“Kẻ hèn nhát hỏi: ‘Có an toàn không?’ Kẻ cơ hội hỏi: ‘Có khôn khéo không?’ Kẻ rởm đời hỏi: ‘Có được tiếng tăm gì không?’ Nhưng, người có lương tâm hỏi: ‘Có là lẽ phải không?’ Và có khi ta phải chọn một vị trí không an toàn, không khôn khéo, không để được tiếng tăm gì cả, nhưng ta phải chọn nó, vì lương tâm ta bảo ta rằng đó là lẽ phải.”
Bác Sỹ Lê Bá
Vận - Các lãnh tụ cộng sản ai chẳng anh minh, vĩ đại!
song nếu Hoa sơn luận kiếm thì chủ tịch Hồ Chí Minh của nước VNDCCH chiếm
thượng phong, thân thế bí ẩn, tài mạo khác thường.
Đây là đoạn hồi ký của
tôi trong những ngày Cộng sản chiếm miền Nam, và 2 lần vượt ngục tù cải tạo
trong 3 năm sống với chế độ Cộng sản. Hồi ký này tôi viết tại trại tỵ nạn Mã
Lai, Tiểu bang Kelantan, Tỉnh Kotabaru.
Mùa Thu, năm 1978.
Dĩ vãng
hiện lên đầu óc tôi như cơn ác mộng bi thương buồn thảm!
...Ngày
21-4-75, tôi được báo cho biết có cuộc họp báo nơi phòng Khánh Tiết (trong Dinh
Độc Lập). Nội dung cuộc họp báo tôi chưa đượcbiết, đó cũng là việc làm bảo mật
thường ngày của khối Cận Vệ chúng tôi.
Đã ngót hai mươi năm qua kể từ
quyển hồi kýĐường Đi Không
Đếnra mắt độc giả ở Sài
gòn. Lớp thanh niên đọc quyển sách ấy nay tóc đã hoa râm, còn lứa tuổi trung
niên thì nay đã ra lão. Thời gian đi nhanh, nhưng con đường mà tác giả đã trải
qua mãi mãi còn đậm nét trên những trang sách và trong lòng người
Nếu chúng tôi nhớ khônglầm thì
quyển hồi ký Đường Đi Không Đến ra mắt độc giả trước tiên năm 1969 trên nhật
báo Tiền Tuyến do nhà văn Phan Lạc Phúc làm Chủ Nhiệm và nhà báo Huy Vân làm
Chủ bút. Nhà văn Phan Lạc Phúc bi bắt đi cải tạo, đến nay vẫn còn trong tù. Còn
nhà báo Huy Vân thì đã hy sinh cũng trong trại cải tạo của bạo quyền.
Trưa rừng sau cơn mưa, lá cây
chuyền động trong sự lặng lẽ âm thầm, những búp non nảy thêm ra. Nhựa cây chảy
rạt rào trong thân cây.
Tôi cứ quên đi những luồng thán
khí do cây thở ra và làm hại đến sức khỏe con người mà tôi cứ tưởng đây là cảnh
rừng thơ mộng với các áng hương thơm lâng lâng sực nức lòng người.
Chợ lèo tèo ngay giữa phố, gió lùa đùng đùng. Bánh ngô, bánh đúc
bị táp cát, ăn nhai cả sạn, thì vẫn ăn thế. Một chốc chợ tan, các cọc lêu được
nhổ lên, đàn vịt lại uà vào rúc cái bãi trống. Chỉ còn lại một hiệu ảnh người
xúm đông xúm đỏ xem bác phó nháy lúi húi tô màu. Khách chụp ảnh thích ngồi ghế,
môi má tô màu đỏ, áo hồng sau lưng có phông chậu hoa và hồ Hoàn Kiếm.
Trong kháng chiến, bộ đội tỉnh đã tấn công san bằng bốt Diêm Điền, không biết bốt
ở chỗ nào. Chắc hỏi thì cái Hến, thằng Toàn cũng chẳng biết. Tây về đóng lại,
xây đồn sang Quang Lang. Một lần xuống khu Ba công tác hậu địch đồng bằng sông
Hồng, Hoàng Trung Thông- tổ trưởng Thông của chúng tôi đã đi với đoàn cán bộ
vào tận Quang Lang này. Thông kể: Quang Lang có tề hai mang, ngày ở hầm, tối
lên gặp và họp với cán bộ cơ sở, ngay cạnh đồn. Trông ra biển, ngọn hải đăng
Hòn Dáu và đèn điện bên Đồ Sơn nhấp nháy. Hoàng Trung Thông đã bí mật ở Quang
Lang cả tháng. Khi trờ ra, đóng vai người thuyền buôn các nơi về chợ Diêm.
