Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2013

CỐ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM - MỘT LÒNG VÌ NƯỚC VÌ DÂN

* VÒNG HOA TƯỞNG NHỚ...Thương thay, ba anh em ông Diệm đã bị bọn phiêu lưu chính trị tay mơ thanh toán tàn bạo, nghịch thường với đạo lý Khổng Mạnh, với truyền thống hiền hòa, ân nghĩa của dân tộc...Ông nằm xuống mà hồn non sông rung động !...


"Không vì tình riêng mà quên phép nước", lúc còn thủ đắc quyền lực, TT Diệm đã một lần trực tiếp ra lệnh cho Phòng Quan Thuế Phi Trường Tân Sơn Nhất khám xét kỹ càng hành lý của Đại Sứ Ngô Đình Luyện khi ông này từ chuyến du ngoạn Hồng Không trở về lại Sài Gòn. Kết qủa bất ngờ là không một món hàng lậu thuế nào được tìm thấy để biến thành ngòi nổ cho một xì căng đan chính trị ầm ỹ. Chuyện tưởng nhỏ và tầm thường ấy lại đặc biệt mang ý nghĩa quan trọng, đáng cho mọi người suy nghĩ vì cách đối xử nghiêm minh nội trong gia đình họ Ngô và việc thi hành nghiêm chỉnh luật pháp Quốc Gia.

BÀI THƠ CHÍ KHÍ CỦA CỐ TỔNG THỐNG VIỆT NAM CỘNG HÒA NGÔ ĐÌNH DIỆM

http://www.buinhuhung.com/TT_ND_Diem/Toongv10.jpg
Cố Tổng Thống NGÔ ĐÌNH DIỆM

Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm (tên thánh là Gioan Baotista) sinh ngày 3 tháng 1 năm 1901 tại làng Đại Phong – xã Phong Thủy – huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Thân phụ là đại thần Ngô Đình Khả, thân mẫu là Phạm Thị Thân. Cụ Ngô Đình Diệm là một trong những Nho sĩ nổi danh vào giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, được hấp thụ truyền thống Nho gia từ dòng tộc và từng theo học các trường dòng, rồi Quốc học Huế và được cấp học bổng du học Pháp nhưng từ chối để theo học trường Hậu bổ Hà Nội (tốt nghiệp năm 1921). Từ 1921 đến 1929, cụ Ngô Đình Diệm kinh qua các chức quan nhỏ tại Trung Kỳ, đến năm 1933 thì được Hoàng đế Bảo Đại bổ dụng làm Lại bộ Thượng thư – trở thành vị Thượng thư trẻ tuổi nhất trong lịch sử triều Nguyễn.
Thời kỳ trước và trong Đệ nhị Thế chiến, cụ Ngô Đình Diệm cùng các anh em thành lập Đại Việt Phục hưng Hội với chủ trương thiết lập nước Đại Việt quân chủ lập hiến, tự chủ tự cường. Sau khi Việt Minh thực hiện cuộc Cách mạng Tháng Tám (1945), từ đó đến 1953, anh em cụ Ngô Đình Diệm phải lưu lạc ngoại quốc (riêng anh cả Ngô Đình Khôi cùng con trai Ngô Đình Huân đã bị Việt Minh thủ tiêu từ trước). Năm 1954, cụ Ngô Đình Diệm về nước, cùng với các em trai là Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn kiến lập Cần lao Nhân vị Cách mạng Đảng và đắc cử Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ngày 23 tháng 10 năm 1955 trong một cuộc trưng cầu dân ý phế truất Quốc trưởng Bảo Đại của chính thể Quốc gia Việt Nam. Cụ Ngô Đình Diệm trở thành vị Tổng thống đầu tiên của nước Việt Nam, tại vị từ 1955 đến 1963 thì bị ám sát cùng bào đệ Ngô Đình Nhu. Đó cũng là thời điểm kết thúc nền Đệ nhất Cộng hòa. Bên cạnh đời hoạt động chính trị đầy sôi nổi, cụ Ngô Đình Diệm còn được biết đến vói tư cách tác giả một bài thơ chí khí được lưu truyền…

TÀI LIỆU MẬT CỦA CIA VỀ GIA ĐÌNH HỌ NGÔ VÀ CÁC TƯỚNG LÃNH


Hai tác phẩm: “CIA and the Generals: Covert Support to the Military Government in South Vietnam” và “CIA and the House of Ngo: Covert Action in South Vietnam, 1954-1963.” Tác Giả: Thomas L. Ahern, Jr. Center for the Study of Intelligence ấn hành.

Một số tiết lộ về cuộc chiến từ tài liệu CIA Lần đầu tiên trong lịch sử của Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ (CIA), ban biên tập của cơ quan cho giải mật hai tập tài liệu quan trọng về liên hệ CIA và Việt Nam. “Lần đầu tiên” trong nghĩa này là hai quyển sách trên thuộc lọai (narrative history), có đầu đuôi, chú thích – và quan trọng hơn hết – tác giả là người thật, đọc nhiều tài liệu và viết lại có ngọn ngành cho độc giả.

