyễn Văn Thiệu, và đồng chí của Phan Văn Trâm. Hai mươi bốn tuổi, tràn ngập lý tưởng và ngây thơ như đàn anh Nguyên Văn Hướng, ông Cầu không thích người Pháp chi phối cuộc chiến đấu chống cộng sản. Ông bất mãn ngụy quyền thời ấy và muốn đi tìm những người Việt Nam chân chính chống cộng sản, đồng thời, chống luôn cả Pháp và ngụy quyền Bảo Đại. Ba ông Hướng, Trâm, Cầu gặp Hoàng Đạo (không phải Hoàng Đạo, Nguyễn Tường Long). Thảo luận, họp bàn hợp lý, Hoàng Đạo dẫn Xứ Ủy Đại Việt miền Nam hoạt động ở Hà Nội và Trâm, Cầu ra ngoài bưng tìm những người Việt Nam chân chính chống cộng cứu nước (Thời Nguyễn Hữu Trí làm Thủ Hiến Bắc Phần, Đại Việt miền Nam ra Bắc thao túng chính trường, Nguyễn Ngọc Tân tự Phạm Thái, tự Bấy Bốp đã đặt văn phòng của mình ở căn nhà Hồ Chí Minh ngồi viết Tuyên Ngôn Độc Lập, phố Hàng Quạt, Hà Nội). Ra ngoài bưng, Hoàng Đạo hạ lịnh trói chặt 3 vị đảng viên Đại Việt. Y nói thẳng y là gián điệp cộng sản. Người đứng tuổi hẳn còn nhớ cái gọi là “Vụ án Hoàng Đạo”. Ba ông Đại Việt bị đưa vào Thanh Hoá, nhốt tại Trai Lý Bá Sơ. Ông Cầu phải gánh nước đái tưới rau hàng ngày. Trại giam của ông có một nữ cai ngục, người Hà Nội, lạc đường vào kháng chiến và công tác giữa rừng già. Công tử Đinh Xuân cầu cao ráo, đẹp trai, trí thức. Nữ cai ngục đem lòng yêu thương. Chúa ngục Lý Bá Sơ ghen tức, đề nghị đổi Đinh Xuân Cầu ra một trai giam miền Bắc, gần sông Đà. Hai ông Nguyễn Văn Hướng và Phan Văn Trâm ở lại Lý Ba Sơ và sau này được thả ra tại đây. Đinh Xuân Cầu đã lợi dụng một đêm mưa bão, trốn trại bằng một chiếc bè nứa mùa nước lũ. Nước cuốn ông ta đi. Sau những hãi hùng tưởng đã chết, bè của ông dạt vào một đồn lính Pháp. Ông khai báo sự thực với Trưởng đồn. Ngày ông được cứu sống đúng là ngày báo chí loan tin Malenkov thanh trừng Béria và tay chân của trùm mật vụ Liên Xô. Nếu tôi nhớ đúng thì vào năm 1953. Ông Cầu được giải về Phòng Nhì ở Hà Nội. Ông được trả tự do nhanh chóng. Vũ Ngọc Các, chủ nhiệm nhật báo Dân Chủ đã định làm lớn vụ Đinh Xuân Cầu. Nhưng các đồng chí già sợ Đinh Xuân Cầu nổi hơn mình đã ngăn cản Vũ Ngọc Các, đã nói xấu người chiến sĩ quốc gia ấy và vụ vượt ngục của Đinh Xuân Cầu chìm lắng.

Hiệp định Paris chia đôi đất nước. Đinh Xuân Cầu vào Sàigòn, cho xuất bản cuốn Bên kia Bến Hải. Rồi ông làm chủ tịch Hội Nạn Nhân Cộng Sản. Rồi ông bị chế độ Ngô Đình Diệm bắt nhốt. Rồi ông tung vốn liếng đi đào vàng ở Đà Lạt vì tin chắc Nhật Bản đã chôn dấu vàng ở vùng này. Vàng chưa thấy, vốn sắp cạn thì Đỗ Cao Trí gây khó khăn. Rồi ông viết kịch. Rồi ông mưu sinh bằng cách đi làm thuê cho Mỹ. Toà Đại Sứ Mỹ mướn cho ông một phòng ở khách sạn Majestic. Công việc của ông là mỗi sáng gọi dây nói cho Bộ Chiêu Hồi xem có anh hồi chánh viên nào về từ R không. Những hồi chánh viên R, thật hay giả, đều không chịu khai báo chút xíu tài liệu nào về cục R.