Sáng hôm sau, mở mắt ra tôi
bàng hoàng, tâm tư quay cuồng hồi lâu tôi mới lấy lại sự bình thường.
Một cái tin không vui đến ngay
với chúng tôi trong buổi sáng đó. Kẹt đường ! Kẹt đường nghĩa là cuộc hành
trình không tiếp tục được nữa. Đó là một đại họa.
Hôm qua khi tới đây thì tôi
tưởng chỉ leo heo có mấy đứa sứt tay gãy gọng của chúng tôi chẳng ngờ sáng nay
tôi thấy dầy đặc trong rừng nhung nhúc những người là người.
Có lẽ những chuyến trước tới
đây rồi cũng nằm ỳ tại đây chớ không đi vô được nữa cho nên người mới đông đúc
đến thế.
Tấn lân la đến chỗ chúng tôi
chơi. Tôi bèn hỏi chuyện kẹt đường thử xem ra sao. Bởi vì chúng tôi đã từng bị
kẹt nhiều lần rồi, kẹt vì mưa suối to, vì biệt kích. Không rõ lần này kẹt vì lý
do gì.
Tôi gặp Trần Đức Thảo ngoài cổng bệnh viện Hữu Nghị. Cả
thành phố đã thuộc cái ông đi chiếc xe đạp con vịt trẻ con sơn xanh, không
phanh, ngồi phải doạng chân cho đầu gối khỏi đụng lên ghi đông, đấy là nhà triết
học Trần Đức Thảo. Ông dịch sách lý luận kinh điển cho nhà xuất bản Sự Thật để
lấy lương ăn. Người biết đôi chút thì thắc mắc: không biết ông có được dạy, ông
có được phong giáo sư không. Tôi thì biết bây giờ ông dông dài lam làm chơi
chơi thế thôi. Tôi cũng chẳng biết ông có Nhân Văn Giai Phẩm gì không và tại
sao ông lại càng ngày càng bị quên lãng dưới đáy.
Tôi và Năm Cà Dom đi đốn nứa
cất hẳn một cái nhà bếp con con để trời mưa khỏi ướt củi. Nóc nhà lợp cả bằng
những thanh nứa bổ làm đôi, cứ úp vào nhau, cái sấp cái ngửa như lợp ngói ống.
Một hôm Năm Cà Dom mày sáng
kiến làm cơm mẽ. Tôi nói: thế thì hay quá. Mỗi bữa ăn mình nhín lại vài muỗng.
Làm được một ga-men cơm mẽ thì mình sẽ tìm lá nấu chua. Như vậy sẽ có món ăn lạ
miệng, ăn ngon hơn.
Bộ máy tổ chức ta dựng
lên thì khoa học, trong ý nghĩ và trên giấy, nhiều cấp và cán bộ lại thu thập
tài liệu và dư luận bằng nghe ngóng. Chu Văn, trưởng ty văn hoá tỉnh Nam Định
được dự kiến đề cử tỉnh uỷ khoá mới. Đấy lên tin đồn anh ấy là Nhân Văn, thế là
bị nhấc ra. Chu Văn viết thư kể nỗi oan và đề nghị can thiệp- tôi đã được phân
công xuống gặp bí thư tỉnh, nhưng rồi cũng không lại được lời đồn. Can thiệp
với dư luận “có tin bảo, có người nói” thì như đánh nhau với bóng tối, cứ phòng
sẵn cho chắc đã. Và cái việc Chu Văn bị dính đến những lôi thôi mập mờ này, đã
làm cho Chu Văn hóa ra cứng rắn khác thường. Những ai đã công tác cùng Nguyễn
Bính ở ty văn hoá Nam Định có thể biết Chu Văn đã quần Nguyễn đến điều thế nào.
Nguyễn Bính về Nam Định rồi quyết định ở hẳn dưới ấy chỉ vì Nguyễn Bính đã sắp
nên vợ nên chồng với cô hàng cà phê thành Nam. Nguyễn Bính đã bỏ không ở nhà
xuất bản Hội Nhà Văn với tôi để xin ra làm báo Trăm Hoa. Khi Trăm Hoa hết tiền
phải đình bản, Nguyễn Bính không còn ở biên chế nào thì Hội Nhà Văn đã giới
thiệu Nguyễn Bính về Nam Định.