CỐ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM VỚI NHƯNG BÀI HỌC LỊCH SỬ

Linh mục Trần Quý Thiện

Có những người chết đi nhưng thế giới không bao giờ quên được họ, vì đời sống họ đã ảnh hưởng tới xã hội này nhiều quá. Sự nghiệp họ được truyền tụng từ thế hệ này qua thế hệ khác, nhưng không bao giờ bớt phần vinh quang rực rỡ. Tư tưởng và hành động của họ vẫn được người đời coi như khuôn vàng thước ngọc để noi theo bắt chước. Họ là ai? Xin thưa đó là các vị Anh Hùng của Dân Tộc.

Trong dòng lịch sử bốn ngàn năm văn hiến của dân tộc Việt, trải qua các triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn, người ta thấy trên giang sơn gấm vóc thân yêu của chúng ta đã phát sinh nhiều vị Anh Hùng Dân Tộc, mà ngày nay chúng ta là con cháu luôn ngưỡng mộ và tri ân. Mỗi thời đại đều xuất hiện những vị Anh Hùng khác nhau để Kiến Quốc và Cứu Quốc. Nếu sau thời đại các vị Vua Hùng, chúng ta thấy có Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh thì trong thời đại kế tiếp, chúng ta có Lê Lợi, Lý Thái Tổ, Lê Thánh Tôn, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ và trong thời cận đại, chúng ta có Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Trường Tộ v.v…

QUAN ĐIỂM CỦA ÔNG NGÔ ĐÌNH NHU VỀ HIỂM HỌA XÂM LĂNG CỦA TRUNG CỘNG

Tiến Sĩ Phạm Văn Lưu


Khi hay tin Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị ám sát, Cố Tổng Thống Tưởng Giới Thạch của Trung Hoa Dân Quốc, đã nhận xét: Người Mỹ có trách nhiệm nặng nề trong việc vụ ám sát xấu xa này. Trung Hoa Dân Quốc mất đi một đồng chí tâm đầu ý hợp… Tôi khâm phục ông Diệm, ông xứng đáng là một lãnh tụ lớn của Á Châu, Việt Nam có lẽ phải mất đến 100 năm nữa mới tím được một lãnh tụ cao quí như vậy. Nhưng khi đọc xong tác phẩm Chính Đề Việt Nam của ông Ngô Đình Nhu[2], tôi nghĩ cần phải thêm vào lời nhận xét đó, Việt Nam có lẽ phải mất đến 100 năm hay nhiều hơn nữa mới tìm được một nhà lãnh đạo có viễn kiến chính trị sâu sắc như ông Nhu..

TỪ CHẾ ĐỘ NGÔ ĐÌNH DIỆM ĐẾN CÁI CHẾT CỦA NGÔ ĐÌNH CẨN


Cái chết của một Tổng thống như ông Ngô Đình Diệm, tất nhiên không phải là một sự vô lý đơn giản như người ta thường nghĩ. Nó đã được sửa soạn tinh vi, vì làm thế nào để giết một ông Tổng thống đã cầm quyền chín năm không phải là chuyện “tùy hứng”.

Người em út
Quanh cái chết của Tổng thống Diệm đầy rẫy những sự vô lý nông nổi bi thảm. Sau khi ông chết đi, lại còn bao nhiêu sự vô lý khác. Chữ vô lý ở đây xin được hiểu theo sự suy đoán trong bản chất và tinh thần Việt Nam vốn trọng tình cảm, sự trung hậu và lễ nghĩa.
Một trong những sự vô lý đó là cái chết của ông Ngô Đình Cẩn người em thứ 5 của Tổng thống Diệm. Cái chết này đã được công khai hợp pháp hóa vì ông Cẩn được ra tòa xét xử. Nếu bị viên công tố gay gắt buộc tội thì cũng chả có cái gì vô lý. Khi đảo chính bùng nổ thì Tướng Đỗ Cao Trí đang là Tư lệnh Vùng I chiến thuật. Ông tướng này là người có thẩm quyền duy nhất tiếpthu toàn vẹn những gì có ở bên trong căn nhà tổ ấm của gia đình họ Ngô. Ông Cẩn tưởng đã thoát thân… dù tấm thân chỉ còn hai bàn tay trắng. Trong cuốn Việt Nam Crisis, hai tác giả Stephen Pan và Daniel Lyons đã viết như sau:

TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ NHỮNG KẺ TỪNG MƯU SÁT ÔNG


Năm 1954, sau khi nhậm chức Tổng Thống, vị lãnh đạo dân cử đầu tiên của nước Việt Nam Cộng Hòa nói riêng, và của cả nước Việt Nam nói chung, Tổng Thống Ngô Đình Diệm cùng những người cộng sự liền bắt tay vào việc ổn định lại miền Nam Việt Nam, trong tình trạng rối ren tương tự như loạn sứ quân thời Nhà Đinh nước ta thuở xưa vậy. Đồng thời xây dựng và phát triển nền dân chủ non trẻ tại miền Nam tự do....