- Tôi sắp chán việc này thì một hôm Bộ Chiêu Hồi đẩy một thằng ở R về sang tôi. Tôi biết tụi cộng sản kín miệng lắm. Tụi Mỹ không cho cảnh sát đặc biệt khai thác hồi chánh viên, sợ cảnh sát tra tấn. Tôi, thay vì hỏi, đưa thằng này đi ăn chơi dài dài. Tiền của Mỹ mà. Tự nhiên tôi gặp may.

- Rồi sao?

- Tụi Mỹ bắt tôi đưa tài liệu đã khai thác cho chúng nó. Tôi không đưa.

- Rồi sao?

- Một thằng đại tá già đến dọa nạt tôi rồi hỏi lý do tại sao tôi cố giữ tài liệu. Tôi trả lời tôi có mối đại thù với cộng sản, tôi muốn đích thân tiêu diệt cục R. Nó vỗ vai tôi: Mày già rồi, Cầu ạ, mày chống CIA không lợi cho sự nghiệp chính trị của mày đâu. Tao khuyên mày nộp cho tui nó. Tôi bằng lòng nộp. Trước khi nộp, tôi đưa cho con bồ của tôi làm ở Hải Quân photocopie thêm 2 tập. Tôi đem giao Nguyễn Tiến Hỷ một tập, nhờ đem gấp trao tận tay Nguyễn Văn Thiệu, một tập tôi giữ. CIA biết. Nó đuổi sở tôi. Sau nầy cục R bị tan nát, Phạm Hùng chạy bán sống bán chết và Bộ Tư Lệnh của R đặt mãi ở Vinh.

Đinh Xuân Cầu tan mộng chính trị vì đã bị ghi trong số đen của CIA. Ông ta lấy cô vợ bé trẻ măng, xinh đẹp, người Long An, cháu của một kép cải lương già, bố vợ Hữu Phước. Rồi ông ta làm nghề thầu khoán.

- Tôi có những dịch vụ với Tòa Đại Sứ Mỹ. Chính ở Tòa Đại Sứ, tôi gặp Trương Mộng Hoàng. Tên thật của ông ta là Trương Phiên, mục sư, người Quảng Ngãi. Thoạt đầu, tôi ghét Trương Phiên lắm, tôi không thể tưởng tượng mục sư mà đi thầu khoán. Trương Phiên giao dịch mật thiết với văn phòng chính trị của Tòa Đại Sứ. Sau 30-4, ông ta đi tìm tôi.

- Để làm gì?

- Làm lại. Ông ta bảo nếu Linh mục Trần Hữu Thanh và một số chính khách không chết nhát thì lịch sử có thể thay đổi. Lịch sử có thể thay đổi bằng một cú chơi bạo cuối cùng. Những người chống cộng quyết liệt đã vận động xong một sự hợp tác với một tiểu đoàn nhảy dù. Tiểu đoàn Dù sẽ bao vây Toà Đại Sứ Mỹ, sẽ nhắm trực thăng mà hạ. Trực thăng không đáp xuống được để cứu ông Đại Sứ thì thủy quân lục chiến phải đổ bộ vào cứu. Chúng ta lợi dụng cơ hội này hô hào chiến đấu tiếp tục vì Mỹ can thiệp thì quân đội sẽ lên tỉnh thần. Kế hoạch định vào sáng 30-4. Bất ngờ, sáng 30-4, Dương Văn Minh ban lịnh giới nghiêm. Quý vị đầu não của kế hoạch nản lòng, nằm nhà thở dài. Thế là lịch sử sang trang!

- Bây giờ làm lại cách nào?

- Lập Nội Các ngay tại Sàigòn và lưu vong ngày sau khi họp báo. Đại diện các thông tấn xã và bảo chí quốc tế còn ở Sàigòn khá đông.

- Mời lối nào?