Một hôm tôi và Năm Cà Dom buồn
quá, mới bèn rủ nhau đi vào cái bệnh xá của ông bác sĩ Cường chơi. Thực ra đi
chơi mà vô một cái bệnh xá thì còn lý thú gì, nhưng vô đó có thằng quen là xếp
bệnh xá, may ra nó sẽ giúp đỡ mình chút đỉnh. Ở đây thì chỉ có thế, hễ đi ra là
mong gặp được một sự may mắn gì, nhất là mong gặp được một cái lợi bất ngờ.
Nhưng hôm đó chúng tôi lại gặp
rủi. Không phải gặp rủi nhưng lại gặp một cái biểu trưng của sự rủi ro.
Đang đi, chúng tôi bỗng dừng
lại, vì nghe trên đầu có tiếng gió như có một nhánh cây gãy đang giáng xuống
đầu mình. Cả hai đứa đều nhảy qua một bên để tránh theo bản năng tự vệ chứ
không kịp dòm ngó gì.
“Pạch. ” Một vật đen thui dài
nhằng rơi đánh phịch xuống đất và nằm im. Chúng tôi nhìn. Và Năm Cà Dom kêu
lên:
Đầu năm ấy, chiến dịch lao động đào sông Tô
Lịch. Lao động công ích, mỗi năm một công dân thành phố góp bảy ngày bằng sức
hoặc bằng tiền. Đào sông cũng như đắp công viên Thống Nhất, được trừ điểm lao
động công ích lại được trả công đào. Không đi, thuê người khác đi hộ. Lấp mạch
sủi đê sông Cái, đào hố chứa rác, vét bùn, đều được tính cả. ấy thế nhưng phải
tổng vệ sinh trước lễ Quốc Khánh đã Sáng chủ nhật, sáu tổ lấy sáu người đem
chổi và cái hót rác lên trường Trưng Vương tiễn đồng bào chạy nước về lại dưới
bãi- thông tri viết thế, nhưng cung cách chỉ dẫn các thứ vậy thì hiểu nghĩa là
lên quét dọn làm vệ sinh cho nhà trường các chỗ đồng bào đã tạm trú cả tháng
qua.
Đơn vị đang xôn xao vì thiếu
gạo, nội bộ rã rời, và thêm vào những hiện trạng đó là những trận bom liên
tiếp, bom của “còng cọc” dội (tức Skyraiaer) và B52 tiếp thêm. Có một cái hiện
tượng kỳ lạ, là hễ đơn vi dời tới đâu, thì ăn bom tới đó, mặc dù là hành quân
ban đêm để tránh mọi sự dò xét của máy bay do thám, nhưng hễ đóng quân xong,
hôm trước thì hôm sau lại bị bom.
Mạnh và Tuất đang cho họp chi
bộ tìm nguyên nhân. Chi bộ họp bên cạnh chỗ ngủ của tôi, nên tôi nằm lắng tai
nghe hết ráo.
Đầu mùa đông 1957, tôi đi Matxcơva, dự hội nghị quốc tế về văn học
thiếu nhi. Người dịch tiếng Nga cho tôi là Marian Tkchôp. Năm ấy, Marich trên
hai mươi tuổi đôi chút. Tốt nghiệp khoa tiếng Việt ở Matxcơva rồi làm việc ban
đối ngoại hội Nhà Văn Liên Xô. Thoạt trông, tưởng người ít ra đã trạc bốn mươi.
Một lọn tóc vắt che trán hói lên gần đỉnh đầu, cái đuôi tóc còn thừa thòng lòng
ra đằng gáy. Vừng trán cao phẳng lặng thật lạc lõng với người trẻ tuổi mới có
người yêu.
… Một buổi sáng chúng tôi đang
vui cơm nước bỗng có tiếng máy bay tới. Tôi có cảm giác là máy bay sẽ bỏ bom
xuống đầu mình. Thì quả thật vậy. Ba chiếc phản lực kiểu gì không rõ rà xuống
thật thấp, cánh to bè ra như những tấm phản đen ngòm, ném một lúc năm, sáu quả
bom.
Rồi một đợt khác nữa tiếp tục.