Trong suốt 9 năm lãnh đạo miền Nam Việt Nam (1954-1963), Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng là vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, đã không chỉ nhận được sự ủng hộ của đại đa số người dân miền Nam yêu chuộng tự do, cùng những người đã từng chịu ơn của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và chính quyền Việt Nam Cộng Hòa như hơn một triệu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam tránh họa cộng sản, mà Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã bị các phe nhóm, đảng phái chính trị, bọn cộng sản nằm vùng đội lốt tăng ni... xách động quần chúng gây náo loạn, phá rối trị an ngay trong lòng chế độ. Và, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã từng bị ám sát ba lần bất thành. Những lý do ngụy tạo là “độc tài, gia đình trị, kỳ thị tôn giáo”.... Tất cả mọi sự thật, nhân chứng sống, lần lượt phơi bày trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Tuy nhiên, những kẻ theo giặc, tiếp tay cho giặc, phản loạn trong thời Đệ nhất Cộng Hòa, cho tới nay, chúng vẫn ngụy biện bằng nhiều bài báo, sách vở, tài liệu giả tạo, thiên cộng để chạy tội trực tiếp, hoặc gián tiếp đã đẩy cả một dân tộc đến bờ vự thẳm như chúng ta đã và đang chứng kiến.

VỀ MỘT NHÂN VẬT LỊCH SỬ QUẢNG BÌNH CẦN BIẾT TỚI: CỤ NGÔ ĐÌNH KHẢ (1857-1923)


(Tham luận của Nguyễn Đức Cung, 
Cao Học Sử Học Viện Đại Học Huế (1974)
Hiện cư ngụ tại TB Pennsylvania, Hoa Kỳ)

I.- LỜI THƯA TRƯỚC

Do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh Quốc - Cộng đã chấm dứt cách đây hơn ba thập niên (1960-1975), một cuộc chiến được mang nhiều tên gọi, thí dụ nhìn từ quan điểm của người Cộng Sản thì là cuộc chiến tranh giải phóng, từ quan điểm của người Việt quốc gia, đó là cuộc chiến tranh bảo vệ tự do, và với người ngoại quốc như Hoa Kỳ chẳng hạn, họ gọi đó là chiến tranh Việt Nam (The Vietnam War), nhưng rồi mới đây giới nghiên cứu sử học lại gọi đó là cuộc chiến tranh ủy nhiệm [1], một số sự kiện lịch sử cùng nhiều nhân vật có ảnh hưởng trên lịch sử Việt Nam trong đó có một số nhân vật của tỉnh Quảng Bình cho tới nay vẫn không được nhắc nhở tới, thậm chí còn là những nhân vật “kị húy” nghĩa là giới nghiên cứu sử học nói riêng và giới cầm bút nói chung trong nước không ai được quyền viết tới hoặc đề cập đến khi chưa được phép của nhà cầm quyền đương nhiệm. Đây là trường hợp cụ Ngô Đình Khả, thân sinh của Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm (1901-1963) của Miền Nam Việt Nam, một trong những nhân vật lịch sử quan trọng của tỉnh Quảng Bình. Người ta sở dĩ không dám hay không muốn nhắc nhở tới cụ Ngô Đình Khả thì ngoài lý do huyết tộc (là thân sinh của một vị từng là Tổng Thống đứng đầu Việt Nam Cộng Hòa) còn có nhiều lý do khác mang tính cách chính trị, tôn giáo và tri thức. 

ĐÁNH GIÁ LẠI VỀ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM: CÁI NHÌN KHÁC VỀ MIỀN NAM

Vẫn nằm trong loạt bài đánh giá về nhân vật Ngô Đình Diệm nhân 45 năm ngày xảy ra cuộc đảo chính tháng 11.1963, xin giới thiệu với quý vị bài viết của tiến sĩ Kathryn Statler, Phó Giáo sư Khoa Lịch sử, Đại học San Diego, Hoa Kỳ.

Trong cuốn sách của tôi, Thay thế Pháp: Nguồn gốc của sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam, tôi đánh giá cách người Mỹ thay Pháp ở miền Nam sau Hội nghị Geneva 1954.

#Kathryn C. Statler
Hiệp định Geneva đã tạm tái lập hòa bình giữa lực lượng của Hồ Chí Minh và Pháp, và chia đôi Việt Nam ở vĩ tuyến 17. 

Các lãnh đạo Pháp tin rằng họ sẽ duy trì ảnh hưởng ở Nam Việt Nam, nhưng không được khi người Mỹ bắt đầu chiếm các vị trí trước đây nằm trong tay Pháp. 

Khôn hơn người ta tưởng

Có lẽ yếu tố quan trọng nhất định hình sự chuyển đổi ảnh hưởng từ Pháp sang Mỹ chính là Diệm. Sau khi đã loại bỏ được ảnh hưởng của Pháp ở miền Nam, ông lại xoay sang mục tiêu tìm kiếm độc lập trước người Mỹ. 

Các quan chức Mỹ ủng hộ Diệm sau Geneva vì họ bị thu hút bởi nhãn hiệu chống tham nhũng, chống cộng, thân phương Tây, Thiên Chúa giáo. Nhưng hóa ra Diệm, một cách có hệ thống, đã phá ngang các yêu cầu của Mỹ ở miền Nam, tuyên bố ông là một lãnh đạo Á châu tự chủ. 

Lúc Diệm trở thành Thủ tướng, cả đồng minh lẫn kẻ thù đều nghĩ Diệm là một người có đạo đức, nguyên tắc, trung thực nhưng không khôn lắm về chính trị. 