- Đã có người lo liệu.

- Lưu vong cách nào?

- Tôi đợi ông Trương Mộng Hoàng về nước vì câu hỏi của ông.

- Ông Cầu ạ, ông đã ngây thơ tin Hoàng Đạo, đã ngây thơ đi tìm vàng, ông lại ngây thơ tin Trương Phiên.

- Tôi tin Trương Phiên vì tôi biết đích xác Trương Phiên là gián điệp. Với một gián điệp, sự đi lại giữa Mỹ và Việt Nam không khó đâu. Biển mênh mông và phương tiện của gián điệp vô kể.

- Kể như ông đúng. Nhưng tại sao ông tin tôi? Ông không nghĩ rằng tôi có thể bị bắt lúc nầy ư? Ông không nghĩ rằng tôi đi tố cáo ông là tôi lập công chuộc tội à?

- Tác phẩm của ông không cho phép ông tố cáo ai cả.

- Cám ơn ông.

- Xưa có một lần người bạn của tôi tưởng ra chấp chánh, tôi đã nghĩ đến ông và định tiến cử ông giúp anh ta công việc tuyên truyền, mặc dù tôi biết ông ghê tởm chính trị. Tôi đã đọc cuốn Ảo vọng tuổi trẻ của ông.

- Và nay?

- Đích thân tôi mời ông làm Bộ trưởng Thanh Niên và Tuyên Truyền, ông nghĩ sao?

- Tôi nghĩ rằng ông nên mời người khác.

- Ai?

- Thiếu gì nhà văn lỗi lạc hơn tôi.

- Rất tiếc, họ không hiểu tâm lý tuổi trẻ, họ không được tuổi trẻ ái mộ bằng ông. Và, họ thiếu lửa.

- Ông Cầu, thế này nhé, làm Bộ Trưởng ở cái giai đoạn này thì không ngu tức là điên. Tôi không ngu, không điên, nhưng ưa bốc đồng. Rất tiếc chưa đến cơn bốc đồng của tôi. Vậy tôi sẽ đọc cuốn sách của ông trước, rồi trả lời ông mọi việc sau.

Tôi đem bản thảo cuốn Chiến tranh chống chiến tranh nhân dân của công sản của Đinh Xuân Cầu về đọc. Tôi rất đồng ý với nhà văn Erkine Caldwell: “Có hai hạng người: Hạng viết và hạng đọc”. Tôi đã viết, tôi không đọc nữa. Tôi đành chịu tối tăm, ngu dốt vậy. Bù đắp, những gì tôi viết hoàn toàn của tôi tự suy nghĩ riêng tư, tôi chẳng ảnh hưởng ai hết. Về tư tưởng cũng như về văn thể. Ở mấy trang tựa, ông Đinh Xuân Cầu nói lên những lời thành khẩn tạ lỗi đồng bào vì ông đã không chịu hoàn thành cuốn sách cách đây 10 năm. Ông can đảm nhận ông đã đóng góp trách nhiệm đánh mất Sàigòn. Theo ông, cuộc chiến đấu tiêu diệt cộng sản chưa chấm dứt, ngay tại quốc nội, cả miền Bắc lẫn miền Nam. Do đó, những suy tư của ông, những kinh nghiệm của ông vẫn còn cần thiết. Trong một chương nói về lịch sử chiến tranh nhân dân, ông Cầu đề cập tới Mao Trach Động và Tôn Tử Binh Pháp. Ông Cầu cho rằng, nhờ thất bại về nằm ở Diên An mà Mao Trạch Đông mới thấu triệt Tôn Vũ và sáng tạo chiến tranh nhân dân. Ông quả quyết Mao Trạch Đông là người duy nhất nắm linh hồn của binh pháp Tôn Vũ. Một chương khác, ông bàn về nghệ thuật tận diệt chi bộ xã của cộng sản. Vẫn theo ông, then chốt của chiến tranh nhân dân nằm ở các chi bộ xã. Tận diệt chi bộ xã là băng hoại chủ lực quân của cộng sản cả chiến thuật lẫn chiến lược. Tóm lại, cuốn sách của ông rất hữu ích cho bất cứ dân tộc nào tương tự hoàn cảnh Việt Nam. El Salvador chẳng hạn. Cuốn sách của ông Cầu lên án nặng nề những kẻ thi hành “Kế Hoạch Phượng Hoàng”. Bọn cán bộ Phượng Hoàng đã tàn sát nông dân vô tội, đã hãm hiếp, cướp bóc và dồn thanh niên nông thôn lên núi, vô rừng theo cộng sản. Rất nhiều vấn đề thuộc phạm vi chiến lược trong cuốn sách … cuối mùa của Đinh Xuân Cầu. Tôi đọc, tôi phục và tôi bùi ngùi. Một chút tội nghiệp ông Cầu. Chẳng thà nó cuối mùa, chứ nó đầu mùa, bọn tướng lãnh ngu dốt cũng đâu có đọc, dù họ lãnh đạo đất nước. Người hùng Nguyễn Cao Kỳ chỉ mê “cô gái Đồ Long”, say mê đọc trên máy bay cả những khi kinh lý thăm dân cho biết sự tình. Người hùng Nguyễn Văn Thiệu thì mê “Căn nhà ngoại ô!” Nhà văn hóa Đỗ Văn Rỡ biết mỗi môn hát bộ. Vân vân …