Tôi và Năm Cà Dom chỉ ngồi nép vào gốc cây chờ dứt trận bom. Chúng tôi vừa hé
mắt nhìn ra thì lại nghe máy bay tới, ù… ù… tiếng động cơ quen thuộc của một
chiếc L19. Rồi tiếng người cất lên từ trên máy bay nghe oang oang. Có lẽ tiếng
người khi phát ra bị tốc lực của phi cơ làm cho méo mó đi cho nên ở dưới này
nghe không rõ là người đó nói cái gì.
Mặc dù không biết trên đó người
ta nói cái gì nhưng tâm linh tôi nghe buốt lạnh. Tôi ngước cổ nhìn lên.
Chiếc L19 lắc lư như con diều
giấy chao nhẹ trong gió và những tiếng nói như những tràng đá sỏi rơi xuống đầu
tôi.
(Nhật ký)- Hà Nội đã
vào tháng chạp 1972. Hàng ngày cứ căng thẳng rồi lại bình thường. Nhưng với tâm
lý muốn bình yên thì tưởng tượng của người ta ngả về bình yên nhiều hơn. Đường
phố đông người khác thường, hình như ai cũng ra đường. Vẫn giục từng nhà đi sơ
tán. Nhưng trong bụng người giục cũng cho là nếu có bom xuống thì hoạ may người
ta mới đi.
Họp khối phố, thu được
150 đ, hôm nào thu đủ thì đem lên khu lấy tem phiếu đợt 1. Nửa đêm, tiếng bom
bên kia sông phía Gia Lâm. Tháng vừa rồi yên yên, lại ra vẻ bắt đầu đây. Gần
sáng, tiếng bom kéo dài nặng nề hơn. Phúc thức giấc, nói: “Con nghe như tiếng
B52". Nó có kinh nghiệm chiến trường. Mình đoán vu vơ: “Không có lẽ".
Tiếng bom đến tận tảng sáng, trời cứ vừa hửng vừa sẫm lại.
Về đến sứ quán ở Bắc
Kinh thấy đông nhộn khác cái thoáng vắng hôm trước. Giữa vườn cây lê cây táo
trơ trụi mùa đông, những đống cao lù lù như cây rơm phủ kín ni lông xanh, ni
lông xám. Hỏi mới biết đấy là những núi đồ đạc mới đưa về, để trong nhà không
có chỗ, phải chất ra giữa trời. Bắc Kinh đương mưa tuyết, mưa cả đêm. Những
mảng băng đầu mùa bám ngoài ni lông, khi tuyết rơi nhiều, băng xụt xuống như
bùn trắng nhão quanh chân các gò đống đồ đạc.
Người
về ở đông kín các phòng chiêu đãi sở, khắp cả nhà cơ quan làm việc. Xe lửa
Matxcơva về Hà Nội bị cắt lưng chừng, giữa khi qua Cát Lâm trên Đông Bắc. Sứ
quán phải thuê xe lên đón. Cán bộ và sinh viên đi công tác, về phép, về hết
hạn, người và hành lý đưa cả về đây. Tạm ở, đợi bao giờ lại có đường có tàu thì
chưa biết.
Độc giả sẽ có cảm tưởng như đang ngồi quây quần quanh vuông chiếu
hoa, trong ngôi nhà thừa tự của tổ tiên, dưới ánh sáng chập chờn của ngọn đèn dầu
lạc, láng nghe tiếng kể trầm tĩnh, đôn hậu, nhẹ nhàng, nhưng vô cùng sâu lắng của
một ông già đã có trên nửa thế kỷ hệ lụy cùng quê hương. Ông già đó, nhà văn Tô
Hoài, tác giả của Dế mèn Phiêu Lưu Ký mà chắc chắn không một người Việt
Nam nào chưa từng ê a học thuộc lòng vào cái thời còn mài đũng quần ở ghế trung
học, sẽ đưa chúng la về lại với thổ ngơi liền chiến, nơi có những nhân vật từng
"vang bóng một thời": Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính, Nguyên Hồng, Thế Lữ,
Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tam Lang, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Vũ Bằng...
Và hầu hết các tác giả của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, cùng nhiều "chức sắc"
quyền cao chức trọng trong giới văn nghệ, nói riêng, nhà nước, nói chung. Nơi, ở
đó, họ đã sống, đã sinh hoạt, đã vui chơi, đã sáng tác, đã "rất người"
trong thân phận con người. Nơi, từ đó, họ ra đi, họ lên đường, họ nhập vào dòng
đời, để rồi mỗi người, bằng cá tính rất riêng của mình, tự chọn lựa hoạc bị chọn
lựa một thế sống nào đó. Những thế sống, góp chung lại, làm nên dòng chảy bão
táp của văn học, chính trị Việt Nam trong vài thập niên qua.