CHỦ NGHĨA NHÂN VỊ: CON ĐƯỜNG MỚI, CON ĐƯỜNG CỦA TIẾN BỘ

Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Tấn

Viết cho ngày giỗ 2007 
Ông Ngô-Đình-Diệm đã đi vào lịch-sử Việt-nam với tư-cách là vị Tổng-Thống dân-cử đầu-tiên của nền Đệ-Nhất Cộng-Hòa.  Một nhà lãnh đạo với một viễn-kiến rõ rệt và độc-đáo về một mô-hình phát-triển xã-hội Việt-nam thời hậu thuộc-địa.  Trong một bài điểm sách, Giáo-sư Sử-gia Edward Miller viết: 
“Ngô Đình Diệm là một người có hoài bão.  Với tư cách là người lãnh đạo miền Nam từ 1954 đến 1963, Diệm mong muốn trở thành nhà lãnh đạo hàng đầu trong việc xây dựng chính quyền quốc-gia, Ông cương quyết tìm ra một đường lối khác biệt với con đường mà Hồ Chí minh và Đảng Cộng-Sản Việt-nam đang theo đuổi.”  (2003) 
Và Sử gia Henry Fairbanks đã tóm tắt sự thật lịch sử này bằng lời lẽ khách quan, trong một bài báo tưạ đề “The Enigma of Ngô Đình Diệm”, được đăng trong tờ Commonweal, như sau:

LỜI TUYÊN BỐ CỦA CHÍ SỸ NGÔ ĐÌNH DIỆM NGÀY 16 THÁNG 6 NĂM 1946

Tổng Thống Ngô Đình Diệm Và Cựu Hoàng Bảo Đại
Mấy lúc gần đây, người ta hay nhắc tên tôi trong những thông cáo, trong những buổi truyền thanh hay trên mặt báo chí: người ta bàn đến sự tổ chức một chính phủ Ngô Đình Diệm, và rồi người ta cũng tuyên bố hoãn lại. Người ta còn nêu ra lý nọ lý kia phần nhiều là bịa đặt do những bộ óc giàu tưởng tượng.


Những người có thiện cảm với tôi cũng như những người có ác cảm, đã bàn tán mông lung về thái độ của tôi. Muốn tránh những hiểu lầm; tôi tưởng nên nói tóm lại ba điểm sau đây, mong rằng những ý kiến nêu ra có thể đem lại đôi chút êm dịu trong lòng người, và góp sức vào việc tạo nên một nền tảng vững chắc, ngõ hầu những đồng bào có tâm huyết có thể dùng để hoàn thành công cuộc tranh thủ độc lập cho Tổ quốc và đem lại thuận hoà giữa quốc dân.

CHÍN NĂM BÊN CẠNH TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM

Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Vua Thái Lan
Mạn đàm với cựu Đổng Lý Quách Tòng Đức
Tuy là bạn tâm giao với người viết từ lâu, ông Quách Tòng Đức luôn luôn tỏ ra dè dặt và thận trọng khi nhắc đến những năm dài làm Đổng Lý Văn Phòng cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm, vị lãnh tụ khai sáng nền Đệ Nhứt Cộng Hoà Việt Nam. Sau chính biến 1.11.1963, ông Đức trở lại ngành Tư Pháp và được thăng trật Chủ Tịch Tham Chính Viện năm 1969. Tháng 4.1975, Sàigòn thất thủ, ông và gia đình xin tị nạn chánh trị tại Paris. Chánh phủ Pháp tuyển dụng ông vào Phòng Tố Tụng Tổng Quát của thị xã Paris, thời thị trưởng Jacques Chirac. Ông về hưu đầu năm 1984. Nay 89 tuổi, trí tuệ còn minh mẩn tuy sức khỏe không tốt như trước. Gần đây, trong những lần gặp nhau lại ở Pháp cũng như qua nhiều cuộc điện đàm có ghi âm, ông Đức đã chịu thố lộ với người viết nhiều điều liên hệ đến giai đoạn chín năm phục vụ vị nguyên thủ quốc gia bị sát hại năm 1963.

Lần đầu gặp Chí Sĩ Ngô Đình Diệm

VỀ MỘT BÀI THƠ CỤ PHAN BỘI CHÂU TẶNG ÔNG NGÔ DÌNH DIỆM

Gần đây, một vài vị khán giả của đài truyền hình STBN có liên lạc với người viết để hỏi thăm thêm về một bài thơ của cụ Phan Bội Châu tặng cho ông Ngô Đình Diệm vào năm 1933 mà họ đã nghe được trong một buổi nói chuyện giữa người viết và ký giả Tường Thắng, người phụ trách Chương Trình Lịch Sử Cận Đại trên đài truyền hình STBN, hồi mấy tháng về trước.

Người viết xin mượn bài viết này để trả lời cho câu hỏi đó.

Trong số những nhà cách mạng chống lại thực dân Pháp trong lịch sử Việt Nam thời đầu thế kỷ thứ 20, có hai người cùng họ Phan được toàn dân xem như là hai nhà cách mạng vĩ đại nhất, đó là cụ Phan Sào Nam tức là Phan Bội Châu và cụ Phan Tây Hồ tức là Phan Chu Trinh. Cụ Phan Chu Trinh từ trần tại Sài Gòn vào năm 1926 và Cụ Phan Bội Châu từ trần vào năm 1940, sau hơn 15 năm bị quản thúc tại Bến Ngự, Huế.