Mấy hôm sau, ông Cầu lại cho người tìm tôi. Lần này, ở một căn nhà khác tại Xóm Mới, tôi gặp ba vị linh mục 1 mà tôi biết tiếng và tiếng tăm của họ không làm dơ áo thánh. Ba vị linh mục nói với tôi về sự cần thiết của một đoàn kết chí tình, thành khẩn, cấp bách giữa Thiên Chúa giáo, Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành … Rõ ràng, ông Đinh Xuân Cầu muốn dùng đòn của nhà Mộ Dung ở Cô Tô. Ba mươi năm trước, cộng sản có liên tôn chống Pháp. Ba mươi năm sau, chúng ta có liên tôn chống cộng. Lần lượt, tôi gặp các nhà sư thuộc hệ phái Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự. Rồi các vị mục sư và các chức sắc Hòa Hảo, Cao Đài. Những hào mục ở Xóm Mới đã làm tôi cảm động. Họ yêu cầu tôi ra “giúp nước”! Ra giúp nước, với tôi, sao mà bẽ bàng thế! Bình sinh tôi lười biếng, lêu lổng, học hành ngô chẳng ra ngô, khoai chẳng ra khoai. Lớn lên, làm kẻ phiêu lãng, lê đế giày mòn trên vỉa hè đời. Rồi biến thành thằng kiêu sĩ ngu đần, coi mọi việc trọng đại của thế gian là trò đùa, coi tất cả lũ trí thức khoa bảng, lũ chính khách cơ hội, lũ lãnh đạo vai u thịt bắp là lũ … thập nguyên! Bây giờ, người ta bảo tôi “ra giúp nước”, hỏi chi tôi chẳng bẽ bàng.

Tôi trả ông Cầu tập bản thảo của ông với lời đề nghị:

- Không có gì phải san nhuận cả. Ông nên sắp xếp những sự kiện thành hệ thống mạch lạc là ổn rồi. Cũng cần cô động lại vì có nhiều dẫn chứng nhắc đi nhắc lại nhiều lần.

Ông Cấu buồn bã hỏi tôi:

- Còn đề nghị của tôi?

Tôi đáp:

- Ông muốn tôi viết gì, tôi sẵn sàng viết cho ông. Để tạ lòng tri kỷ. Còn cái chức Bộ Trưởng, xin ông tìm người khác.

- Chức ấy không hấp dẫn ông lúc này?

- Không hấp dẫn tôi bất cứ lúc nào. Là nghệ sĩ, tôi chỉ biết mơ mộng, không biết điều hành công việc.

- Ông bỏ qua sự mơ mộng giải thoát dân tộc?

- Tôi tự cảm thấy bất tài. Và nữa, tôi nhát lắm, tôi không chịu nổi đòn tra tấn. Tôi mà bị bắt, tôi sẽ khai hết và hỏng việc lớn của các ông.

- Không có chuyện bị bắt.

- Tôi đề phòng.