Có lẽ Cát Bụi Chân Ai là cuốn hồi ký trung thực nhất của một nhà văn,
viết về các bạn văn cùng thời, và về chính mình.
Chuyến
tàu hoả từ Phnôm Pênh ra đến Poipet vừa chập tối. Bấy giờ vào mùa thu 1930. Đường
sắt tà vẹt tám thước Nôm Pênh vừa hội khánh hành đoạn cuối nối với bên Xiêm ở
Poipet còn như chạy thử, vài ngày mới có một chuyến không nhất định. Bên Xiêm vẫn
tăng bo một quãng chưa nối thẳng được xuống Vọng các.
- Những chuyến tàu thất thường này xộc xệch, còn thưa khách. Chỉ có người đi
buôn hay phu phen rừng cao su ra. Lắm hôm vào ga thị trấn Poipet, chỉ còn vài
người trên tàu xuống. Hôm ấy cả một toa hạng tư, có ba người. Một người luống
tuổi xách cái bị, mặc áo bà ba xuyến đen đã bạc, râu ria lởm chởm. Dáng như một
người ở đây về trong xứ có việc, bây giờ trở lại. Hay một chủ hiệu tạp hoá, một
người cai ở đồn điền cao su ra chợ thị trấn cất hàng.
Năm cùng
tháng tận, tết nhất đến nơi mà thành phố vẫn phấp phỏng không biết bom đạn trên
trời ập xuống lúc nào. Dáng ai cũng vội. Mưa bụi hơi nặng hạt. Tiếng pháo rải
rác. Con chuột cống trụi hết lông trong rãnh nước lép nhép ra, gặp ánh điện lại
lõm bõm thong thả quay vào. Ngày mùng một, những bộ quần áo mới và những người
đẹp loé lên như nắng sớm. Kiểu áo Thái Lan vạt không viền gấu ngổ ngáo được các
ông phó may đất Kẻ Chợ làm cho dịu đi, ưa mắt. Thì cái áo đại cán ở Thái Nguyên
về chẳng ra sao mà đến Hà Nội cũng hoá nhũn nhặn, dễ trông. Chiếc chả giò Sài
Gòn bé bằng ngón út mà ra đây hoá thành cái nem rán nhân cua bể, món ăn quốc tế.
Chỉ những mái tóc xun xoăn lên như cô gái châu Phi thì hình như các tay thợ
ngôi chịu, vẫn để nguyên mẫu thế trên đầu các cô gái đời mới.
Tôi không phải là một nhà văn, mà tôi
chỉ là một người lính, lính tác chiến đúng nghĩa của danh từ, và những điều tôi
viết trong quyển sách này chỉ là một câu chuyện, câu chuyện thật một trăm phần
trăm được kể lại bằng chữ. Tôi viết những điều mà những thằng lính chúng tôi đã
trực tiếp tham dự nhưng không ai viết lại, trong khi nhiều người đã viết về những
chuyện chiến trường thì hình như chẳng có ai dự.
Huế
đang là một thành phố chết và đang là một thành phố bị bỏ ngỏ. Cả thành phố chỉ
còn lại vài ba ngọn đèn đường, cái sáng cái tối, đạn pháo Việt Cộng nã đều vào
cầu Trường Tiền và khách sạn Hương Giang, đó đây người ta đang đạp xe ba bánh,
xe xích lô đi hôi của.
Ði
lối cầu mới thì được an toàn, nhưng tôi sẽ đi lối cầu Trường Tiền mặc dù cầu
này đang bị pháo. Một chút lãng mạn trong người tôi nổi dậy, chẳng gì cũng chỉ
còn là lần chót. Ngay đầu cầu, một chiếc M-48 nằm chình ình, máy vẫn còn nổ mà
không có người. Lên đến giữa cầu, tôi nói với mấy thằng lính đệ tử.
Lên
đến trên tàu, không khí quá nặng nề ngột ngạt. Không phải nặng nề ngột ngạt vì
số người trên tàu quá đông, mà vì cả tàu đang bị bao trùm bằng mùi giết chóc,
căng thẳng.
Huy
mập nhét vào tay tôi khẩu súng ngắn, dặn dò:
"Súng
tôi lên đạn sẵn, ông giữ cẩn thận."
"Còn
gì nữa để mà phải thủ súng lên đạn sẵn?"
"Thì
ông cứ giữ đề phòng. Biết đâu có lúc phải xài tới."
Chưa
kịp tìm chỗ ngồi, tôi nghe một tiếng súng nổ.
Hai
người lính Thủy Quân Lục Chiến cúi xuống khiêng xác một người lính Bộ Binh vừa
bị bắn chết ném xuống biển. Một người lính Thủy Quân Lục Chiến khác đang gí
súng vào đầu một trung úy Bộ Binh ra lệnh:
"Ðụ
mẹ, có xuống không?"
"Tôi
lạy anh, anh cho tôi đi theo với."
"Ðụ
mẹ, tao đếm tới ba, không nhảy xuống biển tao bắn."
"Tôi
lạy anh mà, tôi đâu có gia đình ở ngoài này."
"Ðụ
mẹ, một."
"Tôi
lạy anh mà, anh đừng bắt tôi ở lại, anh muốn lạy bao nhiêu cái tôi cũng lạy hết.
Tôi lạy anh, tôi lạy anh."
"Ðụ
mẹ, hai."
"Trời
đất, mình đồng đội với nhau mà, anh không thương gì tôi hết. Tôi lạy anh
mà."
"Ðụ
mẹ, ba."
Tiếng
ba vừa dứt, tiếng súng nổ.
Người
trung úy Bộ Binh ngã bật ngửa ra, mặt còn giữ nguyên nét kinh hoàng. Viên đạn
M-16 chui vào từ đỉnh đầu. Xác của anh ta được hai người lính Thủy Quân Lục Chiến
khác khiêng ném xuống biển.
Trần Gia Phụng – Đả Đảo Cộng Sản - Do quyết định sửa đổi
âm lịch của nhà cầm quyền Bắc Việt Nam (BVN), ngày mồng Một Tết Mậu Thân ở BVN
theo âm lịch mới là ngày 30 tháng Chạp ở Nam Việt Nam (NVN). Trong ngày nầy,
bài thơ của Hồ Chí Minh dùng làm lệnh tổng tấn công của cộng sản (CS) vào các
thành phố ở NVN, đã được đài phát thanh Hà Nội truyền đi suốt ngày, nhưng các
đơn vị bộ đội CS ở NVN, vẫn không nổi dậy cùng một lần vào tối hôm đó, mà có
nơi sớm, có nơi trễ.
Lớp đào tạo bác sĩ "cấp tốc"
trong vòng 6 tháng. Tốt nghiệp ra trường.
Bài của Nguyễn Liệu
về “cái bằng tiến sĩ”
Năm 1976, chấm dứt
chiến tranh, bác sĩ Tôn thất Tùng, một bác sĩ giỏi, học tại Pháp, kẹt trong
kháng chiến, rồi phải phục vụ cho Việt cộng, đã mạnh dạn viết bài báo đề nghị
bác sĩ Việt cộng được đào tạo trong chiến tranh, phải thi và học lại. Nếu không
học lại hoặc học mà thi không đậu, thì không cho hành nghề vì không đủ tiêu chuẩn
của một bác sĩ.
Em bé ngày xưa, nay là Trung Tá Kimberly M. Mitchell
Vào mùa hè đỏ lửa năm 1972, một em bé 4 tháng tuổi nằm trên
xác mẹ trên Đại Lộ Kinh Hoàng; em đang trườn người trên bụng mẹ tìm vú để bú
nhưng mẹ đã chết từ bao giờ. Một người lính Quân Cụ chạy ngang, bồng em bé bỏ
vào chiếc nón lá rồi chạy qua cầu Mỹ Chánh, trao lại cho một Thiếu úy Thủy Quân
Lục Chiến đang hành quân.
Kính gởi các cơ quan truyền thông, các tổ chức, các nhân ủng
hộ phong trào dân chủ quốc nội.
Kính thưa quý cơ quan truyền thông báo chí,
Kính thưa quý
bậc trưởng thượng, quý thân hào nhân sĩ, quý hội đoàn và các đảng phái đấu
tranh giải thể chế độ cộng sản, giành Tự Do, Dân Chủ cho quê hương Việt Nam. Tôi, Blogger Nguyễn Thu Trâm, thành viên khối 8406 quốc nội, trưởng phân ban báo chí Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam, sau hơn 3 năm đào tỵ tại Thái Lan, tôi vừa đến Virginia, Hoa Kỳ, theo chương trình tái định cư của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc cùng với sự chuẩn thuận của chính phủ Hoa Kỳ.