VONG THƯ TỪ QUẦN ĐẢO HOÀNG SA

Lời Tác Giả:  Luật Biển VN được Quốc Hội nước CHXHCN VN thông qua ngày 21/6/2012 đã thừa nhận quần đảo Hoàng Sa là một phần lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam. Vậy có nghĩa là, những ai đã hi sinh trong các cuộc chiến bảo vệ Hoàng Sa trước giặc ngoại xâm đều là những Liệt Sĩ hi sinh vì Tổ Quốc. Thế tại sao, 74 người lính VNCH hi sinh trong Hải Chiến Hoàng Sa ngày 19/1/1974, mới cách đây 39 năm thôi mà chưa được nhà nước Việt Nam hay một cấp chính quyền địa phương nào công nhận họ là những Liệt Sĩ? Phải chăng, việc hi sinh của thiếu tá Ngụy Văn Thà và 73 đồng đội của anh đã đi ngược lại ý nguyện của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng và chủ tịch Hồ Chí Minh đã được thể hiện trong bức công hàm gửi chính phủ Trung Quốc ngày 14/9/1958, nên nhà nước CHXHCN Việt Nam không dám chấp nhận?


Nhân ngày Hoàng Sa, 19/1/2013, kính xin gửi tới quí vị độc giả gần xa. 

Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2013

LỜI THƯƠNG TỪ BÀ QUẢ PHỤ NGỤY VĂN THÀ


Lời Tác Giả:  Chỉ còn đúng một ngày nữa là tròn 39 năm ngày Hoàng Sa bị quân xâm lược Trung Quốc cưỡng chiếm. Ngày 19/1/1974 đó đã được đánh dấu bằng một trận Hải Chiến Hoàng Sa oanh liệt giữa Hải Quân VNCH với quân Trung Quốc xâm lược. Do phía Trung Quốc có lực lượng đông, chuẩn bị kĩ lại được Hoa Kỳ bật đèn xanh và Miền Bắc làm ngơ, nên Hải Quân VNCH đã thất bại! Nhưng tấm gương chiến đấu dũng cảm và xả thân vì Tổ Quốc của các chiến sĩ ta thì muôn đời sau sẽ được lịch sử ghi danh.

Thứ Năm, 17 tháng 1, 2013

XIN ĐỪNG LÃNG QUÊN NGƯỜI TÙ BẤT KHUẤT XUYÊN THẾ KỶ TRẦN TƯ


Tù Nhân Chính Trị Trần Tư tại nhà tù nhỏ BA SAO
Nguyễn Thu Trâm - Xuân lại về, một mùa đoàn viên nữa lại về trên quê hương Việt Nam. Dù tất bật mưu sinh trên khắp mọi miền của đất nước, dù cơm vẫn chưa đủ no, áo vẫn chưa đủ lành, nhưng Xuân về Tết đến mọi người Việt Nam đều trở lại quê nhà để sum họp với gia đình để vui Xuân, đón Tết, để tống cựu, nghênh tân, để tiễn đưa những buồn đau, những đen đủi những bất hạnh của năm cũ và đón nhận những niềm vui, những phước hạnh và những điều an lành trong năm mới. Xuân về, Tết đến cũng là dịp để người ta dành cho nhau những lời chúc tụng tốt đẹp cùng những ước vọng cho một năm mới, ấm no hơn, hạnh phúc hơn, tự do hơn, dân chủ hơn và nhân quyền hơn. Vì vậy, dù trong hoàn cảnh nào đi nữa thì những ngày Xuân ở quê nhà cũng ấm cúng hơn gấp vạn lần so với những ngày Tết đến, Xuân về nơi khám lạnh của những người đã dấn thân vì nền tự do, dân chủ nhân quyền cho quê hướng đất nước và vì quyền sống, quyền làm người của 90 triệu đồng bào mà phải lụy vòng lao lý.

Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013

MẬU THÂN 1968: KẺ ĐỒ TỂ VÀ NHÂN CHỨNG SỐNG


Vũ Thế Phan (Danlambao) - Lời người đăng: Tôi không là người Huế cũng chẳng quen biết anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường và Hoàng Phủ Ngọc Phan, nhưng qua những tài liệu tôi sưu tầm được về họ trong sự kiện Mậu Thân 1968 ở Huế và sau khi đối chiếu, tôi nghĩ phải cho đăng bài này chỉ để chứng minh cùng cư dân mạng rằng hai anh em nhà Hoàng Phủ là hai tay bất nhất, nói láo. Dám làm mà không dám chịu: công thì đã lãnh, tội thì vẫn chối quanh! Nếu họ có oán tôi thì tôi xin chịu, nhưng họ nên oán Internet thì đúng hơn! 

ĐỪNG KHOE TÔI... HÃY CHỤP DÙNG TÔI...

Đừng khoe tôi, hỡi người bạn tài hoa,
Những tấm ảnh mang ra từ địa ngục,
Nơi bạn mới về rong chơi hạnh phúc,
Dù bao người vẫn tủi nhục xót xa.
Đừng khoe tôi hình ảnh một quê nhà,
Mà bạn nghĩ đang trên đà “đổi mới”,
Những thành thị xưa hiền như bông bưởi,
Nay bỗng dưng rã rượi nét giang hồ. 
 