- Ông đã cương quyết từ chối, tôi không thể ép ông. Tuy nhiên, tôi muốn ông bớt chút thì giờ gặp Trương Phiên.

- Cuối tuần hẹn hò của ông ấy đã qua rồi.

- Tôi tin Trương Phiên phải về.

Cuối cùng tôi gặp Trương Phiên ở căn gác sép của nghệ sĩ cải lương già, bố vợ kép hát Hữu Phước. Chủ nhà hoàn toàn không biết chúng tôi mưu đồ chuyện gì. Ông ta chỉ nghĩ chúng tôi là bạn ông Cầu, cháu rể của ông ta thôi. Căn gác sép ở hẽm nhỏ đường Trần Quý Cáp là nơi hội họp thường xuyên của tôi, Hà Tường Cát (CPS cũ), Trần Văn Lợi … sau này. Trương Phiên trên 50 tuổi, dáng người mảnh khảnh, trông hao hao khuôn mặt Nhượng Tống chụp ảnh. Ông ta nói về Việt Nam trễ vì còn ghé Tân Gia Ba gặp Lý Quang Diệu để nhờ Ly Quang Diệu giới thiệu với Thái Ngũ ở Chợ Lớn tài trợ. Ông ta thuật chuyện gặp gỡ tổng thống Ford, ăn uống với Kissinger, họp bàn với các nghị sĩ Mỹ làm tôi tưởng tôi đang nghe chuyện Phong Thần! Máu hài hước trong tôi nổi dậy. Nhưng Trương Phiên nghiêm túc. Ông ta luận về cục diện thế giới ngày mai và cái thế tất bại của cộng sản Việt Nam. Ông ta nhìn tôi:

- Trước khi sang Mỹ, ông Cầu đã ngỏ ý với tôi muốn mời ông. Tôi đã cho bên ấy biết. Bạn thích ông, kẻ thù nể ông.

Tôi nghe không sướng tai chút nào cả. Tại sao? Vì cái hiện tại bi đát của tôi kéo tôi lại, không cho tôi leo lên tàu bay thật hay tàu bay … giấy. Mỗi ngày, vợ tôi cằn nhằn tôi hàng chục lần bởi cái tội không tích cực di tản. Người ta hỏng đường bay, đi tìm đường thủy. Tất cả đều thoát. Tôi hỏng đường bay là về … uống rượu. Tôi càng không ham lời khen của Trương Phiên bởi lời khen ấy sẽ đưa tôi vào sự “chết rũ trong tù”. Ở tù sợ lắm. Chưa nói bị tra tấn.

- Người Mỹ muốn xóa đi để làm lại tất cả, Trương Phiên nói. Đây là cơ hội bằng vàng của dân tộc ta. Miền Bắc quằn quại dưới gót thống trị của cộng sản ròng rã 20 năm, oán hận cộng sản ngút ngàn. Miền Nam thì đã hiểu rõ tim đen cộng sản. Những khuôn mặt nằm vùng đã xuất hiện đầy đủ. Bọn tướng lãnh lãnh đạo đã chạy trốn. Bọn làm giàu trong chiến tranh, bọn tài phiệt thao túng kinh tế, bọn tư sản mại bản Chợ Lớn đã bị cộng sản tiêu diệt giúp chúng ta. Để lâu cộng sản moc rễ đâm chồi, diệt rất khó. Lực lượng vũ trang tinh nhuệ của chúng ta còn nguyên. Nguyễn Cao Kỳ cũng muốn về… Ông nghĩ sao, ông Duyên Anh?

- Tôi nghĩ là chuyện của các ông.

- Bất cứ ai giải thoát dân tộc lúc này đều là Chúa Giê Su.

- Tôi chỉ muốn làm nghệ sĩ.

- Ông Cầu sẽ bàn thêm với ông.