Đừng khoe tôi những cảnh tượng xô bồ,
Những trụy lạc giờ vô phương cứu chữa.
Đất nước đã từ lâu không khói lửa,
Sao rạc rài hơn cả thuở chiến chinh.
Đừng khoe tôi những yến tiệc linh đình,
Những phố xá ngập phồn vinh giả tạo,
Nơi thiểu số tung tiền như xác pháo,
Khi dân nghèo không muỗng cháo cầm hơi.
Đừng khoe tôi cảnh tụ họp ăn chơi,
Của những kẻ đã một thời chui nhủi,

Bỏ tất cả, trong đêm dài thui thủi,
Ngược xuôi tìm đường xăm xúi vượt biên.
Đừng khoe tôi những con phố “bưng biền”,
Những quảng cáo, những mặt tiền nham nhở,
Những khách sạn ánh đèn màu rực rỡ,
Trơ trẽn bày, dụ dỗ khách phương xa.
Đừng khoe tôi chốn thờ phượng nguy nga,
Những dinh thự xa hoa nằm choán ngõ,
Những màu sắc lam, vàng, đen, tím, đỏ,
Đang uốn mình theo gió đón hương bay.
Đừng khoe tôi ảnh Hà Nội hôm nay,
Thành phố đã chết từ ngày tháng đó,
Khi bị ép khoác lên màu cờ đỏ,
Khi triệu người phải trốn bỏ vô Nam.
Đừng khoe tôi những cảnh tượng giàu sang,
Đã được bạn tóm càn vô ống kính,
Những hình ảnh mà kẻ thù toan tính,
Muốn tung ra để cố phỉnh gạt người.

o O o

Bạn thân ơi, sao không chụp giùm tôi,
Nỗi thống khổ của triệu người dân Việt,
Nửa thế kỷ trong ngục tù rên xiết,
Oán hờn kia dẫu chết chẳng hề tan
Bỏ tất cả, trong đêm dài thui thủi,
Ngược xuôi tìm đường xăm xúi vượt biên.
Đừng khoe tôi những con phố “bưng biền”,
Những quảng cáo, những mặt tiền nham nhở,
Những khách sạn ánh đèn màu rực rỡ,
Trơ trẽn bày, dụ dỗ khách phương xa.
Đừng khoe tôi chốn thờ phượng nguy nga,
Những dinh thự xa hoa nằm choán ngõ,
Những màu sắc lam, vàng, đen, tím, đỏ,
Đang uốn mình theo gió đón hương bay.
Đừng khoe tôi ảnh Hà Nội hôm nay,
Thành phố đã chết từ ngày tháng đó,
Khi bị ép khoác lên màu cờ đỏ,
Khi triệu người phải trốn bỏ vô Nam.
Đừng khoe tôi những cảnh tượng giàu sang,
Đã được bạn tóm càn vô ống kính,
Những hình ảnh mà kẻ thù toan tính,
Muốn tung ra để cố phỉnh gạt người.

o O o

Bạn thân ơi, sao không chụp giùm tôi,
Nỗi thống khổ của triệu người dân Việt,
Nửa thế kỷ trong ngục tù rên xiết,
Oán hờn kia dẫu chết chẳng hề tan
Chụp giùm tôi đàn thiếu nữ Việt nam,
Thân trần trụi xếp hàng chờ được lựa,
Hay bầy trẻ mặt chưa phai mùi sữa,
Bị bán làm nô lệ ở phương xa.
Chụp giùm tôi đôi mắt mẹ, mắt cha,
Mà suối lệ chỉ còn là máu đỏ,
Khóc con cháu ra đi từ năm đó,
Biển dập vùi, đà tách ngõ u minh.
Chụp giùm tôi số phận những thương binh,
Đã vì nước quên mình trên chiến trận,
Mà giờ đây ôm hận,
Tấm thân tàn lận đận giữa phong ba.
Chụp giùm tôi hình ảnh những cụ già,
Bọn đầu nậu gom ra đường hành khất,
Để đêm đến, nộp hết tiền góp nhặt,
Đổi chén cơm dầm nước mắt nuôi thân.
Chụp giùm tôi xác chết những ngư dân,
Bị Tàu giết bao lần trên biển rộng,
Hay những chiếc quan tài chưa kịp đóng,
Chở cha, anh lao động Mã Lai về.
Chụp giùm tôi thảm cảnh những dân quê,
Chịu đánh đập chán chê dù vô tội,
Hay cảnh những anh hùng không uốn gối
Gánh đọa đày trong ngục tối bao la.
Chụp giùm tôi mốc biên giới Việt Hoa,
Lấn vào đất của ông cha để lại,
Hay lãnh thổ cao nguyên còn hoang dại,
Lũ sài lang hèn nhát lạy dâng Tàu.
Chụp giùm tôi những nghĩa địa buồn đau,
Chúng tàn phá, chẳng còn đâu bia mộ.
Kẻ sống sót đã đành cam chịu khổ,
Người chết sao cũng khốn khó trăm đường.

o O o

Hãy chụp giùm tôi hết những tang thương,
Hình ảnh thật một quê hương bất hạnh,
Nơi mà bạn, xưa đêm trường gió lạnh,
Đã căm hờn quyết mạnh dạn ra khơi.
Chiếc thuyền con, ca nước lã cầm hơi,
Mạng sống nhỏ đem phơi đầu sóng dữ.
Rồi tha phương lữ thứ,
Tháng năm dài, quá khứ cũng dần phai.
Lòng người chóng nguôi ngoai,
Tháng Tư đến, có mấy ai còn nhớ!

Trần Văn Lương

Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2013

BẢY ĐẠI TRIẾT GIA THỜI CHU - TẤN: VII. HÀN PHI TỬ


VII. Hàn Phi Tử
280 – 233 trước Công Nguyên

1. SƠ YẾU CUỘC ĐỜI.

Hàn Phi, phỏng chừng sinh vào năm 280 trước CN. vốn thuộc dòng dõi quý tộc nước Hàn, tuy có theo hợc đạo Nho dưới môn Tuân Tử cùng Lý Tư, nhưng lại có tư tưởng khác biệt với thầy. Tuân Tử chú trọng về việc giáo hóa Lễ Nghĩa, còn Hàn Phi cùng Lý Tư thì nặng về pháp chế và quyền thuật, đi theo con đường hoàn toàn trái ngược với đạo Nho. Hàn Phi từng bảo: "Ngô ái ngô sư, ngô bưu ái chân lý". (Ta mến thầy ta, nhưng ta càng chuộng chân lý hơn). Hàn Phi viết rất nhiều sách, và đã nhiều lần dâng kiến nghị lên vua Hàn, nhưng chẳng được trọng dụng. Khi tác phẩm của Hàn Phi truyền sang nước Tần, lúc vua Tần đọc tới hai thiên "Cô phẩn" và "Ngũ xuẩn", thấy rất hạp với ý tưởng của mình, đã thán phục rằng: "Chao ôi, nếu trẫm mà có duyên gặp được người này, thì có chết cũng chẳng còn ân hận ".

BẢY ĐẠI TRIẾT GIA THỜI CHU - TẦN: VI. MẶC TỬ

VI. Mặc Tử
Khoảng 479 – 381 trước Công Nguyên

1. SƠ YẾU CUỘC ĐỜI.

Mặc Tử tên Địch, người nước Lỗ. Cho đến nay, vẫn chưa xác định được năm sanh và năm mất, chỉ biết khoảng chừng vào thời sau Khổng Tử, trước Mạnh Tử. Ban đầu có theo học đạo Nho, nhưng về sau cho rằng, "Nhân nghĩa" của nhà Nho gần như lẩm cẩm, "Lễ nhạc" của nhà Nho quá ư phiền toái, nên tự khởi xướng ra học thuyết mới, nặng về công lợi và giá trì thực dụng. 

BẢY ĐẠI TRIẾT GIA TRUNG QUỐC THỜI CHU - TẦN: V. TUÂN TỬ

V. Tuân Tử

 298 – 238 trước Công Nguyên

 1. SƠ YẾU CUỘC ĐỜI.

 Tuân Tử tên Huống , tự Khanh, cũng tự Tôn Khanh. Đời Hán đặt tên sách của Tuân Tử là "Tôn Khanh Tử", sang thời Đường mới đổi lại xưng hô "Tuân Tử". Tuân Tử người nước Triệu, sanh vào năm nào không được rõ, chỉ biết "Niên giám Tuân Tử", bắt đầu ghi chép sự tích của Người từ năm Triệu Huệ Văn Vương nguyên niên, tức 298 tr. KN. TL và mất vào năm thứ 25 Sở Khảo Liệt Vương, tức 238 tr. CN. Đại để là, trước 40 tuổi, Tuân Tử chuyên tâm về việc trau dồi học vấn, khoảng trước sau 50 tuổi đi du hành qua các nước, từ 60 tuổi trở đi, những năm đầu làm huyện lệnh Lan Lăng của nước Sở, những năm sau thì mở lớp dạy học, y như Khổng Tử, Mạnh Tử thuở trước. Đúng vào năm 50 tuổi, Tuân Tử đến nước Tề. Tuy được người Tề hết sức kính nể, đã trước sau ba lần cử làm "Tế tửu , một danh hiệu vinh dự trong buổi "quốc yến", nhưng rốt cuộc chẳng được trọng dụng. Sau khi rời Tề sang Tần, Tuân Tử được gặp tể tướng Phạm Tuy. Lúc đó Tần là một cường quốc, thường ỷ thế mạnh đe dọa chư hầu. Phạm Tuy hỏi cảm nghĩ của khách ra sao, đối với Tần. Đáp lại câu hỏi đó, trước hết, Tuân Tử ca ngợi Tần là một nước có tập tục tốt, núi non đẹp, hơn nữa là, quan lại dốc lòng vì dân, triều đình làm việc mau mắn. Nhưng tiếp theo thì vuốt mặt chẳng nể mũi, thẳng lời phê bình nước Tần hãy còn khiếm khuyết đạo Nho. Chiếu theo tiêu chuẩn của Tuân Tử thì, thiếu đạo Nho tức là thiếu Lễ nghĩa, mà lễ nghĩa là linh hồn của quốc gia. Tuân Tử khen điều hay, chê điều dở của Tần một cách thẳng thắn, chẳng ngại mếch lòng ai như vậy là thái độ nhận chân nghiêm túc, phải là phải, trái là trái của con người Nho học. Song cũng vì thế, nên Tuân Tử đã thiếu dịp may thi thố tài đức, thực hiện lý tưởng chính trị của mình, đành phải trở về cố quốc. Ở Triệu là nơi nước nhà, Tuân Tử từng biện luận phép dụng binh với Lâm Vũ Quân, trước mặt Triệu Hiếu Thành Vương. Lâm Vũ Quân dựa vào nguyên tắc "xuất kỳ bất ý, công kỳ bất bị" của Tôn Tử binh pháp, cho ràng kẻ dùng binh giỏi, bao giờ cũng "quyền mưu thế lợi " và "công đoạt biến trá", nghĩa là không từ bỏ bất cứ thủ đoạn gian trá nào. Ngược lại, Tuân Tử có quan điểm khác hẳn, Người nhấn mạnh kẻ giỏi về quân sự là biết "thiện phụ dân", tức là dựa vào sức mạnh của dân một cách hiệu quả. Tuân Tử cho rằng, được dân ủng hộ mới nắm chắc phần thắng, cho nên "thiện phụ dân", là cái vốn quý nhất của người điều khiển chiến tranh.

BẢY ĐẠI TRIẾT GIA TRUNG QUỐC THỜI CHU- TẦN: IV. TRANG TỬ

IV. Trang Tử
1.     SƠ YẾU CUỘC ĐỜI.
 Trang Tử tên Chu, người nước Tống gần như cùng thời với Mạnh Tử, nhưng vì là một "ẩn giả", cho nên đời sau chẳng được rõ làm về thân thế cùng đời tư của Trang Tử. Tuy nhiên, trong giới trí thức Trung Quốc, xưa cũng như nay, ít có ai lại chẳng biết đến Trang Tử, bởi Người đã có trước tác để lại trên trăm ngàn lời, trong đó có rất nhiều truyện ngụ ngôn, liên quan tới đời sống bản thân của Trang Tử. Dù cho những truyện đó có thật hay giả tạo, cũng đã dựng lên một hình bóng Trang Tử sống động trong lòng người, lưu truyền trên lịch sử Trung Quốc hơn hai ngàn năm nay. Thật ra phần đông người Trung Hoa vẫn chưa rõ lắm về triết lý nhân sinh của Trang Tử, nhưng ai nấy đều thích nghe truyện Trang Tử. Từ đó, người ta cũng đã hiểu được phần nào, Trang Tử là một con người ra sao. 

BẢY ĐẠI TRIẾT GIA TRUNG QUỐC THỜI CHU - TẦN: III. MẠNH TỬ

III. Mạnh Tử
372 – 289 trước Công Nguyên 

1. SƠ YẾU CUỘC ĐỜI

Mạnh Tử họ Mạnh tên Kha, tự Tử Dư, sanh vào năm thứ tư Chu liệt Vương, 372 tr. CN. Sau 107 năm, tính từ khi Khổng Tử qua đời. Người ta được biết về thân thế của Mạnh Tử, có phần ít hơn Khổng Tử, nhất là chẳng ai được rõ đời sống thời thơ ấu của Người ra sao. Tục truyền về truyện "Mạnh mẫu (mẹ thân sanh Mạnh Tử) tam thiên". (Để chọn láng giềng tốt cho Mạnh Tử, bà mẹ đã phải dời chỗ ở những ba lần), theo kết quả khảo cứu, thì chẳng có sự thật đó.

BẢY ĐẠI TRIẾT GIA TRUNG QUỐC THỜI CHU - TẦN: II. LÃO TỬ

II. Lão Tử
570 trước Công Nguyên 

1. SƠ YẾU CUỘC ĐỜI 

Lão Tử họ Lý, tên Nhĩ, tự Bá Dương, người Khổ huyện, nước Sở, sinh vào đầu năm Chu Linh Vương, khoảng 570 tr. CN tuy cùng thời với Khổng Tử, nhưng lớn hơn mười chín tuổi. Một việc mà người đời sau hay nhắc tới, là có lần Khổng Tử thỉnh giáo cùng Lão Tử. Cứ theo sách cổ ghi lại, thì nội dung cuộc hội đàm đó như sau (dịch theo ý chính cổ văn Hán): 

BẢY ĐẠI TRIẾT GIA TRUNG QUỐC ĐỜI CHU - TẦN: I KHỔNG TỬ

I KHỔNG TỬ

551 – 479 trước Công Nguyên 

1 . SƠ YẾU CUỘC ĐỜI 

Khổng Tử họ Khổng tên Khâu, tự Trọng Ni nguyên quán ở Làng Xương Bình, nước Lỗ đời Chu. Nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông. Cha tên Hột, là một lực sĩ trứ danh đương thời. Có lần nước Tề tiến công nước Lỗ, quân Lỗ bị vây. Vào đêm, Khổng Hột chỉ huy 300 dũng sĩ phá được vòng vây, cứu thoát quan Đại Phu là Tạng Hột. Sau đó, cưới bà Nhan Thị, thân sinh Khổng Tử.

Thứ Bảy, 12 tháng 1, 2013

BA MƯƠI TRIẾT GIA TÂY PHƯƠNG

1. Socrates (469-399 TCN)
Triết gia Hi Lạp. Người thành Athens.

Socrates được xem là người khai mở thời kỳ thứ hai của triết học Hi Lạp và bắt đầu triết học Tây phương từ gần 25 thế kỷ nay. Có người so sánh ông với Khổng Tử, vị vạn thế sư biểu á đông.