Trương Phiên về. Ông Đinh Xuân Cầu cho tôi biết Trương Phiên sẽ làm Chủ tịch Hội Đồng Bão Quốc, một thứ Bộ Chính Trị chi phối toàn bộ cơ cấu quốc gia sau này. Còn ông Cầu là Thủ Tướng của Chính Phủ Lâm Thời Đệ Tam Cộng Hòa. Ông Cầu được bên ấy chỉ định thành lập Nội Các. Ông ta đã mời kỹ sư Nguyễn Thiện Ngọ, bác sĩ Nguyễn Đan Quế, linh mục Trần Hữu thanh, chính khách Nguyễn Tiến Hỷ … và những người nầy nhập cuộc. Nên kể thêm Hà Tường Cát và một số người trẻ từng du học bên Mỹ, Đức. Hậu thuẫn của Bão Quốc là liên tôn chống cộng.

- Ông có tin Trương Phiên không? Cầu hỏi tôi.

- Không. Tôi đã xa lạ ông ta, càng xa lạ ông ta. Tôi trả lời.

- Tôi tin Trương Phiên là người của Mỹ.

- Tôi không tin cả Mỹ.

- Phải có Mỹ, ông ạ!

- Mỹ đã phản phúc.

- Theo tôi, mưu đại sự thì nên gạt bỏ những tiểu tiết. Việc của ta xong, ta dở mặt như Fidel Castro, không để Mỹ chi phối cũng như không để cộng sản chi phối.

- Tôi đã nói với ông rồi. Tôi chỉ có thể giúp ông về những dịch vụ viết lách. Để tạ lòng tri kỷ. Sau này, ông thành công, tôi xin được tặng ông Chính sách thanh niên và tuyên truyền do tôi soạn thảo. Nếu phải lưu vong, tôi xin ông một chỗ và xin được coi như người bạn trẻ, như người “ký giả nhà nước”.

- Tôi biết ông băn khoăn chuyện gia đình.

- Vâng

- Chúng tôi sẽ đưa gia đình ông đi ngay sau khi nội các ra mắt báo chí. p>- Và tôi vẫn đóng vai “ký giá nhà nước”?

- Tùy ông thôi. Có ông giúp, tôi đã cảm động lắm rồi.

Chưa phải là... Bộ Trưởng Thanh Niên và Tuyên Truyền của chính phủ đệ tam dân chủ cộng hòa, chỉ mới là bạn của ông Cầu thôi, tôi đã được tham dự những phiên họp bí mật. Tự nhiên tôi quên mắt tôi đang là ai, đang ở đâu và tôi tưởng mình như một hiệp sĩ trong một hội kín dưới thời nô lệ Pháp. Ông Cầu nhờ tôi viết một cái tuyên ngôn cho Bảo Quốc và một bài kêu gọi quần chúng chuẩn bị nổi dậy. Tôi đã viết cái tuyên ngôn đầu tay trong cuộc đời viết lách của tôi tại căn nhà của Đặng Xuân Côn ở số 215D/17 Chi Lăng, Phú Nhuận, Gia Định. Tôi cảm thấy chữ nghĩa của tôi thật xứng đáng trong cái tuyên ngôn duy nhất đó. Còn bài kêu gọi quần chúng chuẩn bị nổi dậy thì tôi đã kêu gọi chính tôi, tôi để hết lòng tôi vào đó nên nó đầy lửa. Và tôi bỗng cảm thấy ông Đinh Xuân Cầu là người hiểu biết giá trị và tác dụng của văn chương trong chiến đấu. Nếu ông Ngô Đình Diệm suy nghĩ thêm về các nhà văn, ông sẽ là người hoàn toàn nhất. Luôn luôn, các nhà lãnh đạo Sàigòn quên mất cái thế độc lập của nhà văn, cái thế mà quần chúng bị trị ngưỡng mộ và tin cậy. Ròng rã 20 năm, từ 1954 đến 1975, nhà văn chưa hề lên tiếng chính thức chống hay không chống chế độ Sàigòn. Họ chỉ phản kháng trong tiểu thuyết. Cái vụ xuống đường đi ăn mày bệ rạc, vô ý thức của đám ký giả bất tài vô tướng và mấy anh văn sĩ Pen Club là sự lên tiếng ngu xuẩn chỉ nhằm bôi bẩn chế độ. Nhà báo đi ăn mày vì thất nghiệp, vì bị loại khỏi nghề, vì thiếu tài năng, vì không còn cho viết. Nhưng nhà văn, lại là nhà văn danh tiếng, tại sao họ không cho chữ nghĩa lên tiếng? Mà phải đi ăn mày? Ăn mày tức là cần bố thí. Ai bố thí? Rốt cuộc họ đi ăn mày tình thương của chế độ. Trò chơi dân chủ quá lỡ làng! Một người mà báo Mỹ ca ngợi là “lãnh tụ tương lai” của Đông Nam Á là Hoàng Đức Nhã, tôi thấy cũng chỉ là một tên ngu dân trong chức vụ Tổng Trường Dân Vận. Trong nhiệm kỳ thông tin, tuyên truyền của ông ta, báo chí và quần chúng xa xả chửi bới sự độc diễn của chủ ông ta. Có một dịp may rửa nhục cho vị tổng thống anh mình mà ông ta không biết. Là cái điện văn chúc mừng “tổng thống tái đắc cử”. Điện văn ấy ghi tên một văn hào thế giới lỗi lạc: C. V. Gheorghiu, tác giả Giờ thứ hai mươi lăm, Niềm may mắn thứ hai, Kẻ ăn mày phép lạ … đã dịch sang Việt ngữ và làm say mê độc giả Việt Nam. Điện văn ấy được đăng khiêm tốn trên cả báo nhà nước. Một người làm tuyên truyền giỏi thì đã túm lấy cơ hội quý báu nầy, in hình và tiểu sử Gheorghiu, nhà văn chống cả cộng sản lẫn tư bản, mời Gheorghiu qua Việt Nam diễn thuyết, phỏng vấn. Và một câu ngắn khen tổng thống, chắc chắn, tổng thống nở mày, nở mặt. Tổng thống sướng rên, tổng thống thấy giá trị một câu ngắn của nhà vẫn lỗi lạc hơn cả gần hai nhiệm kỳ được cầy cáo suy tôn. Một dịp nữa để đánh vào mặt Hà Nội và báo chị Mỹ thân Hà Nội là dịp nhà văn "best seller" của Mỹ, James Jones, tác giả Thói đời, Như thác đổ, Trận chiến trên đồi voisang thăm Việt Nam. Ông đã ra Huế, điều tra vụ Mậu Thân và tuyên bố: “Vụ tàn sát tập thể ở Huế là vụ có ý của cộng sản Hà Nội”. Lời tuyên bố của nhà văn James Jones, của tác giả “Tant qu'il y aura des hommes” mà khán giả đã xem muốn nát cuốn phim nhựa cùng với “Comme un torrent” … cũng chỉ được đăng khiêm tốn trên báo nhà nước. Và Tổng trưởng Dân Vận không biết vì ngủ hay vì bận đưa ca sĩ đi phá thai mà chẳng chịu cho nổ, chẳng chịu mời James Jones đi khắp nước diễn thuyết lên án cộng sản khát máu với chứng cớ Huế, Mậu Thân rõ ràng. Tổng thống Mỹ nói không ai nghe. James Jones nói cả thế giới tin. Tiếc thay! Càng tiếc thêm, những Mặt trận, những Hội đoàn chống cộng hải ngoại vẫn không hấp dẫn nổi nhà văn danh tiếng. Bởi vậy, cũng đừng ai đặt ra trách nhiệm này nọ cho nhà văn và bắt nhà văn phải có trách nhiệm này nọ. Nhà văn chỉ có trách nhiệm với những người đọc họ. Nói đúng nhất là dùng lời của Grabiel Marquez, tác giả Trăm năm hiu quạnh, giải Nobel văn chương 1982: “Bổn phận của nhà văn là viết cho hay”. Nhà văn tự cho mình ôm hàng tấn trách nhiệm mà viết không hay thì cũng vất đi. Tôi đã viết cái tuyên ngôn thật hay. Thật hay vì mới chỉ có tôi, ông Cầu, ông Phiên biết! Ông Cầu chưa kịp xử dụng những gì tôi viết cho ông thì tên ông đã ghim trên miếng bìa đỏ.
--------------------------------
1
Về vụ Đinh Xuân Cầu, trừ những người đã bị bắt, bị thẩm vấn và đã lãnh án bất thành văn, tôi mới dám nêu rõ tên tuổi.

1      2           4      5      6      7     8

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét