Thứ Tư, 3 tháng 4, 2013

HỒI KÝ ĐỒNG BẰNG GAI GÓC CỦA XUÂN VŨ - KỲ CUỐI


1      2      3      4   
- 20 -
Một buổi chiều như những buổi chiều, tôi ra bến đò để đón tin vui. Thì tin vui đến thật. Một người đã đưa tôi một lá thơ của em gái tôi.
Anh Hai,
Chị Hai đã sanh con gái. Mẹ tròn con vuông. Má đặt tên cho cháu là Mỹ Hạnh. Chờ chị Hai cứng cát em sẽ đưa chị và cháu sang thăm anh.
Em. .
Tôi nghe như cả đất trời quay vun vút, tôi không đứng vững. Tôi đã có con. Tôi đã làm cha ! Dòng họ tôi được nối tiếp. Tía má tôi có cháu. Tôi phải tìm ngay một người để chia sớt niềm vui. Người đó không ai khác hơn là Tư Mô.
Chiều hôm đó Tư Mô câu được nhiều cá . Chúng tôi về nhà Ba Dành nơi tôi đã ở để làm tiệc. Nhà cửa từ ngày vợ chồng tôi ra đi đã trở thành hoang tàn. Chị Ba chứa củi, nuôi gà và giã gạo xay lúa trong đó. Chúng tôi tìm vỏ dừa đốt than nướng cá. Đám con Ba Dành, học trò cũ của vợ tôi mừng ríu rít, tưởng thím Hai trở lại dạy học.
Ba Dành bắt con gà giò và sai con đi mua rượu để mừng chú Hai có con. Đêm đó tôi và Tư Mô tâm sự rất dài về gia đình. Chính tôi định đặt tên con tôi là Dung và tôi nhờ anh viết chữ nho để gởi về cho em gái tôi thêu trên áo con. Nhưng má tôi đã đặt cho nó là Hạnh. (Năm 1992 Mỹ Hạnh đã đỗ Cử Nhân Khoa Học – BS). Nếu tôi không cương quyết đá Bác Đảng thì tôi vẫn phải ở rừng để chiều chiều coi khỉ cái là những mỹ nhân. Tư Mô nói với tôi một câu để đời:
- Từ nay viết truyện chú sẽ mô tả vấn đề vợ con chính xác và sâu sắc hơn.
Từ đó tôi không ngớt nghĩ cách bỏ Đảng Bác mà đi, miễn sao gia đình tôi toàn vẹn. Mười cái Đảng và chục “thằng Bác” tôi cũng bỏ.
Bình Định xong Cù Lao Minh, quân Sài Gòn phóng mũi lao sang Cù Lao Bảo. Bên này đất hẹp người đông vì cán bộ dồn cục tới đây tìm sinh lộ. Tỉnh Ủy biến mất cùng với các cháu gái đánh máy và giao liên. Xã Phước Long có một khu rừng lá rộng lớn mà chúng tôi đặt tên là “Đám Lá Tối Mò”. Trước đây bị đuổi ở Tân Hào thì chúng tôi chạy dồn lên đây. Nhưng bây giờ nó không còn là nơi an toàn nữa. B52 đã thả bom bốn lần.
Tôi và Tư Mô cũng phải tính kế thoát thân. Toàn khu Giải Phóng của tỉnh Bến Tre bây giờ chỉ còn lại một lỏm đất trống ở xã Thành Phong. Đó là phần đất cuối cùng của Cù Lao Minh giáp với biển Đông. Nơi đây được Hà Nội dùng làm bãi đổ vũ khí của quân Bắc Việt.
Chúng tôi tự động đi tìm trạm giao liên. Mỗi chuyến xuồng đuôi tôm chở được từ tám đến mười người, nhưng phải có giấy giới thiệu của Tỉnh Ủy, bởi vì Thạnh Phong đã trở thành “thánh địa” của Tỉnh Ủy. Không phải ai muốn đến cũng được. Nhưng giao liên đi một ngày nghỉ hai ba ngày và còn tùy thuộc tình hình. Vì vậy nên cán bộ ứ đọng nằm lềnh khênh trong vườn ổi dọc bờ sông Hàm Luông chờ chuyến, chờ chụp, chờ chết.
Chúng tôi đành năn nỉ. Tuy là công tác dưới quyền Tỉnh Ủy nhưng đất nước này là xứ sở chúng tôi, chỗ nào mà chúng tôi không từng đi qua hồi chín năm? Cho nên chúng tôi đi không cần phải có liên lạc. Chỉ cần chiếc xuồng con là chúng tôi đi Thạnh Phú được thôi. Chỉ sợ ba cái hô-bo trên sông Hàm Luông. Chúng chạy như bay trên mặt nước. Khi chúng thấy thì không lủi kịp. Chỉ bị bắt thôi.
Chúng tôi đã xuống nước tận cùng nhưng liên lạc nhất định giữ vững nguyên tắc. Thời may có Trưởng Ty Công An là bạn học trường quận cũ với tôi ở đâu lơn tơn đi tới. Nó đang làm thường vụ Tỉnh Ủy nữa, không biết sao nó chưa vô Trung ương mà Mười Kỹ – Nguyễn Xuân Kỹ- lại được vào, nó nói với giao liên:
- Hai ông này là người của R. Cho ổng xuống căn cứ đí! Tôi chịu trách nhiệm.
Thế là hai ông cán R được hân hạnh xuống xuồng xuôi Thạnh Phú. Cùng đi với tôi có bà cô họ của tôi làm Chi Ủy ở Minh Đức. Bả đi tập huấn dưới tỉnh. Tuy là cô nhưng bả chỉ bằng tuổi tôi. Hồi 45 cách mạng đứng lên, bả cũng chỉ huy thiếu nhi như tôi thôi. Bây giờ bả vô Tỉnh Ủy nhưng bả không dám ra lệnh như thằng Trường Ty Công An.
Xuống xuồng chạy đuôi tôm trên sông cái mênh mông,anh Tư Mô rỉ tai tôi, ảnh nói. tiếng Pháp vì sợ họ biết.
Non acte de violence nghe chú Hai!
Ý của ảnh là nếu bị hô-bo đuổi kịp bắt sống thì ríu ríu nghe theo chớ không có chống cự. Ảnh đã dặn tôi từ trên bờ nhưng xuống ghe còn dặn lại cho chắc.
Hai anh em đã từng đi trên R về tới đây, qua sông Cửu Long mấy lượt qua lộ Đông Dương mấy lần sanh tử có nhau. Tưởng về tới xứ là khỏe, ai dè lại vượt Cửu Long lần nữa. Mà lần này đi “đò dọc” nghĩa là đi trên sông một khoảng dài chừng mười cây số chớ không phải chỉ băng vọt qua là xong đâu. Cái đoạn đường thủy mười cây số này có nhiều “yếu tố”, đụng hô-bo hơn những khúc trên miệt Mỹ Tho.
Tôi cũng run gân lắm nhưng làm bộ tỉnh táo lấy mấy trái ổi ra nhai nhóp nhép. Anh Tư khều khều tôi bảo cởi cây K54 ra đút dưới sạp xuồng. Tôi chỉ cởi ra rồi ngồi lên thôi vì cái xuồng bể, nước vô óc ách, đút xuống đó ướt hết. Thực ra tôi không nghĩ là tôi dám bắn trả một phát nào trước họng súng lính Mỹ trên ho-bo. Ngồi lên súng là một
cử chỉ sẵn sàng giơ tay hoặc nhảy xuống sông lặn thôi. Từ 1948-49 gì đó, tôi đã làm phóng viên chiến trường nhưng cũng chưa bắn phát nào.
May mắn thay con đường đi “xuống căn cứ địa” hoàn toàn mỹ mãn. Lên đến trạm an toàn, hai anh em mừng húm, tưởng như tới Tây Phương. Vừa bước chân lên bãi đất cát êm ái thì đụng đầu một thằng mang K54 đòi xét giấy. Tư Mô né ngang. Còn tôi trờ tới, hỏi ngược lại hắn ta:
- Đồng chí là ai? Tôi phải coi giấy đồng chí trước rồi tôi mới đưa giấy của tôi cho đồng chí coi!
Bỗng hắn ta kêu lên:
- Mày là thằng…
Tôi cũng nói lại:
- Mày là thằng… à…
Thì ra hắn ta là thằng “Tòng địa” bí thư Huyện Ủy Thạnh Phú kiêm Tỉnh Ủy Viên, bạn học cùng Trại Thanh Niên Cứu Quốc tỉnh hồi trước. Nó coi anh Tư Mô như đàn anh nên khỏi giới thiệu. Xa nhau trên hai mươi năm mà vẫn còn nhận ra nhau. Gặp thằng thổ địa này thì đỡ nấu cơm và không phải lo hầm trốn nữa. Cứ nắm đầu nó thôi.
Nó lấy đuôi tôm chở tôi và Tư Mô vô căn cứ của nó, chớ không phải của Huyện Ủy. Vì mỗi thằng ở một hang, không ở chung, sợ bị chết chùm, tuốt trong một xóm lá rậm ri. Ăn nhậu xong, nó mới nói về tình hình.
- Các cha xuống đây là cái rọ . Cuộc sống chỉ tính từng ngày.
Tư Mô bảo.
- Được ngày nào hay ngày nấy!
- Tụi nó sắp lấy Hương Mỹ làm tỉnh lỵ cho một tỉnh mới là Kiến Tân.
Tôi cười ha hả :
- Rồi mình ở đâu?
Tư Mô mỉa mai :
- Ra biển.
- Hồi đó tới giờ mày có lái đầu xe lửa nữa không?
- Xe lửa gì? Chạy sút trứng non trứng già đây, xe đâu mà chạy?
Tôi nhắc lại chuyện xưa, lúc khóa học “Chiến Thắng” của Thanh Niên Cứu Quốc Tỉnh bế mạc, đốt lửa trại liên hoan thì hắn, do cái thân mập lù, được cắt giữ vai lái xe lửa, tức là làm bộ chạy xình xích bằng miệng trong lúc chúng tôi đồng thanh “hợp xướng” ba tên trùm Phát Xít là Ribbentrop (khi xe vừa khởi đầu), Von Papen (khi xe chạy nhanh), Hess (khi xe dừng lại).
Bây giờ hắn cũng còn mập như xưa, chỉ già đi thôi. Hắn đổi tên là Ba Thơ. Hắn cũng không hỏi chúng tôi tới đây làm gì. Vì hắn thừa biết lúc này quân Bình Định đang rải đều ở An Định Thành Thới để chiếm đất và chiêu an bà con. Tư Mô buột miệng hỏi Ba Thơ,
- Tết nhất rồi, tính sao chú Ba?
Hắn nói:
- Ông bà chạy mất hết có ở nhà đâu mà ăn Tết?
Một lúc sau, Tư Mô mới nói cho biết tôi là dân Mùa Thu. Hắn không tỏ vẻ mừng rỡ gì hết ráo. Mùa Thu hay mùa Đông gì cũng chạy vắt giò lên cổ thôi.
Ba Thơ bảo:
- Sáng mai nếu tình hình êm tôi sẽ dắt các cha đi ăn Tết chực.
- Sao lại không? Nhưng tội nghiệp ông bà mình. Con cháu không có ở nhà để cúng kiến.
Tôi tính đến năm nay là hai mươi năm tôi không có quét mộ ông bà và không gặp mặt tía má tôi. Tôi cũng buồn não lòng nhưng làm bộ:
- Thôi bỏ qua mấy chuyện đó đi anh Tư. Ở Sài Gòn ăn nhậu đã đời lại còn mò ra rừng mần chi.
- Hổng biết sao hồi đó tôi lại nhẹ dạ vậy, thằng bạn quèo cái là đi liền, lại còn giấu vợ con!
Sáng hôm sau, chúng tôi ăn cơm sớm. Đó là thói quen của dân cán xứ Đồng Khởi, vì nếu quân Sài Gòn tấn công thì hừng đông đã có pháo dọn bãi. Nếu không bỏ bụng ba hột thì làm sao chạy đua nổi với trực thăng? Lại nghe tin là Sư Đoàn 9 đang nghỉ quân ở Kiến Hòa, Tư Lệnh của Sư Đoàn này là Tướng Trần Bá Di con của ông Trần Bá Vạn là thầy của tôi ở Collège Le Myre de Vilers ở Mỹ Tho, thì nó xuống đây không quá hai mươi phút.
Tôi hỏi Ba Thơ:
- Tết, không lẽ nó không “tha Tào” một phen?
- Có lệnh ngưng chiến 24 tiếng mà không bảo đảm ăn Tết một ngày sao ông Bí?
- Lệnh thì lệnh nhưng ba thằng du kích bắn bậy ai mà la cho nổi. Hồi năm ngoái năm kia gì đó, cũng chiều 30 Tết, tụi Sài Gòn đang chụp ở đây, sửa soạn rút về để cho mình ăn Tết. Rút gần hết, một thằng du kích bắn vét đuôi. Nó bèn quay lại cả bầy nó trả hỏa cho một giờ. Xong nhảy xuống đóng luôn không rút nữa. Bà con năm đó đâu có ăn Tết ăn nhứt gì. Tao vái trời năm nay không có thằng nào khùng như vậy nữa.
- Nó có đóng ở đâu đây à ?
- Nó đóng trụ trên An Nhơn kia cà cha ! Tao đang nhang đèn vái nó rút đi cho sớm sớm để mình còn ăn Tết.
May quá, không có việc gì xảy ra. Ba Thơ dắt chúng tôi đi đến nhà một cốt cán, tên là Tư Cua. Anh chị Tư Cua sở dĩ mang tên này vì anh chị buôn cua biển với tư cách gần như đại lý cho cả vùng này vì những người khác hoặc làm cán bộ hoặc có dính líu với Việt Cộng nên không dám thò mặt ra chợ quốc gia. Ngoài ra anh chị lại có cái tiệm bán tạp hóa. Anh Tư Cua là cán bộ của Ba Thơ. Anh chị vui vẻ nấu cơm mời khách. Chỉ đơn sơ rau mắm và khô cá thu. Đây là vùng biển nên thức ăn như thế này chỉ gọi là đạm bạc. Sự thực ở trên rừng đây là một bữa cỗ.
Chúng tôi chén xong thì nằm chỏng cẳng tán gẫu, mặc dù tình hình không ổn. Nếu cái chốt An Nhơn đánh tỏa xuống đây, trong vài phút thì tới. Chúng tôi chỉ đủ thời giờ để chạy tụt vô rừng ở ngay sau hè. Ở đây rừng khắp nơi nên “địa thế chạy trốn” rất thuận lợi, chưa ở đâu hơn ở đây. Chỉ có một điều bất lợi là không có hầm. Rừng đước ngập nước không đắp hầm được. Nếu có trực thăng bắn thì vui lòng né tránh (! !) may nhờ rủi chịu. Bạn cũng nên nhớ cho rằng trong một phút cà nông 20 ly trực thăng phóng xuống mặt đất tới sáu ngàn viên đạn và mỗi viên cách nhau chừng vài phân, nghĩa là không đủ kẽ hở cho một thân người. Liệu mà né cách nào thì né !
Nhưng cũng may sao du kích không chọc bậy nên cái chốt kia nằm im. Ba Thơ dặn Tư Cua lo lắng cho hai đứa tôi rồi quảy ba lô đi công tác. Đến chiều Ba Thơ trở lại bảo:
- Tết này chắc êm. Các cha ở đây ăn Tết với tụi tôi!
Rồi dắt tôi và Tư Mô đi dạo cảnh. Nếu tôi không lầm thì toàn tỉnh Bến Tre quê hương Đồng Khởi lúc bấy giờ chỉ còn có xã Thạnh Phong là giải phóng nhưng đang chuẩn bị “rước bọn ngụy về Bình Định” bởi vì chẳng còn nơi nào để quân Bình Định làm việc nữa cả. Đàn bà đi chợ về cũng xám xịt với nhau rằng ở trên Kiến Hòa lính sẵn sàng hành quân, dây chì gai và trụ cọc, bao xi măng đã chất đống ở bến tàu để đưa xuống đây xây đồn bót. Cho nên buổi dạo cảnh của chúng tôi cũng có nghĩa là mắt dáo dác, chân bỏ vó hùm sẵn sàng phóng vô rừng.
Tư Mô đã từng than với tôi khi vừa đặt chân xuống vùng biển này một câu bất hủ:
- Ước gì mình có được một mảnh đất không có chụp dù để đi bộ và để nghỉ ngơi! Tôi không đòi gì hơn. Đây là mảnh đất lý tưởng nhất nhưng nó có giới hạn, một bên là sông Cổ Chiên một bên là sông Hàm Luông dày đặc những hô-bo, trên đầu thì diều ó, còn chúng tôi là gà con. Nhưng đi thì đi, dạo qua cảnh củ cho đỡ buồn. Thoạt tiên Ba Thơ đưa ra bãi biển và trỏ cái xác tàu tô hô nằm giữa cát lấp đến nửa thân.
- Tàu gì vậy?
Tôi nhìn Ba Thơ như hỏi. Ba Thơ nháy tôi. Tôi thấu cáy:
- Tàu chở đạn ngoài Bắc vô chớ gì! Mày tưởng tao điên à?
Ba Thơ cười trừ:
- Biết rồi thì thôi. Đại khái là vậy đó, còn hỏi làm gì?
- Nghĩa là sao? Tôi không hiểu gì hết!
Tư Mô làm bộ ngây thơ.
- Tàu chưa cặp bến thì trực thăng tới bắn tanh bành rồi phóng lửa xuống đốt tàu luôn. Ở trên bảo tụi tao phải thủ tiêu cái xác tàu để chạy án, nhưng tụi tao đã đánh mấy trái mìn mà nó còn ỳ như thế đó. Thôi đừng có hỏi nữa.
Ba Thơ dắt tụi tôi đi trên con đường cát dưới những ngọn đồi. Miểng cà nông của hạm đội Bảy bắn lên nằm lẩn trong gốc cây, bên vệ đường. Có cái giống như vỏ chuối già. Ba Thơ bảo:
- Tụi nó bắn không có giờ giấc gì hết. Uống bia xong, là tụi nó giật cò bắn tưới như đốt pháo vui chơi.
- Rồi mình làm sao?
- Hầm sẵn kia. Chui chớ còn sao nữa ! Nếu trái đầu nổ mà mình còn sống thì có hầm chui. Hầm ở khắp nơi mà. Cứ vài trăm thước có cái hầm to, vài chục thước có hố cá nhân. Nhà cũng là hầm. Nửa nhà nửa hầm hoặc cả nhà là một cái hầm, gọi là nhà hầm.
- Rồi làm sao mần ăn?
- Ra ruộng dưa cũng “vác hầm theo” chớ sao hà hà… Các cha có “vác” nổi không, tôi cho mỗi cha một cái?
Ba Thơ dắt tôi và Tư Mô đi một chập thì dừng lại bảo:
- Đây là trại huấn luyện tao với mày học cách đây hai mươi năm. “Khóa 3: Chiến Thắng”!
Câu nói làm tôi giật mình. Tôi nghe như có một sợi thần kinh nào cháy lên trong đầu. Đây là trại huấn luyện Thanh
Niên Cứu Quốc tỉnh sao? Thời gian quả là bàn tay tàn phá vĩ đại. Tự nhiên nước mắt tôi tuôn trào.
“Cảnh đây người đây luống đoạn trường”.
Tôi ra đi “theo cái cuộc cách mạng” từ đây, thuở còn thiếu nhi. Rồi rời tỉnh, lên Tháp Mười xuống Miền Tây, lên Miền Đông, ra Bắc, lội Trường Sơn rồi trở về đây. Hai mươi năm như một cái nháy mắt không khác một giấc mơ. Thằng bé ngày xưa bây giờ đã đến tuổi sồn sồn, trên đầu đã có dăm ba sợi bạc. Tôi phóng mắt nhìn quanh không thấy gì ngoài những đụn cát vàng và ven rừng nâu, những vệt mây và một mảnh Thái Bình Dương man mác.
- Mày có gặp mấy thằng cũ ở đây không?
- Thằng nào?
Tôi kể lại tất cả những tên đồng khóa
- Thằng Thự, thằng Phong, thằng Lực và ông Huệ huấn luyện viên môn Địa Dư chuyên môn vẽ bản đồ trên bãi cát bằng vỏ ốc, để dạy.
Ba Thơ ngẩn ngơ một giây rồi lắc:
- Tao không có gặp thằng nào cả . Ra trường rồi đi luôn tới bây giờ.
- Mày có gặp lại anh Tư, anh Hậu không? Anh Thông nữa?
Ba Thơ ngơ ngác như thằng ngố. Có lẽ hắn không ngờ tôi đã đào đến tận đáy óc hắn một cách bất ngờ. Hồi lâu mới đáp:
- Anh Mạch Văn Tư nghe nói sau khi bế trại được rút về làm ủy viên thường vụ, kiêm Trưởng Ban Huấn Luyện trên Thanh Niên Cứu Quốc Nam Bộ mà.
- Rồi sao nữa?
- Mày ở trên tỉnh mà không rõ, tao ở dưới huyện biết gì?
- Còn anh Hậu, anh Cầu, anh Tôn, anh Hưng… tao cũng không bao giờ gặp lại. Anh Cầu có lúc muốn làm rể ông Hoàng Như Nam. Bà Đào rất đẹp, biết không?
- Sao mày quên các ảnh mà nhớ anh Hoàn Cầu?
- Là vì nhà chị Đào ở gần nhà tao.
Tôi ngó quanh rồi hỏi:
- Nền trại ở chỗ nào?
- Đâu vùng này nhưng không chắc là chỗ nào. Có lẽ là chỗ cụm lau đó.
Tôi nhìn khóm lau vàng ngoách gật gờ trong nắng nhạt.
Chung quanh chỉ vài mái lá núp mình trong đụn cát và vài ba con chim rừng sập sân bay.
- Nhà ông Chín Bản ở đâu?
- Chín Bản nào?
- Một nhà giàu đã hảo tâm giúp vật liệu và bàn ghế cho trại. Ngôi nhà ở phía sau trại, sát ven rừng! Nằm ở nhà ngủ của tụi mình vạch vách nhìn thấy cái tủ kiếng trong nhà ổng lấp lánh.
- Tao quên rồi.
- Ổng có người con gái tên là chị Bê là người con gái duy nhất mặc áo bà ba trắng trong vùng trại minh. Còn ngoài ra ai cũng mặc áo nâu hoặc áo đen.
- Tao không còn nhớ ai.
- Chị Vấn, bà Tư nấu cơm cho trại mày cũng quên nữa sao?
- Hai người đó thì tao còn nhớ vì tao có tật xin cơm cháy ăn hằng ngày. Chị Vấn thiệt đẹp, vẻ đẹp khỏe mạnh, có cái đầu tóc rất to, còn bà Tư thì gầy gò, có thằng cháu nội cũng đến phụ nấu cơm.
Bỗng nhiên Ba Thơ vỗ vế la lên:
- Chết cha rồi !
Tôi giật mình hỏi.
- Gì vậy?
- Bà Tư Cua!
- Bà Tư Cua làm sao?
- Hổng chừng bà Tư Cua đó! Hồi đó tao không có quen ông Chín Bản cũng không biết chị Bê. Từ khi tao về công tác ở huyện này, tao chỉ gọi bà ta là bà Tư Cua. Mày không nhận ra chỉ sao?
- Tao hơi ngờ ngợ nên không dám hỏi. Hồi đó chỉ mới chừng mười tám bây giờ gần bốn mươi.
- Người ta sắp làm suôi rồi đó . Mày với anh Tư ở đây lâu lâu sẽ được ăn đám cưới.
Thời gian! Đó là điều ghê gớm. Trước mắt tôi cả một khu trại lá hiện ra . Vô cùng đơn sơ nhưng thật vĩ đại. Không có gì đáng giá cả, nhưng tuổi trẻ yêu nước của tỉnh nhà thời 45-46 đã được đào tạo nơi đây.
Một trại lá đài thấp lè tè được ngăn đôi. Văn phòng của Ban Chỉ Huy trại chỉ chiếm một phần năm. Phần còn lại dành cho giảng đường. Không có cửa đóng then gài. Vách lá dừng cao tới ngực. Người đi ngoài đường nhìn vào có thể đếm tất cả trại sinh. Bàn ghế làm toàn bằng cây tràm cây đước đốn ngoài rừng róc sơ và bện cặp vào nhau, ngồi lên còn đau đít. Chỉ có chiếc bàn đặt trên bục giảng viên là sản phẩm của thợ mộc mà thôi. Chiếc bàn đó được mượn từ nhà ông Chín Bản. Trước trại là một vuông sân, cát ngập tới mắt cá. Giữa sân lêu nghêu cây cột cờ. Chân cột được tô điểm một vòng tròn xây bằng vỏ sò, ốc, điệp mà mỗi buổi sáng trại sinh, sau khi tắm biển phơi nắng đều có ý thức nhặt năm bảy chiếc để góp phần vào đó.
Mỗi buổi sáng hai khóa gần chừng sáu mươi, bảy mươi trại sinh, một nửa là cán bộ thiếu nhi, một nửa là cán bộ thanh niên, sau khi tắm nước ngọt xong đến đây xếp hàng ngắn để chào cờ và nhận lời giáo huấn của ban chỉ huy trại.
Bên trái là Nhà Ngủ của trại sinh. Ngủ bằng nóp trên hai dãy sạp dài ọp ẹp, chiếc này úp sát chiếc kia, như những cái mả đất. Trên vách có treo hai khẩu hiệu: “Quân sự hóa thanh niên, du kích hóa đồ đạc”. Trong giờ ngủ có thể có còi kẻng báo động, trại sinh phải cuốn nóp vác lên vai ra tập họp trong vòng năm phút. Hình như có súng gỗ nữa thì phải. Còn bình thường thì nghe kẻng thức, trại sinh vừa tung nóp vừa hô “Xung phong, xung phong “tay cuộn nóp miệng hát: “Anh nghe chăng cung kèn rạng đông, đang uy linh lừng vang trên không” (Cung Kèn Rạng Đông của Hùng Lân). Dứt hồi kẻng là phải ra biển để được huấn luyện viên dắt chạy vài vòng trước khi tập thể dục lẫn võ thuật.
Đó là giảng đường và trại ngủ. Còn văn phòng thì gồm có bốn chiếc giường bện bằng tràm con, một cái bàn dài cũng bằng tràm. Áo quần sách vở của ban chỉ huy rất đơn sơ không cần có tủ. Gió lật sách, gió thổi sáo và tràm đước gảy đàn. Nhà bếp là một cái chòi gồm có một chiếc lò, nấu cơm bằng chảo đụng, thức ăn suốt tháng chỉ một món kho. Rau sam trại sinh tự túc lấy để ăn. Thỉnh thoảng mới có được bữa canh dưa hường nêm mắm ruốc. Đặc biệt dù kho hay canh, dưới đáy tô vẫn đọng một lớp cát. Khi nhai trong mồm, nghe rào rạo. Đứng mà ăn chớ không có ghế ngồi. Ban chỉ huy cũng như trại sinh. Thế nhưng tâm hồn cao cả vô biên!
Linh hồn của ban chỉ huy trại là anh Mạch Văn Tư tức thi sĩ Tâm Điền. Đêm nào cũng vậy, sau khi dạy chúng tôi một bài chính trị, tình hình thế giới, thi sĩ cũng đọc thơ kháng chiến như Ngọn Quốc Kỳ của Xuân Diệu hoặc những bài thơ của chính anh viết trong lúc làm trại trưởng.
Gió reo, gió reo, gió Việt Nam reo
Mây bay, mây bay, mây hồng tươi sáng
Gió ca trên non, gió ngợi trên đèo
Gió bay đi mà nhạc cũng bay theo.
Xuân Diệu
Đây biển rộng, đây rừng sâu
Đây mênh mông cao cả,
Đây thiên nhiên hòa hợp với lòng người
Đây muôn lòng xinh đẹp giữa hồng tươi
.
Tâm Điền
Anh là thần tượng của tuổi trẻ chúng tôi. Những thanh niên đầu óc mới tinh như trang giấy trắng, những học sinh vừa bỏ trường lòng còn rộn tiếng trống Chi Lăng, tiếng sóng Bạch Đằng nhưng chưa biết đi đâu, những thiếu nhi ham hát “Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng” nhưng chưa biết đàng nào để đi, tất cả đều đến đây để nhận đường đi cứu nước như những chiến sĩ trẻ lên đường:
Với núi sông vừa khi tươi sáng
Lên đường ta quyết tiến
Đoàn quân ta cùng bước đều ca
Rền khắp ngàn nơi xa
Cứu nước non vượt khi nguy biến
Lên đường ta quyết chiến
(Chiến Sĩ Lên Đường, Tâm Điền – Lữ Sinh, 1947)
Trước mặt chúng tôi, ba tấm ảnh lớn của các văn hào: Gorki, kỹ sư tâm hồn; Romain Rolland, bạn của kẻ yếu; Henri Barbusse, Đại Tướng chống Phát Xít được treo ngang nhau một cách trang trọng. Tôi nhớ không có ảnh Hồ Chí Minh. Không biết vô tình hay sự cố ý của ban chỉ huy trại.
Anh Mạch Văn Tư là người không chấp nhận CS từ đầu kháng chiến. Ngày nay, tức là sau bốn mươi sáu năm rời trại bất ngờ tôi được biết vị trại trưởng của tôi chính là thi sĩ Xuân Tước hiện tị nạn ở Colorado ! Chỉ có ba khẩu hiệu: “Dân Tộc – Khoa Học – Đại Chúng” viết trên gỗ thô đóng đinh trên xà ngang của giảng đường. Tuy không hiểu trọn vẹn, nhưng tất cả những gì tôi được dạy, tôi đều cảm thấy mới lạ và rất bổ ích. Chương trình huấn luyện của trại như một bó đuốc soi đường kỳ diệu. Bên ba tấm ảnh là bức tranh một chiến sĩ trẻ ôm súng máy xông trận với dòng chữ chú thích: “Thanh Niên Mới”.
Ba mươi ngày học ở đây thật chẳng khác nào một khúc nhạc xuân vui tươi, hồn nhiên và nóng sốt. Trong khung cảnh này, thi sĩ Tâm Điền và nhạc sĩ Lữ Sinh có được nguồn hứng để đẻ ra những tác phẩm bất hủ.
Cùng đi nguyền đem thân hiến cho đời mới
Tim thơm nồng đứng lên thét lên ánh dương chan hòa
…. Nghe nắng mới reo xôn xao,
chim với gió tung bay cao
Ta muốn đắp xây tương lai, ngàn tươi sáng.
Khi sông máu thôi tràn đầy
Ta quyết hiến tâm hồn này
Dâng ánh sáng cho đời sống
Nghe nắng mới reo xôn xao
Chim với gió tung bay cao…
(Tiến Lên Đường Sáng – TĐ-LS, 1946)
Một hôm anh Lữ Sinh nhạc sĩ vĩ cầm sang giảng đường bảo chúng tôi:
Hôm nay tôi dạy các em bản hát mới.
Rồi tay kẹp nách vĩ cầm, tay ra bộ, anh hát:
Làm sao khắp chúng dân đều tự do
Làm sao khắp muôn dân đầy cơm áo
Làm sao khắp thiên hạ hưởng hòa bình
Bao nhiêu năm đói rét và lầm than
Bao nhiêu lần bao nước mắt đẫm máu xương
Đứng lên đều tung gông cùm giam đời sống
Vùng lên đem hết máu xương
Vùng lên quyết tranh phần sống
Nào nại tan nát thân mình
Nào nại cực khổ gian lao
Muôn dân khóc than
Muôn dân nát lòng
Muôn dân căm hờn
Vìđời bất công!
Vùng lên đem hết máu xương
Vùng lên quyết tranh phần sống!
Tự do hạnh phúc kia rồi
Hòa bình no ấm chào đón ta!
(Tự Do, Cơm Áo, Hòa Bình, Lữ Sinh-Tâm Điền,1947)
Chúng tôi học thuộc rất mau nhờ tiếng đàn dẫn dắt. Nhưng chính là nhờ những ý tướng xã hội cao đẹp của bài hát đã đi vào tâm hồn chúng tôi như một mồi lửa phóng vào một mớ rơm khô. Nó tiếp nhận một cách hào hứng.
Cũng như đối với những bài khác sáng tác chung với anh Tâm Điền, anh Lữ Sinh đều không giới thiệu tác giả nên mãi về sau chúng tôi mới biết lời ca là cửa thi sĩ Tâm Điền. Hai mươi năm đi khắp đất nước, bây giờ trở lại vùng biển rừng như gặp lại một “kỷ vật” vĩ đại, tôi nghe nỗi buồn thấm tận tâm can.
Con người và tác phẩm của thi sĩ Tâm Điền đã ảnh hưởng sâu sắc trong đời viết văn của tôi. Chính anh đã gieo vào tâm hồn tôi mầm mống nghệ thuật từ đó nhưng tôi cũng không biết. Có lẽ anh cũng chẳng hay Bà tiêncầm đóa hoa
thổi đi, những hạt hoa bay, bà đâu biết nó sẽ bắt mầm và mọc lên ở mảnh đất nào. Bà chỉ biết gởi nó cho gió:
“Je sème à tout vent. “
Thật vậy tôi bắt đầu ham thơ phú, nhạc họa từ lúc hát những bài của Lưu Hữu Phước, xem tranh của Diệp Minh Châu và nghe thơ của Tâm Điền. Hồi ở trại, chính anh đã bảo tôi đóng mấy tập thơ “Đượm Hồng” của anh để triển lãm ở buổi lửa trại bế mạc khóa Chiến Thắng tại huyện lỵ Thạnh Phú. Nhờ đó tôi đã đọc hết tập thơ của anh. Và chưa bao giờ tôi đọc nhiều thơ cùng một lúc như vậy.
Bên cạnh văn học nghệ thuật anh còn dạy cho tôi lòng yêu nước. Anh đã làm theo những lời anh từng dạy chúng tôi Một lòng yêu nước trọn vẹn và không bị bất cứ thứ chủ nghĩa nào chi phối.
Trong lúc làm Tỉnh Đoàn Trưởng Thanh Niên Cứu Quốc Tỉnh, anh đã bị Tỉnh Ủy chèn ép, mua chuộc, nhưng anh nhất định không vô đảng. Vì quá cứng đầu nên anh bị đưa lên Nam Bộ cho Tỉnh Ủy khỏi chướng tai gai mắt. Lên đây anh lại bị chèn ép bởi cơ quan Thanh Niên Cứu Quốc Nam Bộ đứng đầu là Trần Bạch Đằng. Tài năng vượt xa Đằng nhưng anh bị đặt dưới Đằng. Mặc dù vậy anh buộc lòng chấp nhận công tác cho đến 1954. Chính anh quen biết Hoàng Xuân Nhị từ 1946 trong buổi lễ bế mạc khóa Chiến Thắng kể trên, nhưng sau này chính Hoàng Xuân Nhị lẫn Hà Huy Giáp thuyết phục anh vô đảng. Anh vẫn từ chối. Nhất định không vô Cộng sản để được ân huệ của đảng. Khi đình chiến, anh tuyên bố:
- Tôi chịu đựng các anh đã quá nhiều. Sự đóng góp của tôi trong chín năm kháng chiến coi như đã đủ đối với đất nước. Bây giờ tôi phải đi con đường của tôi!
Và anh dắt vợ con về Sài Gòn.
Mạch Văn Tư, người thanh niên hai mươi sáu tuổi trại trưởng, tỉnh đoàn trưởng, ủy viên thường vụ Thanh Niên Cứu Quốc Nam Bộ, người đã võ trang trên bốn trăm cán bộ Thanh Niên cho tỉnh Bến Tre, hằng ngàn cán bộ cho toàn Nam Bộ, vũ khí lòng yêu nước mầu nhiệm, đành phải về Sài Gòn, tự hủy bỏ công lao của mình vì không thể hợp tác với Cộng sản năm 1954 và đã phải bỏ nước ra đi vì không thể sống chung với Cộng sản năm 1975. Nhưng điều đó không có nghĩa là anh khuất phục chúng. Không ! Thi sĩ Tâm Điền thời đầu Kháng chiến và nhà thơ Xuân Tước bây giờ là một, vẫn chiến đấu chống Cộng sản, với ngọn bút trong tay.


- 21 -
Tôi đã dắt độc giả đi ngược thời gian quá xa. Bây giờ xin trở về nền trại cũ. Thằng học trò của thầy Mạch Văn Tư, bạn tôi, Ba Thơ, bây giờ là Tỉnh Ủy Viên. Cả hai đứa bồi hồi ôn lại những kỷ niệm xưa. Có lẽ hắn cũng như tôi đều cảm thấy buồn, một nỗi buồn ghê gớm, nỗi buồn của hai tên học trò trở lại trường cũ mà ngôi trường đã biến mất hoàn toàn. Ba Thơ bảo:
- Thôi trở về để hỏi xem Tư Cua có phải là bà Bê con ông Chín Bản hay không?
Tôi và Tư Mô lẽo đẽo theo sau hắn. Bên cạnh nỗi buồn bất chợt đến, tôi có suy nghĩ của tôi: Miền Bắc xã hội chủ nghĩa muốn bỏ vòi biến Miền Nam thành một loại bò vàng trán in dấu lửa Nga Xô. Khi ra đến đó, sống một năm tôi đã hết chịu nổi. Nhưng, như ván đã đóng thuyền tôi không có cách gì trốn thoát. Tôi chỉ tiếc rẻ: Hồi đầu kháng chiến, nếu biết tương lai của mình như vầy, thì mình đã không đi. Và có lẽ cũng không ai đi theo tiếng gọi “đáp lời sông núi”. Hai mươi năm phí uổng, vô ích. May mà tôi còn sống để về được xứ sở quê hương.
Đang đi, bỗng Ba Thơ quay lại:
- Tao nghe nói ở ngoài đó sung sướng lắm mà mậy !
- Đ… !
- Tao nghe tụi Mùa Thu về tuyên truyền mạnh lắm!
- Mẹ mấy thằng nói láo. Sao chúng nó không ở ngoải hưởng mà mang đầu về?
- . … để giải phóng Miền Nam!
- Chưa giải phóng còn cơm ăn, giải phóng xong, húp cháo.
- Giỡn hoài mậy!
- Lập trường của mày hiện giờ ló ra một tấc rưỡi, giải phóng rồi, thụt mất tiêu!
Ba Thơ không quạo lại cười hề hề:
- Vậy ở Miền Bắc chắc cái của chú mày cao trên tấc rư..ỡi ?
Cả ba cùng cười. Ba Thơ tiếp:
- Bữa nay tao biểu Tư Cua cho tụi mình ăn Tết sớm cho chắc tay. Lơ mơ nó chụp, mất ăn!
Sáng thức dậy ở nhà ông Tư Cua, tôi và anh Tư Mô nhìn nhau:
- Kiếm chỗ khác ăn chực, chớ không lẽ ở đây bắt người ta đãi hoài.
Tư Cua là người điệu đàn, nên chúng tôi chưa kịp vác ba-lô đi thì cơm nước đã dọn ra. Không rõ vì nể Ba Thơ hay là thương mến chúng tôi. Cơm nước xong, chúng tôi, vì tự trọng, cương quyết ra đi. Nhưng Ba Thơ phụ nhĩ:
- Cán bộ bây giờ phải tự túc hết cả. Không còn được lãnh sinh hoạt phí như trước. Các cha cũng nên tính kế.
Tôi nói:
- Tụi tao có thể đi làm mướn để sống. Ở trên Tân Hào, tao đã từng gánh lúa mướn, bồi vườn, dạy học, ở đây có việc gì không?
- Nếu mày chịu lao động thì thiếu gì việc. Mày còn nhớ cái bãi này có vô số sò hến! Đi trên bãi cát, lấy ngón chân cái xủi một cái là văng lên vài con hến. Ở đây, năm nay hến lan tràn, nên tao chia ra thành ruộng hến. Để tao bảo Chi Ủy cấp cho mày một ít “manh” rồi cào bắt đem bán. Có người thầu đem lên đong cho vựa ở Bến Tre. Đó là nghề dễ ăn nhất.
- Tao nhớ hồi tụi mình học ở trại, ngày nào cũng ăn hến, hến luộc hến nấu canh bí, hến kho… Cả hến rô ti nữa !
Ba Thơ bảo:
- Tuy dễ ăn, nhưng có lúc cũng phải hi sinh nghe mậy !
- Tại sao?
- Tại vì mày phải ra ruộng, mà ruộng hến thì đâu có hầm hố gì. Phải liều mạng mới cào được. Nếu có trực thăng phải chạy. Chạy không kịp thì lên đài tử sĩ.
Tư Mô lắc đầu:
- Vậy không chơi được ! Bộ giò tụi tao bây giờ hết chất nhờn rồi, chạy không kịp trực thăng đâu.
Ba Thơ tiếp:
- Còn một nghề nữa. Là nghề móc cua biển. Ở sau rừng có vô số cua biển. Đem lên Bến Tre một vốn lời năm.
- Được rồi. Một ngày bắt được chục rưỡi con cũng đủ sống.
- Nhưng lắm khi cũng đổ máu.
- Tại sao?
Ba Thơ rỉ tai tôi.
- Là vì trong rừng mình… giấu “ông kẹ, bà kẹ” cho nên du kích phải gài lựu đạn chặn các ngõ. Nếu không dân móc cua đi luồng tuông lộ bí mật hết.
Tôi sực nhớ vụ thằng Hồng bị lựu đạn nổ dưới đìa ở Tân Hào vừa rồi.
- Cái gì chớ lựu đạn gài thì tụi tao xin rút lui. Còn nghề gì nữa không?
- Còn một nghề khoẻ nhất là trồng dưa hấu. Nhưng lâu ăn.
- Hổng được. Rủi trồng rồi bỏ chạy thì cụt vốn làm sao ?
- Còn nghề “đắp bùn vô cua” cũng rất khỏe.
- Nghề gì kỳ cục vậy?
- Nghe thì kỳ cục nhưng không sợ trực thăng. Tức là các tay móc cua đem về, bà Tư Cua cân hết. Tụi này lãnh rồi móc đất sét đắp lên mình từng con một. Đắp nhiều ăn nhiều, đắp ít ăn ít.
- Ăn đất à!
- Ậy! Để tao nói cho nghe. Thí dụ một giỏ cân được 50 kí lô. Giao cho mày mày cứ móc đất sét đắp lên mình từng con một. Đắp càng nhiều càng tốt. Vì có đất nhiều cua sống dai, sống dai bán cho vựa được nhiều tiền hơn cua chết. Nếu ông đắp xong cả giỏ cân được 75 kí thì bà Tư Cua sẽ trả tiền cho ông 25 kí cua tính theo giá ở đây.
- Chỉ đắp đất vậy thôi à?
- Chỉ có vậy thôi. Đắp bít cả mắt cua cho muỗi không cắn được. Mày biết không? Khắp mình con cua chỉ có cặp mắt là muỗi không cắn được, muỗi cắn mắt là nó chết.
- Tại sao dân ở đây không làm?
- Vì ít tiền hơn đi ngoéo cua.
- Thôi được mày nói với bà Tư Cua, cho hai đứa tao cái công tác đó đi !
Thế là hai nhà văn R trở thành chuyên viên đắp đất cho cua. Chúng tôi không lấy tiền mà chỉ xin được ăn cơm ngày hai bữa. Riêng anh Tư thì có thuốc hút và trà uống tì tì. Ông Tư Cua mến chúng tôi, dù hèn cũng là cán R là văn sĩ nọ kia. Còn chúng tôi thì biết phận mình chẳng ra chi nên vui lòng làm, không dám mè nheo gì cả. Coi như việc sáng tác xếp lại một bên. Nhưng mà thời cuộc biến chuyển. Trực thăng đâu có để yên cho hai gã giang hồ này toại hưởng thái bình. Cứ mỗi sáng mở mắt ra thì gặp những đoàn cán bộ lũ lượt kéo qua. Chúng tôi quen hoặc không quen cũng chận lại hỏi:
- Ê ! Tình hình ở trển giờ sao ta?
- Tụi Bình Định đóng bít hết Tân Hào, Thạnh Phú Đông, Phước Long rồi.
Vậy là chỉ còn có cái lỏm Thạnh Phong ra biển nữa thôi . Chạy đi đâu? Bắc giáp Ba Tri, Nam giáp Trà Vinh. Đông giáp biển Nam Hải, Tây giáp Thạnh Phú. Không chỗ nào khả dĩ dung thân được. Mặt người nào người nấy méo xẹo. Không ai muốn nói chuyện với ai. Có khi bị hỏi, không trả lời mà còn văng tục trở lại.
Trong lúc thế sự ở dưới đất bất ổn thì từ trên trời, cái con đầm già cứ ong ong chụp loa xuống oang oang:
- Hồ Chí Minh Đã Ngủm Cù Đeo (nó thêm hai chữ “cù đeo”) và Chiêu Hồi Hoặc Tử Thần!
Đi sau những câu này là tiếng nói của các ông các bà cán bộ vừa tìm tự do xong. Ngày nào cũng có vài ông bà mới. Họ xưng tên, tuổi, chức vụ, và gốc gác rất chi tiết. Tôi không còn nhớ hết tên, nhưng có một bữa tôi giật mình vì một giọng nói rất quen. Nghe rõ tên thì đó là dượng của tôi làm Huyện Đội Phó huyện Mõ Cày. Lúc tôi về ở nhà cụ tôi, dượng có đến thăm, lưng giắt“cun” oai ra phết.
Liên tiếp chuyện không lành xảy đến. Việc đau khổ nhất giáng xuống nồi cơm chúng tôi. Số là đã bình định xong Cù Lao Minh, quân Sài Gòn chặn ngách Thạnh Phong không cho cán bộ vọt ra khỏi đó . Họ không cho đò từ Thạnh Phú trở lên đi Bến Tre, đò Cồn Chim Thạnh Phong không được đi. Như vậy bao nhiêu chuyến buôn cua bị đuổi lộn về . Và hai chàng văn sĩ cố nhiên phải thất nghiệp. Vựa cua Cồn Chim đóng cửa. Dân móc cua không còn hành nghề.
Lũ lượt dân quân cán chính từ miệt trên đổ xuống. Tôi không hiểu tại sao có lệnh cấm ngặt không cho ai xuống vùng thánh địa này mà bây giờ ngày nào cũng có hàng đàn xuống đây. Người ngợm mặt mày đông đến khiếp. Chúng tôi thấy trước một cuộc chụp dù qui mô sẽ xảy đến không xa. Đó chẳng khác nào người đóng đáy, đổ đục bắt trụm cá lóc cá trê cá rô cá kèo cá chốt tôm tép không sót thứ nào.
Muốn tránh nhưng không có đường. Một bữa tôi và Tư Mô gặp Ba Lương, Trưởng Đoàn Văn Công tỉnh đội. Anh là người hiền hậu dễ thương nhưng không có khả năng văn nghệ. Sở dĩ anh đem cả đoàn về nơi tử địa, không còn là thánh địa nữa, là vì gia đình anh ở đây. Đoàn có thể tựa vào cơ sở của gia đình anh sống ngáp ngáp chờ chụp, còn anh thì có cơ hội gần gia đình trước khi bị chụp.
Gặp chúng tôi, anh ngoẹo cổ sang một bên như gà nòi bị chém cần:
- Con Thu Ba chết rồi anh ạ !
- Chết hồi nào?
- Cách đây vài hôm.
- Tại sao?
- Bù nốc đuổi bắn chết.
Thu Ba là cô bé mười bảy tuổi, ca vọng cổ mầm non ai cũng công nhận cô bé có giọng ca giống giọng Lệ Thủy.
- Trời đất! Tội nghiệp! Bây giờ anh tính ai thay thế nó để biểu diễn?
- Biểu gì nổi mà biểu.
Ba Sơn, ông bạn vàng của tôi bị ban Tuyên Huấn Tỉnh Ủy cho nghỉ việc vì cứng đầu đã sang đoàn Văn Công của Ba Lương thủ cây đờn tranh, cùng đi với Ba Lương. Tôi hỏi.
- Bà bầu thế nào?
- Tôi gởi về Bến Tre rồi. Chị sanh chưa?
- Rồi ! Gái !
Tôi và Tư Mô nhập ngang xương vào đoàn Ba Lương làm chùm gởi. Họ không mất cũng không được gì với sự có mặt của hai ông cán R. Chỉ ghép nhau chạy cho vui, rủi có bị thương thì băng bó nhau. Vậy thôi. Tình đồng chí không giúp ích gì nhau cả . Tuy vậy, Ba Lương cũng làm bộ oai, hứa sẽ dựng sân khấu phục vụ nhân dân. Tôi cũng làm ra vẻ còn tinh thần. Tôi sẽ viết cho đoàn một vở cải lương hài hước. Lúc ở chung với Tám Không tôi cũng có học lóm được vài bảng Kim Tiền, Bình Bán… Bây giờ đem ra xài.
Tôi hỏi thăm đoàn Văn Công của tỉnh vì trong đó có thằng em con dì tôi. Ba Lương bảo:
- Mười Xường xui quá !
- Chuyện gì vậy?
- Y tìm đâu được con mèo mướp.
- Có vụ chạy giàn ngoài nữa à?
- Không! Đây là mèo ăn thịt, không phải “mèo” kia. Y đem lại nhà chị Sáu ở Giồng Chùa rủ tôi làm thịt nhậu. Tôi bảo ăn thịt mèo xui lắm! Y bảo y không tin dị đoan. Hai đứa làm, xào lăn cưa hết nửa cây đế. Đã thiệt! Có chụp cũng không thèm chạy, chiều tối hai đứa chia tay. Hôm sau nghe y đạp đạn cà-nông cải tiến của du kích Phước Long.
- Cà-nông cải tiến là cà-nông gì?
- Là đầu cà-nông lép, tụi du kích đào lên gắn hột nổ mới. Cái đồ khôn nhà dại chợ. Lính lội qua lội lại dẫm nát đất mà không nổ, đến phiên mình thì lại nổ.
- Tôi ớn ba ông nội con nít lắm cha ơi! Chuyện qua rồi không nên nhắc lại làm gì cho thêm rủn chí tơ lòng. Hồi mới qua đây, tôi dắt vợ lơn tơn đâu biết lối nào, chẳng may đá sút chốt một trái, không hiểu sao nó lại câm. Nếu nó“ư” một cái là hốt xương rồi.
- Sao anh biết?
- Tôi vừa đi qua thì mấy ổng tới gỡ đem vô, nói cho tôi biết.
- Trời cứu mà ! Tôi bị cà-nông xén hết một bên tóc, rốc-kết bắn cháy râu mà mình mẩy còn nguyên.
- Bây giờ tính sao cha?
- Tính gì được mà tính. Tụi mình hiện giờ đang ở trong hũ nút. Nó muốn xúc ra làm mắm, kho khô lúc nào thì tùy nó chớ lội đi đâu được?
- Tụi Bình Định trơ đó mà mình không làm gì được à ?
- Làm mẹ gì. Tiểu đoàn của thằng Chín Chu còn có non nửa. Sau Mậu Thân lặn mất tăm.
Ba Lương ngó dáo dác rồi hạ giọng hỏi tôi:
- Ê, mấy cha ở trên R có nghe ngóng ngoài Bắc gần thay đổi chủ trương chưa?
- Chủ trương gì?
Ba Lương ậm ờ một chút rồi gạt ngang:
- Mà thôi, bỏ mẹ nó đi !
Bỗng đâu con đầm già tới, phóng loa chụp xuống đầu tụi tôi. Ba Lương lôi tay tôi núp vô cây mãng cầu ta còi cọc. Biết là không trốn khỏi mà vẫn né cho có lệ. Tôi biết Ba Lương cũng như tôi và bao nhiêu cán bộ khác sốt ruột muốn hòa bình. Đánh gì mà từ thắng tới huề, tới thua. Rồi bây giờ sắp thua trụm mà cũng chưa chịu thôi. Bởi vì cái tâm lý của bọn lãnh tụ là những kẻ hi sinh không phải là con cháu, dòng họ của chúng. Ruột ai nấy xót. Dân Nam Kỳ chết càng nhiều thì càng bớt đi những mũi nhọn chống đối, chúng càng ngồi yên chớ có sao đâu.
- Chịp! Tội nghiệp con Thu Ba.
Tôi nói thầm:
- Nếu nó là con Lê Duẩn, Trường Chinh thì giờ này nó đang ở bên Liên Xô, Đông Đức chớ đâu có nằm dưới đất đen để hưởng vinh quang của đảng.
Tôi hỏi lái qua một chuyện khác:
- Các chả đâu hết rồi?
- Các chả nào?
- Còn các chả nào nữa ông nội?
- Mỗi cha một hang, ai tìm cũng không ra.
- Bây giờ anh đem vùi cái đám Văn Công của anh ở xó nào?
- Hồi trước tôi thấy cái bãi biển này rộng ghê . Từ Cồn Chim ra Cồn Lớn đi một buổi. Bây giờ nháy mắt.
- Ê cha! Tới giờ này mà cha còn giữ mấy cô nường để xe khô hả. Tụi nó chụp một phát là xúc sạch hết, rồi tiếc nghe.
- Xúc thì xúc chớ tôi đâu có dám rớ tới.
- Để mọc mọng hay cống Hồ cho mấy lão FM đầu bạc? Nghe con nhỏ đánh máy về thành nạo rễ rồi hả?
- Ông biết một không biết hai. Không phải một con nhỏ đó thôi đâu. Còn vài ba đứa nữa. Tại mấy ông cán bộ “R” của ông đó.
- Ai R chớ tụi tôi có R đâu mà hô oán!
Tôi và Tư Mô trở thành đoàn viên không chứng nhận của Ba Lương. Cứ hễ sáng sớm thì vác ba lô đi xuống Cồn Lớn “phòng động” vì ở đây có rừng rậm. Nếu bị chụp thì lủi vô rừng. Ở miệt trại Cua thì rừng mắm lá thưa thớt. Hầm hố cái nào cái nấy như hang còng không bảo đảm. Ở ngoài rừng đến xế, nếu tình hình êm thì lại kéo về xóm nấu cơm. Nhà dân thì có hầm nhưng thấy cán bộ xuống nườm nượp thì sợ liên lụy nên cũng đùm túm xuống Cồn Lớn cất chòi trong rừng mà ở. Thấy rõ là họ không muốn cán bộ tới gần. Tôi gặp một gia đình ở trong một cái nhà sàn túm húm. Tôi cố lấy hết sức tuyên truyền cách mạng, nào là giải phóng, nào là Miền Bắc ấm no, nào Liên Xô thiên đàng mặt đất. Ông già ngồi nghe rất chăm chú . Bà già nấu nước mời uống. Sáng hôm sau tôi trở lại định tuyên truyền tiếp, chẳng ngờ ngôi nhà trống hoang. Gia đình dọn đi sạch không còn để lại một món gì. Rõ ràng tình cá nước vô cùng thắm thiết!
Tôi thường đi ghép với tổ âm nhạc của Ba Sơn vì y là người quen từ lâu đồng thời hai đưa cùng có vợ vừa đẻ . Bữa nào cũng mắc võng trong bụi Sơn Tra nói chuyện vợ con, trong lúc Tư Mô thì đi thọc ổ kiến vàng lấy nhộng câu cá lòng tong. Anh có kiên nhẫn ngồi chờ cá cắn câu. Triết lý của anh là giết thì giờ một cách có lợi. Thường thường bữa ăn ngon nhờ anh. Lắm khi với một vài con bù cào mỡ anh bắt được hai con cá rô.
Đi trên đất cũ, tôi tiếc thời kháng chiến chống Pháp. Hồi đó cuộc sống của cán bộ rất phấn khởi, hồn nhiên. Ai cũng sẵn lòng hi sinh cho đại cuộc. Bây giờ có cái đảng này chen vô mệt quá . Nó hoàn toàn độc tài từ Trung ương xuống tỉnh, từ tỉnh xuống ấp. Mỗi tổ trưởng là một ông trời con, muốn giết ai cứ gán cho tội phản động và lôi ra giết.
Tôi đã dắt độc giả đi ngược thời gian quá xa. Bây giờ xin trở về nền trại cũ. Thằng học trò của thầy Mạch Văn Tư, bạn tôi, Ba Thơ, bây giờ là Tỉnh Ủy Viên. Cả hai đứa bồi hồi ôn lại những kỷ niệm xưa. Có lẽ hắn cũng như tôi đều cảm thấy buồn, một nỗi buồn ghê gớm, nỗi buồn của hai tên học trò trở lại trường cũ mà ngôi trường đã biến mất hoàn toàn. Ba Thơ bảo:
- Thôi trở về để hỏi xem Tư Cua có phải là bà Bê con ông Chín Bản hay không?
Tôi và Tư Mô lẽo đẽo theo sau hắn. Bên cạnh nỗi buồn bất chợt đến, tôi có suy nghĩ của tôi: Miền Bắc xã hội chủ nghĩa muốn bỏ vòi biến Miền Nam thành một loại bò vàng trán in dấu lửa Nga Xô. Khi ra đến đó, sống một năm tôi đã hết chịu nổi. Nhưng, như ván đã đóng thuyền tôi không có cách gì trốn thoát. Tôi chỉ tiếc rẻ: Hồi đầu kháng chiến, nếu biết tương lai của mình như vầy, thì mình đã không đi. Và có lẽ cũng không ai đi theo tiếng gọi “đáp lời sông núi”. Hai mươi năm phí uổng, vô ích. May mà tôi còn sống để về được xứ sở quê hương.
Đang đi, bỗng Ba Thơ quay lại:
- Tao nghe nói ở ngoài đó sung sướng lắm mà mậy !
- Đ… !
- Tao nghe tụi Mùa Thu về tuyên truyền mạnh lắm!
- Mẹ mấy tháng nói láo. Sao chúng nó không ở ngoải hưởng mà mang đầu về?
- . … để giải phóng Miền Nam!
- Chưa giải phóng còn cơm ăn, giải phóng xong, húp cháo.
- Giỡn hoài mậy!
- Lập trường của mày hiện giờ ló ra một tấc rưỡi, giải phóng rồi, thụt mất tiêu!
Ba Thơ không quạo lại cười hề hề:
- Vậy ở Miền Bắc chắc cái của chú mày cao trên tấc rư..ỡi ?
Cả ba cùng cười. Ba Thơ tiếp:
- Bữa nay tao biểu Tư Cua cho tụi mình ăn Tết sớm cho chắc tay. Lơ mơ nó chụp, mất ăn!
Sáng thức dậy ở nhà ông Tư Cua, tôi và anh Tư Mô nhìn nhau:
- Kiếm chỗ khác ăn chực, chớ không lẽ ở đây bắt người ta đãi hoài.
Tư Cua là người điệu đàn, nên chúng tôi chưa kịp vác ba-lô đi thì cơm nước đã dọn ra. Không rõ vì nể Ba Thơ hay là thương mến chúng tôi. Cơm nước xong, chúng tôi, vì tự trọng, cương quyết ra đi. Nhưng Ba Thơ phụ nhĩ:
- Cán bộ bây giờ phải tự túc hết cả. Không còn được lãnh sinh hoạt phí như trước. Các cha cũng nên tính kế.
Tôi nói:
- Tụi tao có thể đi làm mướn để sống. Ở trên Tân Hào, tao đã từng gánh lúa mướn, bồi vườn, dạy học, ở đây có việc gì không?
- Nếu mày chịu lao động thì thiếu gì việc. Mày còn nhớ cái bãi này có vô số sò hến! Đi trên bãi cát, lấy ngón chân cái xủi một cái là văng lên vài con hến. Ở đây, năm nay hến lan tràn, nên tao chia ra thành ruộng hến. Để tao bảo Chi Ủy cấp cho mày một ít “manh” rồi cào bắt đem bán. Có người thầu đem lên đong cho vựa ở Bến Tre. Đó là nghề dễ ăn nhất.
- Tao nhớ hồi tụi mình học ở trại, ngày nào cũng ăn hến, hến luộc hến nấu canh bí, hến kho… Cả hến rô ti nữa !
Ba Thơ bảo:
- Tuy dễ ăn, nhưng có lúc cũng phải hi sinh nghe mậy !
- Tại sao?
- Tại vì mày phải ra ruộng, mà ruộng hến thì đâu có hầm hố gì. Phải liều mạng mới cào được. Nếu có trực thăng phải chạy. Chạy không kịp thì lên đài tử sĩ.
Tư Mô lắc đầu:
- Vậy không chơi được ! Bộ giò tụi tao bây giờ hết chất nhờn rồi, chạy không kịp trực thăng đâu.
Ba Thơ tiếp:
- Còn một nghề nữa. Là nghề móc cua biển. Ở sau rừng có vô số cua biển. Đem lên Bến Tre một vốn lời năm.
- Được rồi. Một ngày bắt được chục rưỡi con cũng đủ sống.
- Nhưng lắm khi cũng đổ máu.
- Tại sao?
Ba Thơ rỉ tai tôi.
- Là vì trong rừng mình… giấu “ông kẹ, bà kẹ” cho nên du kích phải gài lựu đạn chặn các ngõ. Nếu không dân móc cua đi luồng tuông lộ bí mật hết.
Tôi sực nhớ vụ thằng Hồng bị lựu đạn nổ dưới đìa ở Tân Hào vừa rồi.
- Cái gì chớ lựu đạn gài thì tụi tao xin rút lui. Còn nghề gì nữa không?
- Còn một nghề khoẻ nhất là trồng dưa hấu. Nhưng lâu ăn.
- Hổng được. Rủi trồng rồi bỏ chạy thì cụt vốn làm sao ?
- Còn nghề “đắp bùn vô cua” cũng rất khỏe.
- Nghề gì kỳ cục vậy?
- Nghe thì kỳ cục nhưng không sợ trực thăng. Tức là các tay móc cua đem về, bà Tư Cua cân hết. Tụi này lãnh rồi móc đất sét đắp lên mình từng con một. Đắp nhiều ăn nhiều, đắp ít ăn ít.
- Ăn đất à!
- Ậy! Để tao nói cho nghe. Thí dụ một giỏ cân được 50 kí lô. Giao cho mày mày cứ móc đất sét đắp lên mình từng con một. Đắp càng nhiều càng tốt. Vì có đất nhiều cua sống dai, sống dai bán cho vựa được nhiều tiền hơn cua chết. Nếu ông đắp xong cả giỏ cân được 75 kí thì bà Tư Cua sẽ trả tiền cho ông 25 kí cua tính theo giá ở đây.
- Chỉ đắp đất vậy thôi à?
- Chỉ có vậy thôi. Đắp bít cả mắt cua cho muỗi không cắn được. Mày biết không? Khắp mình con cua chỉ có cặp mắt là muỗi không cắn được, muỗi cắn mắt là nó chết.
- Tại sao dân ở đây không làm?
- Vì ít tiền hơn đi ngoéo cua.
- Thôi được mày nói với bà Tư Cua, cho hai đứa tao cái công tác đó đi !
Thế là hai nhà văn R trở thành chuyên viên đắp đất cho cua. Chúng tôi không lấy tiền mà chỉ xin được ăn cơm ngày hai bữa. Riêng anh Tư thì có thuốc hút và trà uống tì tì. Ông Tư Cua mến chúng tôi, dù hèn cũng là cán R là văn sĩ nọ kia. Còn chúng tôi thì biết phận mình chẳng ra chi nên vui lòng làm, không dám mè nheo gì cả. Coi như việc sáng tác xếp lại một bên. Nhưng mà thời cuộc biến chuyển. Trực thăng đâu có để yên cho hai gã giang hồ này toại hưởng thái bình. Cứ mỗi sáng mở mắt ra thì gặp những đoàn cán bộ lũ lượt kéo qua. Chúng tôi quen hoặc không quen cũng chận lại hỏi:
- Ê ! Tình hình ở trển giờ sao ta?
- Tụi Bình Định đóng bít hết Tân Hào, Thạnh Phú Đông, Phước Long rồi.
Vậy là chỉ còn có cái lỏm Thạnh Phong ra biển nữa thôi . Chạy đi đâu? Bắc giáp Ba Tri, Nam giáp Trà Vinh. Đông giáp biển Nam Hải, Tây giáp Thạnh Phú. Không chỗ nào khả dĩ dung thân được. Mặt người nào người nấy méo xẹo. Không ai muốn nói chuyện với ai. Có khi bị hỏi, không trả lời mà còn văng tục trở lại.
Trong lúc thế sự ở dưới đất bất ổn thì từ trên trời, cái con đầm già cứ ong ong chụp loa xuống oang oang:
- Hồ Chí Minh Đã Ngủm Cù Đeo (nó thêm hai chữ “cù đeo”) và Chiêu Hồi Hoặc Tử Thần!
Đi sau những câu này là tiếng nói của các ông các bà cán bộ vừa tìm tự do xong. Ngày nào cũng có vài ông bà mới. Họ xưng tên, tuổi, chức vụ, và gốc gác rất chi tiết. Tôi không còn nhớ hết tên, nhưng có một bữa tôi giật mình vì một giọng nói rất quen. Nghe rõ tên thì đó là dượng của tôi làm Huyện Đội Phó huyện Mõ Cày. Lúc tôi về ở nhà cụ tôi, dượng có đến thăm, lưng giắt“cun” oai ra phết.
Liên tiếp chuyện không lành xảy đến. Việc đau khổ nhất giáng xuống nồi cơm chúng tôi. Số là đã bình định xong Cù Lao Minh, quân Sài Gòn chặn ngách Thạnh Phong không cho cán bộ vọt ra khỏi đó . Họ không cho đò từ Thạnh Phú trở lên đi Bến Tre, đò Cồn Chim Thạnh Phong không được đi. Như vậy bao nhiêu chuyến buôn cua bị đuổi lộn về . Và hai chàng văn sĩ cố nhiên phải thất nghiệp. Vựa cua Cồn Chim đóng cửa. Dân móc cua không còn hành nghề.
Lũ lượt dân quân cán chính từ miệt trên đổ xuống. Tôi không hiểu tại sao có lệnh cấm ngặt không cho ai xuống vùng thánh địa này mà bây giờ ngày nào cũng có hàng đàn xuống đây. Người ngợm mặt mày đông đến khiếp. Chúng tôi thấy trước một cuộc chụp dù qui mô sẽ xảy đến không xa. Đó chẳng khác nào người đóng đáy, đổ đục bắt trụm cá lóc cá trê cá rô cá kèo cá chốt tôm tép không sót thứ nào.
Muốn tránh nhưng không có đường. Một bữa tôi và Tư Mô gặp Ba Lương, Trưởng Đoàn Văn Công tỉnh đội. Anh là người hiền hậu dễ thương nhưng không có khả năng văn nghệ. Sở dĩ anh đem cả đoàn về nơi tử địa, không còn là thánh địa nữa, là vì gia đình anh ở đây. Đoàn có thể tựa vào cơ sở của gia đình anh sống ngáp ngáp chờ chụp, còn anh thì có cơ hội gần gia đình trước khi bị chụp.
Gặp chúng tôi, anh ngoẹo cổ sang một bên như gà nòi bị chém cần:
- Con Thu Ba chết rồi anh ạ !
- Chết hồi nào?
- Cách đây vài hôm.
- Tại sao?
- Bù nốc đuổi bắn chết.
Thu Ba là cô bé mười bảy tuổi, ca vọng cổ mầm non ai cũng công nhận cô bé có giọng ca giống giọng Lệ Thủy.
- Trời đất! Tội nghiệp! Bây giờ anh tính ai thay thế nó để biểu diễn?
- Biểu gì nổi mà biểu.
Ba Sơn, ông bạn vàng của tôi bị ban Tuyên Huấn Tỉnh Ủy cho nghỉ việc vì cứng đầu đã sang đoàn Văn Công của Ba Lương thủ cây đờn tranh, cùng đi với Ba Lương. Tôi hỏi.
- Bà bầu thế nào?
- Tôi gởi về Bến Tre rồi. Chị sanh chưa?
- Rồi ! Gái !
Tôi và Tư Mô nhập ngang xương vào đoàn Ba Lương làm chùm gởi. Họ không mất cũng không được gì với sự có mặt của hai ông cán R. Chỉ ghép nhau chạy cho vui, rủi có bị thương thì băng bó nhau. Vậy thôi. Tình đồng chí không giúp ích gì nhau cả . Tuy vậy, Ba Lương cũng làm bộ oai, hứa sẽ dựng sân khấu phục vụ nhân dân. Tôi cũng làm ra vẻ còn tinh thần. Tôi sẽ viết cho đoàn một vở cải lương hài hước. Lúc ở chung với Tám Không tôi cũng có học lóm được vài bảng Kim Tiền, Bình Bán… Bây giờ đem ra xài.
Tôi hỏi thăm đoàn Văn Công của tỉnh vì trong đó có thằng em con dì tôi. Ba Lương bảo:
- Mười Xường xui quá !
- Chuyện gì vậy?
- Y tìm đâu được con mèo mướp.
- Có vụ chạy giàn ngoài nữa à?
- Không! Đây là mèo ăn thịt, không phải “mèo” kia. Y đem lại nhà chị Sáu ở Giồng Chùa rủ tôi làm thịt nhậu. Tôi bảo ăn thịt mèo xui lắm! Y bảo y không tin dị đoan. Hai đứa làm, xào lăn cưa hết nửa cây đế. Đã thiệt! Có chụp cũng không thèm chạy, chiều tối hai đứa chia tay. Hôm sau nghe y đạp đạn cà-nông cải tiến của du kích Phước Long.
- Cà-nông cải tiến là cà-nông gì?
- Là đầu cà-nông lép, tụi du kích đào lên gắn hột nổ mới. Cái đồ khôn nhà dại chợ. Lính lội qua lội lại dẫm nát đất mà không nổ, đến phiên mình thì lại nổ.
- Tôi ớn ba ông nội con nít lắm cha ơi! Chuyện qua rồi không nên nhắc lại làm gì cho thêm rủn chí tơ lòng. Hồi mới qua đây, tôi dắt vợ lơn tơn đâu biết lối nào, chẳng may đá sút chốt một trái, không hiểu sao nó lại câm. Nếu nó“ư” một cái là hốt xương rồi.
- Sao anh biết?
- Tôi vừa đi qua thì mấy ổng tới gỡ đem vô, nói cho tôi biết.
- Trời cứu mà ! Tôi bị cà-nông xén hết một bên tóc, rốc-kết bắn cháy râu mà mình mẩy còn nguyên.
- Bây giờ tính sao cha?
- Tính gì được mà tính. Tụi mình hiện giờ đang ở trong hũ nút. Nó muốn xúc ra làm mắm, kho khô lúc nào thì tùy nó chớ lội đi đâu được?
- Tụi Bình Định trơ đó mà mình không làm gì được à ?
- Làm mẹ gì. Tiểu đoàn của thằng Chín Chu còn có non nửa. Sau Mậu Thân lặn mất tăm.
Ba Lương ngó dáo dác rồi hạ giọng hỏi tôi:
- Ê, mấy cha ở trên R có nghe ngóng ngoài Bắc gần thay đổi chủ trương chưa?
- Chủ trương gì?
Ba Lương ậm ờ một chút rồi gạt ngang:
- Mà thôi, bỏ mẹ nó đi !
Bỗng đâu con đầm già tới, phóng loa chụp xuống đầu tụi tôi. Ba Lương lôi tay tôi núp vô cây mãng cầu ta còi cọc. Biết là không trốn khỏi mà vẫn né cho có lệ. Tôi biết Ba Lương cũng như tôi và bao nhiêu cán bộ khác sốt ruột muốn hòa bình. Đánh gì mà từ thắng tới huề, tới thua. Rồi bây giờ sắp thua trụm mà cũng chưa chịu thôi. Bởi vì cái tâm lý của bọn lãnh tụ là những kẻ hi sinh không phải là con cháu, dòng họ của chúng. Ruột ai nấy xót. Dân Nam Kỳ chết càng nhiều thì càng bớt đi những mũi nhọn chống đối, chúng càng ngồi yên chớ có sao đâu.
- Chịp! Tội nghiệp con Thu Ba.
Tôi nói thầm:
- Nếu nó là con Lê Duẩn, Trường Chinh thì giờ này nó đang ở bên Liên Xô, Đông Đức chớ đâu có nằm dưới đất đen để hưởng vinh quang của đảng.
Tôi hỏi lái qua một chuyện khác:
- Các chả đâu hết rồi?
- Các chả nào?
- Còn các chả nào nữa ông nội?
- Mỗi cha một hang, ai tìm cũng không ra.
- Bây giờ anh đem vùi cái đám Văn Công của anh ở xó nào?
- Hồi trước tôi thấy cái bãi biển này rộng ghê . Từ Cồn Chim ra Cồn Lớn đi một buổi. Bây giờ nháy mắt.
- Ê cha! Tới giờ này mà cha còn giữ mấy cô nường để xe khô hả. Tụi nó chụp một phát là xúc sạch hết, rồi tiếc nghe.
- Xúc thì xúc chớ tôi đâu có dám rớ tới.
- Để mọc mọng hay cống Hồ cho mấy lão FM đầu bạc? Nghe con nhỏ đánh máy về thành nạo rễ rồi hả?
- Ông biết một không biết hai. Không phải một con nhỏ đó thôi đâu. Còn vài ba đứa nữa. Tại mấy ông cán bộ “R” của ông đó.
- Ai R chớ tụi tôi có R đâu mà hô oán!
Tôi và Tư Mô trở thành đoàn viên không chứng nhận của Ba Lương. Cứ hễ sáng sớm thì vác ba lô đi xuống Cồn Lớn “phòng động” vì ở đây có rừng rậm. Nếu bị chụp thì lủi vô rừng. Ở miệt trại Cua thì rừng mắm lá thưa thớt. Hầm hố cái nào cái nấy như hang còng không bảo đảm. Ở ngoài rừng đến xế, nếu tình hình êm thì lại kéo về xóm nấu cơm. Nhà dân thì có hầm nhưng thấy cán bộ xuống nườm nượp thì sợ liên lụy nên cũng đùm túm xuống Cồn Lớn cất chòi trong rừng mà ở. Thấy rõ là họ không muốn cán bộ tới gần. Tôi gặp một gia đình ở trong một cái nhà sàn túm húm. Tôi cố lấy hết sức tuyên truyền cách mạng, nào là giải phóng, nào là Miền Bắc ấm no, nào Liên Xô thiên đàng mặt đất. Ông già ngồi nghe rất chăm chú . Bà già nấu nước mời uống. Sáng hôm sau tôi trở lại định tuyên truyền tiếp, chẳng ngờ ngôi nhà trống hoang. Gia đình dọn đi sạch không còn để lại một món gì. Rõ ràng tình cá nước vô cùng thắm thiết!
Tôi thường đi ghép với tổ âm nhạc của Ba Sơn vì y là người quen từ lâu đồng thời hai đưa cùng có vợ vừa đẻ . Bữa nào cũng mắc võng trong bụi Sơn Tra nói chuyện vợ con, trong lúc Tư Mô thì đi thọc ổ kiến vàng lấy nhộng câu cá lòng tong. Anh có kiên nhẫn ngồi chờ cá cắn câu. Triết lý của anh là giết thì giờ một cách có lợi. Thường thường bữa ăn ngon nhờ anh. Lắm khi với một vài con bù cào mỡ anh bắt được hai con cá rô.
Đi trên đất cũ, tôi tiếc thời kháng chiến chống Pháp. Hồi đó cuộc sống của cán bộ rất phấn khởi, hồn nhiên. Ai cũng sẵn lòng hi sinh cho đại cuộc. Bây giờ có cái đảng này chen vô mệt quá . Nó hoàn toàn độc tài từ Trung Ương xuống tỉnh, từ tỉnh xuống ấp. Mỗi tổ trưởng là một ông trời con, muốn giết ai cứ gán cho tội phản động và lôi ra giết.
—>Chương 22


- 22 -
Một hôm trên đường từ Cồn Lớn về Cồn Chim, tôi đang lủi thủi đi, bỗng nghe tiếng kêu:
- Ê phải mày là thằng Triết không?
Tôi quay lại thấy một ông nông dân vác cuốc trên vai, mặt mày lem luốc, áo quần xốc xếch. Tôi đang ngơ ngác thì ông ta cười hề hề, đến vỗ vai tôi:
- Bốn nè. Bốn học lớp thầy Pho ở Cầu Mống.
Bừng lên trong óc tôi mái trường ngói đỏ au ba gian. Một chiếc trống đặt ở giữa, học trò đua nhau giành giật cái dùi trống để đánh giờ tan học, vào lớp.
- Tôi không nhớ.
Ông ta nhắc tiếp:
- “Bốn… lù” nè!
- À ! Nhớ rồi.
Nhờ cái biệt danh “Bốn lù” mà chúng tôi nghịch ngợm đặt cho hắn. Trời đất. Ba chục năm qua. Kể từ xa mái trường làng tôi không có dịp quay về thăm thầy và không gặp lại thằng bạn nào hết.
- Về nhà tao chơi!
- Sao mày lọt xuống đây?
- Ông già tao chết. Má tao có chồng khác. Tao theo bả xuống đây làm ăn mấy chục năm nay.
- Mày ở Làng Mới với thằng Xuân thằng Thu, thằng Vinh Trần, thằng Hai Địa phải không?
- Đúng rồi. Tao ở Làng Mới! Nhưng bỏ đi lâu rồi.
- Mày còn viết chữ đẹp như xưa nữa không?
- Viết gì mà viết. Tao có đi cán bộ một lúc, nhưng ở trên huyện bảo tao“hụt tiêu chuẩn” nên không cho đi nữa.
- Tiêu chuẩn gì mà hụt?
- Ông già tao là hội tề.
Về đến nhà bạn, tôi hết sức ngạc nhiên. Vợ nó gần như má chiến sĩ. Con một bầy. Thằng lớn nhất đã có ria mép, nói tiếng ồ ề. Bốn hỏi:
- Muốn nhậu gì?
- Gì cũng được.
- Cá khô hay gà vịt. Heo cũng có. Ở đàng xóm có con heo bị lựu đạn gài.
- Làm nhè nhẹ thôi mày ạ !
Nhà Bốn cất trong đụn cát. Nghĩa là nó khoét cát thành hang rồi dựng sườn nhà cột kèo gác trong đó. Nóc và vách đều bằng cát chỉ có cửa là bằng gỗ thôi.
- Ngủ trong nhà tao cà-nông của hạm đội Bảy cũng không làm gì được. Bốn tía con tao làm một tháng mới xong. Chỉ sợ phản lực bỏ bom thôi.
- Ở đây vài bữa ăn đám gả con gái tao.
- Hả?
- Tao sắp gả con gái. Con chị của thằng nhỏ đó.
- Trời đất!
Tư Mô giải thích:
- Tại chú ham vui cứ đi hà rong hà rỗi từ Nam ra Bắc rồi từ Bắc vô Nam, chớ nếu ở nhà thì cũng có thua gì chú Bốn.
Bữa cỗ chiều nay thật là linh đình. Thứ gì ngon nó cũng dọn lên hết.
- Ăn mừng ba mươi năm gặp lại nhau.
- Mày có gặp thầy cũ nào của mình không?
- Có nghe chuyện như không gặp.
- Thầy nào?
- Thầy Pho. Ổng bị Việt Minh bắn hụt rồi ông bỏ nhà lên Bến Tre luôn. Từ đó tới giờ không biết thầy ở đâu nữa. Thầy Ba thì chết rồi. Thầy Thượng nghe hình như cũng chết. Ổng uống rượu li bì. . . Con thầy Ba có chồng hồi mười bảy tuổi. Mày nhớ nó không? Huỳnh Thị Kim Anh có cặp mắt mơ huyền! Mấy chục năm rồi mày không có đi chợ Cầu Mống?
- Ít nhất là ba chục năm. Kể từ ngày bộ đội anh Hai Phải hạ đồn Cầu Mống, Tây tái chiếm tao đi luôn tới bây giờ.
- Mày đi kháng chiến hồi nào?
- Đi luôn từ 45.
- Dữ vậy? Tao cũng có hụ hợ hết vài năm. Rồi bỏ về nhà. Đồng Khởi lên, tao cũng dựa hầu mé vài năm rồi bị chê thành phần không cơ bản. Về nhà trồng dưa hấu.
- Ở đây dưa dễ trồng không?
- Muốn trồng thì trồng chớ dễ khó gì. Mà mày đâu có thì giờ như tao.
- Ờ. Con Lự bây giờ ở đâu?
- Nó chết rồi!
- Con nhỏ ngộ ghê.
- Hồi đó cứ hễ trời mưa thì tụi mình làm xe lửa chạy, cứ nhắm tụi con gái mà đâm vào. Tụi nó thưa thầy bị phạt mà cũng không thất kinh.
- Con Lự ở Làng Mới phải không?
- Nó ở gần nhà tao. Tao muốn ve mà không biết làm sao.
- Muốn người ta người ta hổng muốn… Xách …
-…. cặp dừa đi xuống đi lên, hà hà…
- Trời! Con nhỏ trắng như bông bưởi tóc dài chấm mông đoan trang hết sức.
- Toàn mặc đồ trắng đi học.
- Con Phượng cũng ngộ chớ mậy.
- Ngộ nhưng tao không muốn. Hồi nào tới giờ tao chưa thấy đứa nào ngộ bằng con Lự. Ê còn thằng Thổ Bền, thằng Vĩnh Phạm, Vĩnh Bùi đâu mậy?
- Vĩnh Phạm đi đâu biệt tích. Anh nó là anh Trung làm cứu thương chết trong trận Cầu Mống. Vĩnh Bùi là chú tao. Ổng có vợ có con cũng cỡ đám con mày. Còn thằng Thổ Bền cùng ấp với tao nhưng không gặp. Chắc cũng vợ con đùm đề rồi.
- Còn mày?
- Con tao mới sáu tháng.
- Trời đất? Chừng nào mới làm suôi được?
- Chừng ăn trầu ngoái.
Bỗng nghe rung rinh mặt đất. Bốn ngưng đũa nói:
- Hạm đội Bảy tụng buổi chiều.
- Ở đây bị thường không?
- Một ngày ba trận, sáng, trưa, chiều.
- Trận nào nặng nhất.
- Tùy hỉ. Bữa nào thiếu rượu nó quạo thì nó bắn nhiều. Bữa nào có nhiều rượu, bận đưa cay thì nó bắn ít. Thứ lính Mỹ mới tập bắn, nó bắn mình không biết đường đỡ.
- Đỡ cách nào?
- Lấy thúng ra hứng chớ còn cách nào! Nó chạy lên gần ngang đây rồi đó. Nhưng cứ yên trí làm hết chai này. Nó ria đều mỗi nơi vài quả. Vì nó chạy chớ không phải đứng tại chỗ. Hầm này “chầu đôi” kìa mới sợ.
- Chầu đôi là sao?
- Là hai trái rớt một lỗ. Trái trước dùi một thước rưỡi, trái sau tiếp theo… cũng chưa thủng vì nóc “nhà” tao dày bốn mét cát cứng chớ không phải cát xốp.
Tôi hỏi sang cái xác tàu nằm ngoài bãi. Bốn thuật lại rất chi tiết. Vì chuyện này ai cũng biết hết rồi, không còn giấu giếm được nữa.
- Tụi nó theo dõi đâu từ ngoài Miền Trung lận. Cho nên tàu vừa cặp vô đây là ba chiếc phản lực tới bỏ bom liền. Bom rơi xuống biển nước tung lên cả chục lần. Sau cùng mới thấy khói đen lên. Rồi tiếp theo là tiếng nổ liên hồi. Tao núp ở miệng hầm ngoài bãi nên trông thấy rõ.
- Mày đi đâu ngoài đó, bộ không sợ à?
- Tao đang làm rẫy dưa, nghe phản lực tới thì chui hầm. Mọi lần thì nó bỏ bom trong xóm, còn lần này nó bỏ ngoài biển. Khi tàn cuộc thì trực thăng tới, tiếp tục bắn. Chập sau thì thấy lửa lên. Tao biết là tàu bí mật của mình.
- Sao giỏi vậy?
- Vì mấy lần trước thoát hết. Đạn dược đem vô bờ rồi tản khai ra. Kỳ này nó bỏ bom tàu xong thì bỏ bom luôn rừng Trảng Cát. Hồi đầu kháng chiến Binh Công Xưởng của mình đặt ở đó. Tụi Nhựt thua chạy ra tàu cũng nhủi trốn trong rừng đó. Bây giờ mình cũng đặt căn cứ ở đó, làm sao bí mật được? Nó không chơi bằng phản lực đâu. Nó xài B52 mày ạ. Bây giờ còn đạn mà không ai dám vô mò lấy. Tụi Mỹ này ghê gớm lắm. Không có cái giống gì lọt mắt nó đâu. Ban đêm mày thấy máy bay thám thính chụp hình rầm rầm, liên tục, mấy đêm liền không?
- Ở như vầy mần ăn sao được. Mày định dời đi đâu?
- Mắc gốc mắc rễ ở đây rồi, dời đi đâu mà dời? Ngày nào cũng lãnh vài trăm phát cà-nông hạm đội Bảy. Vài bữa trực thăng rượt dân cào nghêu một bữa. Ít có ngày nào yên ổn. Người ta coi cái chết như cơm bữa. Riết rồi cũng quen đi. Không quen cũng không được.
Tôi hỏi:
- Làm sao tàu vô trong cạn được vậy?
Bốn đáp:
- Không phải đâu. Hai năm trước, khi bị bắn, nó ở ngoài khơi, nhưng bây giờ bãi bồi ra xa nên coi như nó bị mắc cạn vậy. Vài năm nữa thì cát sẽ lấp lên đến nửa thân nó.
- Còn người trên tàu đâu?
- Có người đồn là trực thăng có xúc được một vài người. Nhưng không ai rõ. Chỉ thấy mấy cái xác cháy thui tấp vô bờ.
- Không có giấy tờ gì à?
- Thân mình đầu cổ còn không nguyên vẹn, giấy tờ nào còn được?
Về sau khi gặp Dương Đình Lôi ở Củ Chi tôi mới biết rằng thủy thủ đoàn gồm những người cảm tử. Giữa tàu có đặt một tấn thuốc nổ TNT, hễ đụng trận giữa biển liệu bề không thoát thì cho nổ. Trường hợp ở bãi biển này có lẽ bị tấn công bất ngờ nên họ không trở tay kịp hoặc họ không muốn hi sinh. Không biết lẽ nào.
Sống trong cái “rọ” này tôi mới thấy Trường Sơn là dễ thở. Mặc dù sốt rét, thiếu ăn, đôi lúc bị biệt kích, nhưng cái chết không sát sườn như ở đây. Ở đây lúc nào cũng có thể lăn đùng ra chết. Cả nhà đang ăn cơm, một trái đạn từ hạm đội Bảy bắn vào rơi ngay giữa mâm. Một đám người đang cào nghêu, trực thăng đến. Ít nhất vài người bị thương. Ngày nào cũng có dân ngoéo cua bị lựu đạn gài nổ v.v…
Có một nhân vật thiệt ngộ nghĩnh, đó là ông Tư Chảo. Ông Tư có lò nấu muối gồm ba cái chảo đụng to. Một lần trực thăng bắn rát quá. Sãn cái chảo, ông chui tọt vào úp lại. Khi trực thăng đi, cả nhà không biết ông ở đâu, chỉ nghe bên trong tiếng la văng vẳng. Vợ con giở chiếc chảo lên. Ông ngộp suýt chết. Hàng xóm hỏi sao lúc nãy một mình mà giở chiếc chảo nổi, bây giờ lại không giở nổi. ông cười:
- Lúc nó bắn, cái núi tôi giở cũng nổi nữa là cái chảo.
Từ đó ông có biệt danh là Tư Chảo. Tôi và Tư Mô thỉnh thoảng cũng tắp lại nhà ông Tư Chảo xin một bữa cơm. Riêng tôi định bụng khi viết truyện sẽ đưa nhân vật này vào. Chỉ một nét “Chảo” cũng đủ làm nên nhân vật. Độc giả chỉ xem qua là không thể nào quên được.
Thế cùng tắc biến. Đeo mãi đoàn Văn Công của Ba Lương rồi cũng chán, tôi và Tư Mô tìm chỗ khác để bám vào. Tôi thấy trung đội địa phương của huyện Thạnh Phú bèn bàn với Tư Mô tìm cách làm quen. Hồi kháng chiến tôi đã từng đi với nhiều trung đội địa phương của các huyện Châu Thành, Phụng Hiệp, Ô Môn để làm công tác văn nghệ và săn đề tài. Trong tình thế hiện nay, việc dạy hát, dạy viết bích báo không còn thực hành được nữa thì tôi trổ tài nói chuyện văn nghệ. Tôi kể truyện Tàu, truyện Tây và phân tích cho lính nghe . Lính thích lắm. Do đó họ cho chúng tôi ăn cơm “siếu mẫu”. Chỉ được một tuần lễ thì họ rời địa điểm đi xa, chúng tôi không thể nào lê gót theo được. Tình trạng thân sơ thất sở này kéo dài cả tháng chớ không ít.
Một buổi sáng tôi và Tư Mô đang chuẩn bị đi “phòng động” thì “động” tới. Nếu trước đây chợ An Định được coi như một “đống chà” để nhử cá thì bây giờ phần đất này của Thạnh Phong chính là một đống chà vĩ đại hơn nhiều vì nó gồm đủ loại cá có thể có cả “cá tra, cá mập” nữa.
Sự việc bị chụp đã được dự đoán từ lâu thì nay xảy đến. Quân Sài Gòn đổ một phát ba mặt. Từ trong rừng đánh ra, từ cửa Hàm Luông ruồng tới và từ cửa Cổ Chiên ốp lại. Giao điểm sẽ là chợ Cồn Chim. Chỉ còn một cửa sống là biển. Chiến cuộc này còn nguy hiểm hơn Huê Dung Đạo cho Tào Tháo khi xưa nhiều.
Chúng tôi đeo dính đoàn Văn Công của Ba Lương. Bị đuổi nột, đoàn ra tới mé biển thấy có một bãi lầy cách bờ biển một cái “khém” chừng hai trăm thước. Ba Lương quyết định đưa cả đám nam nữ chém vè bên đó. Tôi và Tư Mô bàn với nhau không đi theo vì cái khém đang cạn lòi bùn, lội lầy cũng mất mười lăm phút còn phần nước sâu bơi cũng mất mười lăm phút. Nhìn đám nam thanh nữ tú vượt chết chúng tôi quyết định ở lại. Ai chỉ huy cuộc hành quân này cũng phải rõ địa hình và đoán được những kẻ cùng đường phải tìm nơi chém vè ở cái “cồn lầy” bé tí tẹo này. Nhất định trực thăng sẽ bắn nát như tương sau đó sẽ nhảy giò xách tóc từng mạng một.
Tôi và Tư Mô lùi trở lại lủi bạt mạng vào bụi rậm. Quả nhiên cánh quân đánh từ rừng đi thẳng một mạch ra mé biển, chờ hai cánh kia đánh tới. Chúng tôi như hai cọng lát lọt kẽ răng bừa và sống sót. Đoàn Văn Công bị xúc gần hết.
Cuộc hành quân chớp nhoáng và kết thúc vào lúc trưa. Sau đó chúng tôi chạy ngược lên phía Rạch Vẹt, nơi đây có nhiều rừng lá dễ trốn lánh hơn. Cuộc sống của hai gã cán bộ R thiệt gian nan, sự đói khát đã đành nhưng điều đó không đáng sợ bằng sự lạnh nhạt của người dân. Không ai muốn cho mình vào ở đậu, không ai muốn cho mình nấu nhờ cơm. Mà chúng tôi không có một người quen nào để bám víu ngoài Ba Thơ và Tư Cua. Không biết giờ này hai cụ ở đâu?
Chúng tôi vào đại một ngôi nhà quen ở giữa Rạch Vẹt. Nơi đây có một cái bến đò máy đi Thạnh Phú. Ở bến này có một cái quán con. Sau cuộc ruồng chủ quán cũng rục rịch đóng cửa, đi chỗ khác làm ăn. Chúng tôi vào mua khô và gạo rồi sang ngôi nhà hoang nấu ăn. Ánh lửa hoang vu hiu hắt lạ lùng. Chẳng lẽ khóc?
Tư Mô trở lại mua trà. Khi về nhà anh nói:
- Ông chủ quán nói có hai người đàn bà ẵm con nhỏ đi tìm chồng, nhưng nghe chụp dù thì lật đật xuống đò về liền.
- Rồi sao?
- Tôi nghi là thím Hai lắm!
- Tại sao?
- Không hiểu sao. Có lúc linh tính. Hồi kháng chiến, tôi cũng gặp một ông chủ quán mách cho tôi một trường hợp như vậy. Chẳng dè là vợ con của tôi! Đâu chú sang hỏi thêm coi!
Tôi bỗng nghe tim rung động. Tôi bỏ nồi cơm cho anhTư, vọt qua quán, hỏi ông chủ quán:
- Người đàn bà đi rồi hả bác?
Bác chủ quán vừa ngó tôi và nói ngay.
- Vợ con của chú chớ ai.
- Sao bác dám chắc vậy?
- Tôi thấy đứa nhỏ giống chú lắm.
- Nó chừng mấy tuổi hả bác?
- Chừng năm, sáu tháng thôi. Còn một người đàn bà cũng rất giống chú.
- Hai người lận à?
- Hai người đàn bà.
Tôi cũng cả quyết.
- Vậy là vợ và em gái tôi ?!Họ đến đây bao lâu hả bác?
- Họ đến chuyến đò chiều, ở lại một đêm trong cái nhà hoang đó. Sáng nghe tin chụp dù, họ liền xuống đò đi lên Thạnh Phú. Thấy họ hỏi thăm mấy người cán bộ tới mua đồ, tôi biết đó là vợ cán bộ. Họ nói đã đi tìm chồng hai ba nơi rồi mà không gặp thì họ đoán là chồng họ xuống đây.
- Đúng là vợ con cháu! Chậc! Nếu cháu lên đây hôm qua thì gặp rồi.
Tôi đau đớn vô cùng, trở về nhà nằm vật ra võng không buồn cơm nước. Tư Mô khuyên dứt hồi lâu tôi mới ráng nuốt một chén. Tôi cứ trách mình:
- Phải hôm qua tôi với anh lên đây thì hay quá !
- Không vợ không con thì ít lo ít khổ. Có vợ có con rồi vừa lo vừa khổ chú ơi! Nhất là khi có đứa con đầu lòng, mình muốn gặp mặt coi nó có đủ tay đủ chân không. Nó có giống mình không?
Tôi nói bâng quơ.
- Tôi được đứa con gái đầu lòng…
- Chú có ai quen không, nhờ người ta đi Thạnh Phú. Chắc bây giờ thím còn ở đó chớ chưa về Cầu Mống đâu.
Tôi chạy sang quán. Ông già lắc đầu:
- Tình hình này không có ai chịu đi đâu chú em. Lính chặn đò, không cho đi thông thương như trước.
- Vài hôm nữa tôi sẽ mượn người về tận nhà rước vợ con tôi.
- Tôi nghe ta đồn quân Bình Định sắp xuống đây.
Nghe tới hai tiếng “Bình Đinh” hồn vía tôi lên mây. Chúng đóng đồn Thạnh Phong Cầu Ván thì hết đường lên xuống rồi. Ông già lại tiếp:
- Tôi nghe có một anh du kích chiêu hồi đấy.
- Du kích ở đâu, bác?
- Ở Bần Mít hay Cồn Chim gì đó. Tên là Côn, Cổn gì không rõ. Đây rồi tình hình sẽ găng hơn chớ không phải chỉ vầy thôi đâu. Chú không gặp vợ con chú lâu chưa?
- Dạ cũng hơi lâu.
- Thằng con tôi nó đi ngoài Bắc bỏ vợ mười mấy năm. Còn thằng đi R bốn năm năm nay không thư từ gì ráo.
- Anh đi ngoài Bắc tên gì, ở đơn vị nào bác?
- Có biết đơn vị nào, hồi Hòa Bình, ở trên kêu đi thì nó đi. Đi rồi thì coi như gà nòi buông đuôi ăn trót.
- Ảnh tập kết bến nào bác?
- Đâu ở trong khu 9.
- Nói vậy chắc ảnh ở Tiểu Đoàn 307 hoặc 308 chớ gì. Ảnh đi bến Chắc Băng.
Thấy tôi rành chuyện, ông già mời tôi ngồi và hỏi thêm:
- Sao chú em biết rõ vậy?
- Dạ dân Bến Tre mình hễ đi bộ đội thì chắc là vô hai Tiểu Đoàn đó thôi. Vì hai Tiểu Đoàn đó thành lập ở tỉnh mình. Hầu hết lính và cán bộ đều là dân tỉnh mình. Cháu biết ông Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 308 là người làng Hưng Khánh Trung.
Câu chuyện bất ngờ đưa tôi lọt vào cái hố đau thương của dân Nam Bộ mù quáng: “Tập kết”. Tập kết là thắng lợi của riêng Trung Ương Đảng chứ không phải của dân Việt Nam càng không phải của dân Nam Bộ. Ngược lại, đối với dân Nam Bộ là một sự phũ phàng, một sự tàn bạo, một sự lừa gạt ngọt ngào.
Tiểu Đoàn Trưởng Lê Thanh Nhàn, tức Nhàn Râu là một anh hùng dân tộc. Anh là con trai độc nhất của một ông Hội Đồng, anh có bằng Tú Tài, biết làm thơ và vẽ tranh. Đầu kháng chiến anh đứng ra chiêu tập dân làng và tiến tới thành lập bộ đội võ trang, sau này trở thành Tiểu Đoàn chủ lực 308. Giặc Pháp phải nể uy danh. Tám năm xông pha trên trăm trận, Nhàn Râu ra Bắc được gì? – Tù ! !
Trong cải cách ruộng đất, thành phần địa chủ bị đấu tố. Nhàn Râu chống đối lên tới Bộ Tổng Tư Lệnh. Anh bị qui cho cái tội là “phản ứng giai cấp” tức là địa chủ chống lại bần cố nông, cái tội làm cho bất cứ ai, dù thành tích cách mạng to đến đâu cũng phải tàn đời. Nhàn Râu ở tù mút mùa cho đến sau 75 mới được về xứ với cái quần tiều dính da. Đó là bài học cho những ai không thuộc thành phần cơ bản, trừ những tên đầu sỏ Trung Ương, đi theo cách mạng.
Riêng những đơn vị Nam Bộ ra Bắc thì mất phiên hiệu, một số làm lính giữ ngựa cho triều đình nhà Hồ, số còn lại thì đi phá rừng Lam Sơn, rừng Xuân Mai. Trong số này có không ít những người bất mãn bỏ ra dân làm những nghề vô danh hoặc lên rừng cạo đầu làm Mán, Mường.. . kể không xiết nỗi đau buồn. Đến khi cần thì Đảng Bác gọi lại, đem đút vô lò sát sinh Trường Sơn. Ai biết được đứa con trai của ông chủ quán bị xếp vào hạng nào, còn sống hay bỏ xác ở đâu? Ông chủ quán biết tôi là cán Mùa Thu nên càng hỏi phăng tới. Thì tôi cũng múa mép như bao nhiêu lần trước, nghĩa là tôi đã bị bịp, nhưng không dám nói ra, ngược lại, bịp đồng bào. Tội nghiệp, ông già phấn khởi cầm chừng có nghĩa là không tin lắm. Có lẽ nhiều người hồi hương đã kể cho ông nghe sự thực về cái Miền Bắc xã hội chủ nghĩa như họ đã sống.
Đảng Cộng Sản sinh ra để làm hai việc: nói láo và làm bậy. Hễ chúng nói là nói láo, hễ làm là làm bậy. Xin độc giả nhớ dùm cho như vậy. Sông có thể cạn, núi cố thể mòn nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi.
Tôi mua thêm vài ba món định ra về thì có khách đi đuôi tôm tới: một bác nông dân sồn sồn. Vừa chạm mặt tôi, bác khựng lại. Tôi cũng nhìn bác. Bác hỏi tôi:
- Chú ở đâu, tôi trông quen quá !
- Dạ cháu cũng…
- Tôi là người làng Minh Đức, ở gần chợ Tân Hương.
- Dạ đó là quê ngoại cháu. Nhà ngoại cháu cũng ở gần chợ.
Bác bước lại vỗ vai tôi:
-Tôi nhớ ra rồi. Cháu là cháu ngoạí bà Sáu phải không?
- Dạ, ông Bảy Hưng và Tám Hà là cậu của cháu.
Hai bên tự khai lý lịch và mừng rỡ xiết bao: Tha hương ngộ cố tri ! Bác nông dân đó là cậu Tám Xi ở giáp ranh đất ngoại tôi. Đúng ra cậu có bà con xa xa với ngoại. Cậu có nhiều anh em trai đi làm ăn tứ tán Sài Gòn, Vũng Tàu.. Thỉnh thoảng đến ngày giỗ ông bà thì mới tụ họp lại. Về lần nào các cậu cũng đem những quà lạ về cúng kiến ông bà và tặng cho gia đình ngoại tôi như rượu Tây và thuốc lá Camel có hình con lạc đà.
Cậu hỏi sơ qua rồi bảo tôi và Tư Mô xuống xuồng chạy về nhà. Nhà cậu rất đồ sộ, chưa có dấu vết bom đạn. Hơn nữa, trong nhà có tới hai ba cái radio, cái để trên ván gõ, cái treo trên cột. Cuộc hạnh ngộ nhìn bà con thật bất ngờ và chớp nhoáng. Cậu Tám hỏi.
- Cháu và anh bạn cháu ăn cơm chiều chưa?
- Dạ mới nấu, chưa kịp ăn.
- Để cậu bảo sấp nhỏ nấu cho cậu cháu mình và anh bạn nhậu một bữa. Có ăn được thịt rùa thịt rắn không?
- Dạ, ếch, nhái, tèng heng, kỳ đà kỳ nhông gì cháu cũng quất tuốt.
- Vậy để xé phay vài con rùa nhậu chơi ! Xong rồi ăn cơm với cá mòi kho lót mía tây. Sáng mai nhậu lươn với rắn. Mấy thứ đó làm hơi mất công!
Nói vậy rồi cậu mở tủ lấy ra chai rượu lạ, bảo:
- Đây là rượu Mỹ rượu miếc gì đó, cậu không mấy khi nếm thử, nay cháu và anh bạn tới, đâu nếm dùm cậu coi. Cậu mới đi Sài Gòn về. Sắp nhỏ ở trển cho mấy chai với một thùng thịt hộp.
Thiệt là ngồi buồn lại gặp chiếu manh. Ăn uống xong, Tư Mô mắc võng mở đài VOA và BBC trong lúc hai cậu cháu hàn huyên. Cậu bảo:
- Tình hình này khó lăm ăn mà cũng không dễ gì sống. Chắc cậu phải đi Sài Gòn. Lên đó làm bậy bạ việc gì cũng được. Nghe mấy đứa nhỏ nói trên đó đi thầu đổ rác cũng làm giàu. Cháu cũng biết hồi cách mạng nổ ra tới bây giờ các cậu đều bỏ xứ đi làm ăn sinh sống chớ đâu có ai ở nhà. Làng Minh Đức bây giờ cậu cũng không muốn về nữa. Năm kia cậu có về một lần. Xã giải phóng cũng như ở đây, nhưng bà con thì xơ xác quá. Con Nguyệt có chồng làm tổ trưởng đảng. Cậu có nghe dì Sáu (ngoại tôi) mét là nó lấn ranh đất của dì. Cậu buồn lòng lắm. Chuyện bà con xóm riềng không nên làm như vậy, nhưng cậu không dám nói. Nói biết nó có nghe không? Nó nghe thì tốt, còn nó không nghe thì mình mắc cỡ với vợ nó. Thứ cậu vợ ăn nhằm gì. Lại nữa nó là tổ trưởng đảng. Tổ trưởng đảng là ông trời con. Ở đây cũng vậy !
Cậu lấy thuốc thơm, nestcafé ra mời chúng tôi và bảo:
- Ba cái thứ xa xí phẩm này là của thằng Nhuần cho đây. Thằng Nhuần anh con Nguyệt.
Tôi lơ mơ chưa nhớ ra thì cậu tiếp:
- Thằng Nhuần con ông Nhì Nhé. Ổng thương cháu lắm đó. Hồi cháu còn nhỏ, mỗi lần cháu từ Cầu Mống ra, ổng gặp là ổng vác trên vai đem về nhà cho chơi với thằng Nhuần. Khi lớn lên hai đứa đi câu cá bống dừa bỏ chung một gáo, khi đem về chia hai đó, nhớ chưa.
- Dạ, nhớ rồi…
- Bây giờ nó có nhà hàng ở Sàigòn. Tại bến xe chở rau cải Đà Lạt.Nó định mua một cái lớn hơn.
Chuyện tới khuya, câu mới bảo:
- Tình hình này cháu đừng có đi lang bang không ổn.
Tôi làm bộ vững vàng:
- Dại cháu có cơ sở chớ cậu!
- Ai đó?
- Dạ, Tư Cua!
- Ờ, được nhưng “Cua” bây giờ gãy càng rồi. Vì những chuyến hàng của y bị lính chặn không lên vựa Bến Tre được. Quán của y cũng không còn hàng.
- Dạ cháu còn Ba Thơ.
- Tay đó hả? Vài bữa y đến đây chơi một lần. Y lách kỹ lắm. Không ai biết y ở đâu. Thấy đó rồi biến ngay đó. Cháu đi đâu xa thì cậu không có ý kiến, nhưng nếu còn ở luẩn quẩn vùng Thạnh Phong này thì cứ ở đây. Nhà này khách đến thường lắm, sợ e đụng mặt lộ bí mật. Cậu có cái chòi ngoài bờ. Hai người ra đó ở. Hằng ngày cậu bảo trẻ nhỏ đem cơm nước ra cho, hoặc cháu muốn thì cậu đưa gạo muối nước mắm ra đó nấu nướng tự do. Nói là chòi nhưng đó là một cái nhà nhỏ đủ tiện nghi, hai người ở thì rộng.
Bên cạnh nhà lại có con rạch, nếu cháu còn nhớ câu cá bống dừa thì không lo ăn cực. Có thể làm vòng bằng râu đủng đỉnh giật cá bống kèo kho ăn không hết.
Tư Mô ngồi bật dậy lên tiếng ngay:
- Vậy thì anh khỏi lo tiếp tế đồ ăn cho tụi tôi anh Tám.
Tôi tiếp:
- Ảnh là thợ câu cá lòng tong đó cậu à!
- Ở đây không ai ăn cá lòng tong. Tệ lắm cũng cá kèo trở lên.
- Cá kèo kho gột, ăn cơm quên thôi.
- Cá kèo phơi khô nhậu mới đã!
Cậu đứng dậy với tay lên đầu tủ lấy mấy hộp thịt để trên bàn.
- Bữa nào không câu thì có thứ này thay thế.
Trò chuyện với cậu đến khuya, tôi mới bắt sang vụ vợ con của tôi. Cậu nói ngay:
- Tưởng ở đâu xa chớ Cầu Mống thì đi và về chỉ một ngày. Cậu sẽ cho sắp nhỏ đi móc. Hừng đông đi thì chiều tối về tới chớ lâu lắc gì.
Tư Mô bèn thừa thắng xông lên:
- Anh cho sắp nhỏ đi móc dùm vợ con tôi với, được không anh Tám?
- Ở đâu?
- Dạ ở quận Châu Thành xã Lương Hoà. Sau Mậu Thân tôi không biết gia đình tôi có thiệt hại gì không. Tin sơ sơ thì một đứa con trai chết cháy, một đứa bị thương không biết lành chưa.
- Hai cháu đi lính quốc gia hay đi đằng mình?
- Dạ một đứa chín tuổi còn một đứa đang học Tú Tài chớ đâu có đi đằng nào.
- Ghi rõ địa chỉ rồi tôi sai sắp nhỏ đi dùm cho! Không có tiền bạc gì hết. Sẵn đó tôi biểu nó mua vài thứ về nhậu chơi.
—>Chương 23


- 23 -
Nhưng than ôi, người muốn còn trời cho. Kế hoạch đã sẵn nhưng tình hình không yên. Chúng tôi ra chòi năm kể cũng khỏe thân lắm. Ngôi nhà cất dưới những tàng cây sum suê máy bay không thể nào trông thấy được. Nhưng chẳng khác gì nếm mật nằm gai. Vì hằng ngày trực thăng bay rần rần không lúc nào yên. Rõ ràng là chúng mở đường cho quân Bình Định tới.
Thạnh Phong càng ngày càng hiện ra là cái “rọ” mà các loại cá một khi đã lọt qua chiếc hom thì không có cách nào chui ra được. Một bữa chúng tôi đang ăn cơm thì cậu Tám ra bảo:
- Có người tìm !
- Ai vậy cậu?
- Không biết!
- Sao họ biết cháu ở đây?
- Cũng không biết!
- Đâu cậu chịu khó vô hỏi đùm họ là ai vậy?
Cậu đi vào một lát rồi trở ra đưa cho tôi một bức thư nhầu nát, trên bì thư có dòng chữ: “Gởi Xuân Vũ” bên cạnh còn một dòng khác với chữ ký Năm Cảnh.
Tôi nói với Tư Mô:
- Thơ của Năm Cảnh anh ạ.
Năm Cảnh là Chánh Văn Phòng của Khu Ủy Khu IV tức khu Sài Gòn Chợ Lớn do Trần Bạch Đằng làm bí thư. Trần Bạch Đằng là người rất quan tâm đến đám văn nghệ sĩ R. Anh gặp mặt thằng nào, bất kỳ ở đâu thì việc đầu tiên là móc túi cho tiền cái đã rồi sau đó mới hỏi gì hỏi.
Tôi và Tư Mô đã từng gặp Năm Cảnh ở Tân Hào. Chúng tôi thật không ngờ rằng Văn Phòng của Quân Khu IV lại bị đánh văng xuống tới đây. Tuy tróc gốc tróc rễ nhưng vẫn chỉ đạo công tác ở Sài Gòn bằng nhiều đường dây giao liên hợp pháp. Năm Cảnh cho biết anh Tư Ánh tức Trần Bạch Đằng cho đi tìm chúng tôi để đưa về R gấp. Cũng giống như Tư Ánh, Năm Cảnh thường cho tiền chúng tôi. Nhờ vậy mà hai đứa khỏi đi làm mướn dài ngày.
Khi gặp tôi và Tư Mô đi gánh lúa mướn ở Tân Hào một cách bất ngờ thì anh la lên:
- Bộ mấy thằng Tỉnh Ủy này đui hết rồi sao mà chúng nó để các cha đi làm như vậy?
Tư Mô nói:
- Không phải tại Tỉnh Ủy đâu anh à. Đó là do trên R kêu về, mà chúng tôi không về được nên họ cắt sinh hoạt phí của chúng tôi.
Năm Cảnh nói:
- Đường đi bây giờ, một bước là chết trước mắt làm sao mà đi?
Năm Cảnh là dân ở Cồn Ốc thuộc xã Thạnh Phú Đông, là em trai chị Nương, bạn học của tôi, thuộc tuổi đàn em của Tư Mô, kêu Tư Mô bằng chú. Do trách nhiệm đối với chúng tôi, mà co tình cảm riêng cũng có, nên Năm Cảnh cho người đi tìm chúng tôi và gặp ở Tân Hào.
Đó là một tình cảm rất quí báu đối với chúng tôi. Giữa lúc cán bộ lấm lét trốn chui trốn nhủi không ai còn muốn nhìn mặt ai, còn chúng tôi thì bị cắt sinh hoạt phí mà Năm Cảnh cho đi tìm để đùm bọc thì thiệt vô cùng cảm kích đối với chúng tôi lúc bấy giờ. Nếu không có Năm Cảnh thì Xuân Vũ và Tư Mô không còn sống đến ngày nay. Dù bây giờ mỗi người một ngã nhưng tôi vẫn còn mang cái ơn đó đối với Năm Cảnh. Tư Mô nói:
- Nói vậy thì các chả cũng lọt xuống đây rồi. Mình phải cấp tốc “đeo vè”mới được.
Tôi quay lại định hỏi cậu Tám xem người đem thơ còn ỡ đó không thì cậu Tám đã vào nhà. Tôi theo vào nhà thì anh ta đã biến mất. Cậu Tám nói:
- Thằng đó tên là Hai Dân giao liên xã này, cậu biết.
- Ảnh có dặn gì không cậu?
- Nó bảo cháu ở đây, khi cần ở trên tới rước.
- Cậu biết chỗ ở của Hai Dân không cậu?
- Cứ vài hôm nó ghé đây một lần. Nó không chịu ai tìm đến chỗ của nó đâu.
Tôi yên trí và trở ra chòi khui thơ xem. Trong bao có hai lá. Một của Trần Bạch Đằng một của Năm Cảnh.
Lá thư của Trần Bạch Đằng dài bốn trang pelure chữ viết tay. Vẫn cái tuồng chữ loạn ngoằn xoắn tít thời kháng chiến mà tôi thường đọc khi tôi làm ủy Viên Thiếu Nhi Cứu Quốc tỉnh Bến Tre còn anh thì làm Xứ Đoàn Phó Thanh Niên Cứu Quốc Nam Bộ.
Đại khái anh hỏi thăm sức khóe hai đứa tôi, thuật lại việc Tết vừa rồi, trước Mậu Thân, có ra Hà Nội và được Tố Hữu mời ăn cơm tối. Sau đó anh bảo chúng tôi thu xếp về R ngay.
Lá thư thứ hai của Năm Cảnh nói ba điều bốn chuyện và dặn hãy ở đây, sẽ cho người đến rước. Ngoài ra còn sáu tờ giấy bạc tổng cộng ba ngàn đồng, mỗi đứa được ngàn rưởi bó đầu gối chạy chụp dù đỡ mệt lắm.
Vậy kể như ổn rồi. Nằm ở cái Ngọa Long Cung này chờ thời như Khổng Minh. Một đêm nằm trên giường tôi nghe tiếng xuồng bơi nhè nhẹ dưới rạch. Tôi bấm anh Tư. Anh bấm lại tôi. Bấm qua bấm lại rồi hai đứa cùng im.
Sáng ra hay tin một ổ cán bộ xã huyện bị biệt kích đột nhập bắn chết một số, bắt sống một số, cách đây không xa. Tôi và Tư Mô nhìn nhau mặt mày xanh lét. Nếu chúng “làm siêng” ghé lại nhà mình hồi hôm thì sao?
Tư Mô nói:
- Chú có nghe tụi nó bàn với nhau không?
-Có chứ! Một thằng bảo “có”. Một thằng nói “không” nên chúng nó đi thẳng đó chớ !
- Do đó tôi bấm chú .
- Tôi hiểu rằng anh bảo: Nếu chúng lên thì đừng chống cự chớ gì?
- Đúng ?
- Tôi nhớ lúc xuống xuồng ở Thạnh Phú Đông, anh cũng dặn: Không chống cự, nếu đụng ho-bo.
- Tôi nghe chú bấm lại tôi cũng hiểu là chú đồng ý nên yên tâm nằm mím. Chứ chạy là chết. Thường thường chúng đi được sông thì cũng đi trên bờ, cặp đôi như vậy, hễ mình bị động ổ chạy loạn là dính.
Sau vụ chết hụt của chúng tôi, cậu Tám khuyên chúng tôi nên dời chỗ. Chưa biết dời đi đâu, nhưng phải dời: Vì ở đây không chắc sống nữa.
Cậu tìm cho chúng tôi một cái chòi khác ở giữa đồng, không có bụi rậm chung quanh: Đó là chòi của những người chăn vịt bỏ đi. Vào đến nơi thấy có những ống trùm đặt lươn thì biết là nơi cư trú của những người sống bằng nghề bắt lươn rắn. Chúng tôi thương lượng và được họ cho dung thân tạm một thời gian. Chợ Cồn Chim bây giờ đã trở thành một cái chốt lớn. Bần Mít, Cồn Lớn là những cái chốt nhỏ . Từ những cái chốt đó, đêm ngày lính tỏa ra đi xục xạo, tối cụm lại. Cứ như thế, cán bộ không còn chỗ trốn nên phải chạy dồn lên miệt Rạch Vẹt nhưng ở đây cũng không ổn. Tất cả cán bộ như chuột mất hang chạy lùng tung, tấp vô chỗ này ở vài buổi, chỗ kia vài ngày. Vùng đất cát khả dĩ đào hầm bí mật được thì đã bị chốt, còn những nơi khác thì sình lầy có thể dùng để chém vè tạm bợ một vài giờ đồng hồ thôi. Vì nước mặn không thể ngâm mình lâu được. Tôi và Tư Mô ở trong cái chòi vịt kể trên. Ở đây chúng tôi gặp một người kháng chiến cũ tên là Ba Vĩnh. Ông đã trên sáu mươi nên tự xưng là “Hội ông nội chiến sĩ” chớ không phải là cha chiến sĩ mà thôi. Ông cho chúng tôi ăn món lươn um lá cách nước cốt dừa tuyệt diệu. Uống vài chum rượu rồi ông khoa tay nói oang oang:
- Tôi là tiểu đội phó bộ đội anh Măng, anh Tỷ. Con tôi đi bộ đội ông Cống, chết ở Khu 9, để lại cho tôi hai thằng cháu nội, bây giờ chúng đã mười bốn, mười sáu tuổi rồi. Tôi không phải là ông nội chiến sĩ hay sao?
Ông cười ha hả mà mắt đỏ hoe, cái cười chất chứa một sự chua cay. Ông bảo:
- Vừa rồi trung đội địa phương quận đến rủ thằng cháu lớn đi tổng tấn công. Tôi không cho. Họ có ý bất mãn cho tôi là thằng cha già sọc dưa. Tôi nói thẳng: Kể về cái vụ chơi với súng ống, tôi đã chơi từ hồi 45. Tôi đánh 25 trận bị thương ở gót không chạy được nên mới quảy gói về làng đó mấy chú à. Con trai tôi chết vì nước, tôi còn hai đứa cháu nội để nối dòng chớ. Đi nữa, cụt làm sao? Họ bảo đi dân công chiến trường. Tôi cũng không cho. Bảo đi cứu thương tôi cũng lắc luôn. Nói không là không tuốt. Hai chú nghĩ thử hồi trước chúng tôi kẻo cả hai đại đội đánh cái đồn Giồng Lưông có chục rưỡi lính mà không hạ được, bây giờ họ có non một trung đội mà đánh cả cái quận Thạnh Phú thì đánh cách nào? Quả thật có đánh được đâu, chỉ làm cho tụi nó chửi om lên.
Tôi không muốn đụng chạm với địa phương, cũng như mối thương tâm của chính mình nên hỏi chuyện cũ:
- Bác có tham gia trận đánh Giồng Luông à?
- Có chớ. Thằng Vĩnh này đánh Cầu Mống, Giồng Luông, Cổ Cò rồi qua Trà Vinh đánh trận Ba Động, Năng Gù. Rồi trở về Bến Tre đánh trận Phước Long bị thương.
Dường như bị khơi đúng mạch lòng, ông Ba Vĩnh uống rượu liên miên và nói liền miệng:
- Hồi đó trong trung đội Đoàn Trần Nghiệp của anh Hai Phải có hai tay bắn FM cự phách là Ba Kích và Vĩnh Địa là tôi. Hồi đó tôi to lớn nên được kêu là Vĩnh Địa. Tôi nặng trên 80 kí lô nên bị thương phải hai người một đầu đòn mới khiêng tôi nổi. Nhờ vậy mà tôi bắn FM nổi danh. Tôi không đặt xuống đất mà ôm bắn một hơi chín băng. Nòng súng đỏ như nướng, rủi ở trận đó nhằm đất giồng cát không có mương vũng nên tôi kêu chiến sĩ đái lên cho nguội để bắn tiếp.
Tư Mô thọc gậy bánh xe một cách vui vẻ .
- Ở giữa trận ai rặn cho ra chú Ba !
Ông Ba Vĩnh cười giơ cả nướu:
- Vậy mà cũng rặn ra chú em à !
Tôi lại chêm vào:
- Trong bộ đội anh Hai Phải còn có một tay nữa bắn FM cũng ớn lắm. Đó là Năm Hà em anh Ba Kích.
Ông Ba Vĩnh xua tay:
- Phải ! Nhưng Năm Hà mới tấn lên sau khi tôi bị thương và nổi tiếng là ông “Chín Băng”. Ba Kích chết, Hà lên thế.
Ông Ba Vịnh hỏi ngoặc lại tôi.
- Sao chú em biết Năm Hà?
- Dạ, hồi đó cháu còn là thiếu nhi cứu quốc ham coi súng lắm. Mỗi lần bộ đội anh Hai Phải từ Cái Mít qua đóng ở nhà ông Sáu cháu ngoài Vàm Tân Hương hoặc nhà ngoại cháu gần chợ thì cháu ở tuốt trong Cầu Mống cũng chạy ra coi súng. Cháu biết anh Hai Phải Ba Kích và Năm Hà. Và còn biết vụ Năm Hà xách súng rượt Trần Văn Trà chạy suýt chết vì ông ta đòi sát nhập bộ đội Đoàn Trần Nghiệp vào bộ đội Lê Hồng Phong để ông ta thống nhất chỉ huy.
Ông Ba Vĩnh hỏi:
- Nói vậy chú ở Cầu Mống à?
- Dạ phải, ở ấp Thạnh Đông giáp ranh xóm Cổ Cò.
- Chú có biết trận Cầu Mống không?
- Dạ có, cháu có tham gia nữa mà. Trận Giồng Luông cũng có mặt cháu. Còn trận Cổ Cò cũng có cháu luôn.
- Chú đi bộ đội à?
- Dạ không. Nhưng vì mấy trận này đều ở gần nhà nên cháu chạy tới xem. Riêng trận Cổ Cò thì xảy ra ngay trước cửa nhà cháu. Bữa đó trong nhà có đám giỗ. Bộ đội của anh Rô Măng và anh Tỷ đang ăn cơm, bỗng nghe tin Tây ở đồn Cầu Mống ra xóm bắt gà. Anh Tỷ bảo: “ê, ê…bu… buông đủ… ả xuống, đánh rồi hãy ăn?”
Tôi nói cà lăm nhại anh Tỷ. Ông Ba Vĩnh cười gật đầu:
- Chú em nói đúng đó. Thằng cha Tỷ có tật cà lăm. Nên gọi là “Tỷ cà lăm”. Riêng mấy thằng già tụi tôi thì kêu “Tỷ cà lạp”. Anh ta lại có tật chửi thề. Mở miệng là chửi thề. Ra trận anh ta nạt: Đ… mẹ… xu…. xung pho…ong nghe tụi bây! Xu… xu pho…ong ! Thằng nào nằm miết, bắn bỏ!” Anh em thương chả lắm. Thằng chả còn có tật chải đầu bảy ba bằng bi-ăng-tin, rẽ đường ngôi thật thẳng ở giữa, thường mặc áo bờ-lu-dông xanh đeo cây colt xề xệ bên hông. Còn anh Rô Măng thì to con như Tây lai.
- Dạ đúng. Anh Rô Măng (gọi tắt là anh Măng) học chung với chú của cháu ở Mỹ Tho, người ở Tân Thành Bình, có cô em gái đẹp lắm tên là Romaine biết đờn ghi-ta.
- Còn một tay chỉ huy nữa cũng gan dạ lắm. Đó là Hồng Minh Quang, có tánh mủ mỉ nhu mì, da trắng môi son, thân hình mảnh mai như con gái.
- Dạ đúng. Ảnh cũng có một trung đội, quân số bằng một đại đội, đồng bào gọi là bộ đội anh Quang. Ảnh có đánh trận Cầu Mống với anh Hai Phải.
- Nhà chú ở Cổ Cò mà ở lối nào?
- Dạ gần nhà thờ Thiên Chúa. Nhà thờ đó là do ông cụ của cháu đựng lên cho con cháu học hành và thờ Chúa.
Ông Ba Vĩnh vỗ đùi đánh bốp:
- Vậy là tôi có đóng trong nhà ở bên cạnh nhà thờ.
- Đó là nhà ông cụ cháu, nhà cháu thì ban chỉ huy đóng.
- Té .ra mình quen nhau hơn hai chục năm rồi sao?
Chúng tôi ngồi nhìn nhau như những người bạn cố tri.
- Thôi làm miếng nữa đi hai chú rồi dẹp để coi có tình hình gì mà chạy cho nhanh. Mấy chú thì chạy chớ tôi trâu già đâu nệ dao phay. Lính gặp tôi biết bao nhiêu lần rồi. Có thằng kêu tôi bằng ông nội. Nè, làm cái đuôi lươn đi. Con lươn ngon nhất là cái cạnh đuôi. Nó vừa có xương có nạc lại có gân nhai đòn đòn béo béo. Còn khúc mình chỉ có nạc và xương cứng gặm rồi vứt, không nhai được.
Bỗng ông Ba ngưng đũa hỏi:
- Mấy chả chắc ra Bắc làm lớn lắm hả chú?
- Dạ mấy cha nào?
- Thì cha Măng, cha Tỷ Cà Lăm, cha Quang, ủa quên nữa, còn cha Nhàn Râu.
- Dạ làm lớn lắm, nhưng lớn nhất là anh Nhàn Râu.
- Lớn cỡ nào, chú nói cho tôi mừng !
Tôi nghẹn ngào không biết trả lời cách nào thì Tư Mô cười nhếch mép:
- Không biết cỡ nào nhưng nhà ổng ở có song sắt và lúc nào cũng có lính canh, vợ con cũng không tới thăm được.
- Lớn dữ vậy à?
Bỗng một thanh niên từ trong vườn lom xom chạy ra, mặt mày hớt hãi:
- Hai chú về nhà cháu. Mau để không kịp !
Tôi và Tư Mô quơ đồ đạc dồn vô ba lô và từ giã ông Ba Vĩnh, chạy bạt mạng theo thằng bé. Về đến nhà cậu Tám mệt muốn đứt hơi. Đó là thằng con trai của cậu Tám.
Cậu đang đứng ở bến, vẻ mặt âu lo. Chiếc đuôi tôm đã nổ máy. Cậu khoác tay:
- Xuống ngay. Các ổng đang đợi ngoài vàm.
Chúng tôi vừa ngồi yên trên xuồng thì cậu vọt. Chạy một khúc cậu mới móc đưa cho tôi mẩu giấy. Chỉ có mấy chữ: “Theo người cầm giấy ngay! – Năm Cảnh. “
Tôi hỏi cậu Tám:
- Người cầm giấy đâu cậu?
- Anh ta sợ chờ lâu, đoàn đi mất nên về trước kêu họ đợi.
- Cậu biết đường tới đó không?
- Ngoài vàm.
Đuôi tôm chạy trên con rạch âm u rợp lá dừa nước ngoằn ngoèo, nếu là người không rành đường chắc phải lủi vô bờ. Rong rêu rác rến dày đặc, lâu lâu cậu phải bật đuôi tôm lên lắc lắc cho rác rơi xuống rồi mới chạy tiếp.
- Quân Bình Định xuống chợ Cồn Chim rồi.
- Vậy là nó chiếm trọn Cù Lao Minh và Cù Lao Bảo.
- Tụi này hiền mà ácác mà hiền.
- Là sao cậu?
- Hiền là nó không bỏ bom bắn phá, nó chỉ dựng sân khấu hát xướng và đi phát thuốc men, gạo vải cho bà con. Cho nên bà con ở yên không ai chạy đi đâu hết. Lại còn đi coi hát của tụi nó. Quán xá chợ búa còn y nguyên. Nhà ai nấy ở. Chỉ vài ngày nó đã lập được chánh quyền, biến vùng giải phóng thành vùng quốc gia, vậy không phải hiền là gì? Cán bộ không phương gì giải thích tuyên truyền về “sự tàn ác” của chúng nó. Chúng điều tra rất kỹ những chuyện làm bậy bạ của cán bộ địa phương. Ông nào có vợ bé, ông nào mò vợ chủ nhà đóng quân, ông nào rượu chè be bét, cô nữ cán bộ nào có chữa hoang, chúng đều nói trúng ngay trân. Cuối cùng chúng nó hỏi: như vậy giải phóng để làm gì? Chưa hết, chúng còn phân phát một cuốn sách nói về cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc bị đày đi phá rừng đi đập đá làm đường, rồi trên đường Trường Sơn ốm đau chết chóc như thế nào, cuối cùng chúng lại hỏi:giải phóng để làm gì? Ở cuối quyển sách có in hình mấy chục cán bộ chiến sĩ Nam Bắc hồi chánh. Trong đó có nhiều ông chức lớn lắm. Ở ngoài bìa sách chúng vẽ hình Cụ Hồ ốm o, chống gậy và đề một câu: Hồ Chí Minh đã ngủm.
- Cậu có cuốn sách đó không?
- Coi xong tao đốt liền.
- Nếu cậu giữ cho cháu thì hay quá .
- Tao đâu có dám giữ trong nhà. Rủi cán bộ bắt gặp thì nó cho tao mò tôm ngay.
Xuồng chạy ra tới Vàm khá rộng. Tôi không biết đây là đâu cả. Địa danh là gì cũng không cần hỏi. Xã Thạnh Phong mảnh đất cuối cùng của Cù Lao Minh gồm những vùng rừng hoang, những xóm thưa dân làm những nghề nghiệp đặc biệt với những tên đất tên làng vừa nghe đã thấy sự hoang vu: Láng Cát, Cồn Điệp, Cồn Ngao, Cầu Ván, Sân Trâu, Giồng Chanh, Giồng Ớt, An Quí…
Đất nâu, mặn, đi dính chân rít rít. Nước đục lềnh bềnh. Người dân nước da ngâm, yên phận hưởng thú thiên nhiên trời đất dành cho. Cái thời gián điệp Phạm Ngọc Thảo chui vô chánh quyền quốc gia, được giao cho giữ chức Tỉnh Trưởng Bến Tre, Cồn Chim đã trở thành một trong những bến đỗ của tàu vũ khí từ Bắc vào, và rừng Láng Cát chứa nghẹt những súng đạn Liên Xô, Trung Quốc, Tiệp, Hung… để rồi tỏa ra khắp miền Nam đánh phá đô thị mà vụ lớn nhất lịch sử là Tết Mậu Thân vừa qua.
Phạm Ngọc Thảo là em ruột phạm Ngọc Thuần. Tôi biết Thảo hồi tôi làm phóng viên cho tờ Tiếng Súng Kháng Địch ở miền Tây, đi chiến dịch Long Châu Hà II, nằm trong đơn vị của hắn. Tiểu đoàn 410, trong trung đoàn chủ lực Tây Đô do Huỳnh Thủ làm trung đoàn trưởng. Thảo người gầy ốm, mắt lé, còn có tên là Thảo lé . Trong quyển “Mười Năm Mưa Phùn Gió Bấc” tôi đang viết cho nhà xuất bản Xuân Thu, tôi sẽ kể chuyện về bàn tay lông lá của Thảo đã mở cửa tù thả hằng trăm tên Việt Cộng và mưu hại một người bạn của tôi hiện ở ngoại quốc. Người bạn này đã mở đường Trường Sơn vượt qua Lào trốn về Sài Gòn trước khi có con đường Hồ Chí Minh. Chính người bạn này đã hợp tác với chánh quyền Cụ Diệm ngay sau khi về Sài Gòn năm 1958. Chuyện ba mươi năm cũ viết tới đâu lòi ra bao nhiêu điều u ẩn bị Cộng Sản giấu nín nhẹm tới đó. Vô cùng ngán ngẩm, nhưng tôi vẫn cố viết cho hết những điều tôi biết.


—>Chương 24


- 24 -
Xuồng chạy ra sông lớn một khúc thì thấy một ghe tam bản đầy nghẹt những người đậu nép bên ven bần. Cậu Tám biết ngay. Cậu cho xuồng tấp vào. Tôi nhận ra Năm Cảnh ngồi ở sau lái. Cảnh vẫy tay:
- Qua đi các cha!
Tôi và Tư Mô bước qua ghe tam bản, nói với cậu Tám:
- Cậu về Minh Đức cho cháu gởi lời thăm bà con mình.
- Ừ cháu đi mạnh giỏi nghe !
Thế rồi tam bản đi tới, xuồng cậu trở lui. Nước mắt tôi ròng ròng lả chả . Đời tôi là sự nối tiếp của những cuộc biệt ly. Đi kháng chiến biệt ly gia đình. Tập kết lại biệt ly gia đình. Ở Hà Nội, về Nam biệt ly bè bạn, người yêu. Vô Trường Sơn biệt ly người yêu. Về R vĩnh biệt người yêu. Về Bến Tre cưới vợ, xa vợ. Rồi xa vợ xa con. Bây giờ lại biệt ly quê hương, cậu Tám đồng hương, ân nhân cứu mạng. Nếu không có chiếc đuôi tôm của cậu thì tôi phải ở lại đây và trở thành người rừng.
Chiếc tam bản chở đầy người, nặng tâm tư của tôi. Đi lần này không biết tới đâu và không biết bao giờ trở lại Bến Tre nữa? Có vợ để rồi xa vợ. Có con để lại xa con.
Trong lúc ở nhà cậu Tám tôi đã viết hằng trăm trang thư gởi về cho vợ tôi. Nếu những lá thư đó mà còn thì có thể được in ra như một mối tình sầu của một cán bộ Mùa Thu một loại than vãn trối trăn của một người cha một người chồng gởi về cho con cho vợ.
“Anh muốn nói chuyện với con mặc dù con chưa biết nói. Hôn em. Hôn con!… ”
Tôi nhờ cậu Tám cho người mang về Cầu Mống. Cậu đã hứa. Vậy là tôi yên tâm vợ tôi sẽ đọc được thư tôi. Chiếc tam bản chạy đến chiều tối thì ghé lại. Tôi cũng không buồn hỏi đó là đâu và từ đây sẽ đi đâu và tới đâu.
Tôi cứ nghe lời Năm Cảnh một cách ngoan ngoãn. Chỉ biết rằng đây là một cuộc chạy lấy thân. Sống cái đã. Sống sẽ có ngày về.
Hết đi ghe tới lội bộ. Trời ơi, một cuộc lội bộ hơn cả những cuốc đi của giao liên Trường Sơn. Sức khỏe của tôi không tệ lắm, nhưng tôi cũng phải quỵ xuống mấy lần. Không có đường sá gì cả. Toàn càn rừng lội rú, do một người địa phương dắt.
Chiếc thùng sắt đầy ắp “tác phẩm” của tôi bây giờ trở thành cái nợ. Muốn quẳng quách đi cho xong. Ba-lô trở thành quả núi con đè trên lưng sau vài lần lội qua rạch.
Đi băng qua na các ấp chiến lược, nghe tiếng mỏ chóc chóc, thấy đèn canh leo lét của các trạm nhân dân tự vệ. Ước gì tôi có thể chạy vọt vào đấy rồi về Sài Gòn! Đi từ chiều tối đến hừng sáng thì tới nơi. Xuồng ghe có sẵn. Chúng tôi bước xuống như những cái thây ma đem đi chôn.
Một khu rừng lá mịt mù. Chúng tôi được ấn vào những mái chòi lụp xụp không biết của ai và không biết ở vùng nào. Mặc kệ, cứ lăn ra bất tỉnh nhân sự.
Tiếng trực thăng ầm ầm đánh thức những xác chết.
Nguy cơ trước mắt: hoặc chết hoặc đầu hàng . Trực thăng bay sà đụng ngọn lá quặc như bão hốt. Hầm hố không có. Đám chúng tôi chỉ ngước mắt nhìn trời và cầu trời. Tôi thấy rõ cả tên Mỹ lái qua lồng kiếng. Vài loạt cà nông ria ở ven rừng. Có lệnh chuyền tới: “Không được bắn trả!”
Bắn là lạy ông con ở bụi này. Chúng nó đã theo được dấu đường mòn trên ruộng trong vừng ở bờ sông bãi cỏ và đến tận đây. Không hiểu sao chúng không bắn cũng không kêu phản lực dội bom. Có tên gián điệp nào kiểu Phạm Ngọc Thảo trong vụ này chẳng?
Nếu chúng cho nhảy chừng một đại đội lính thì cả Văn Phòng Khu Ủy Khu IV của Trần Bạch Đằng bị tóm gọn trong đó có hai tên nhà văn R cũng đi chung một xuồng. Không hiểu sao đủ loại trực thăng quần tới quần lui rồi biến mất. Chúng tôi chờ lãnh dưa hấu B52. Không thấy. Chờ dưa hấu rời của Thần Sấm, cũng không. Chờ pháo Thạnh Phú dọt. Cũng không nốt. Không hiểu tại sao chúng đã tìm ra dấu con mồi, tìm được cả hang ổ của nó mà vẫn không làm gì? Quả thật không thể hiểu. Tới bây giờ thì có thể hiểu lơ mơ. Có thể là… Nhưng thầy bói Từ Mậu Công còn sai nữa là mình.
Ân huệ đầu tiên đến với tôi là Năm Cảnh cho người tới lấy cái thùng sắt của tôi để gởi về R bằng đường giao liên đặc biệt. Tôi giao ngay không ngần ngại. Mất còn mặc kệ, miễn tống được nó đi cho người có trách nhiệm.
Bây giờ nằm ngay chừ trên những bộ vạt kết bằng sóng lá còn tươi mà ngó trời. Tôi lại viết thơ cho vợ. Viết thơ cho mấy đứa em con dì con cậu tôi và cho anh Tư Ánh mà từ nay được đổi ra là Năm Quang, kêu tắt là anh Năm.
Từ 1954 tới bấy giờ 1968 tôi chỉ gặp anh có một lần. Đó là lần mít-tinh ở Kinh Ba Miền Tây Nam Bộ lúc hòa bình vừa lập lại, chuẩn bị xuống tàu ở bến Chắc Băng ra Bắc.. Anh mặc áo thung cổ vuông kiểu lính 307, tóc hớt ngắn, ngồi trên bàn chủ tọa đoàn cùng với Huỳnh Văn Tiếng. Rồi tôi đi, không biết anh ở đâu nữa. Tới nay chưa gặp lại lần nào. Tuy vẫn biết anh ở gần đâu đây.
Một bữa, người ta đem đến cho tôi và Tư Mô , mỗi người một bộ đồpyjama bằng vải popeline màu hột gà và một cái nón vải giống như nón nỉ, bỏ nhỏ, vành lên. Năm Cảnh bảo chúng tôi chuẩn bị đi đường thành về R.
Tôi không ngạc nhiên, nhưng sợ. Không phải sợ gặp lính mà sợ đi xa. Vì cứ mỗi lần di chuyển tôi lại cảm thấy xa gia đình cha mẹ vợ con, xa Bến Tre. Tôi sợ sự xa cách. Một lần đi phải mất hai mươi năm mới trở lại được. Lần này lại hai mươi năm?
Đêm nhận bộ đồ pyjama tôi không ngủ được. Tư Mô vốn đã bị bịnh mất ngủ mà đêm nay cũng đã ngủ trước tôi. Anh thức dậy, nghe tôi rọ rạy, hỏi:
- Sao chú thức hoài vậy chú Hai?
- Không hiểu tại sao anh à !
Đó là tôi nói giấu anh. Chớ làm sao tôi không hiểu. Tôi thức vì trong đầu đang tính kế trở lui. Trở lui đường nào?Muộn rồi ở đây hoàn toàn xa lạ . Tôi ân hận vì đã đi chuyến đi này. Lúc bất cập, hốt hoảng không tính kịp, bây giờ mới sáng mắt ra. Ngổn ngang trăm mối tơ vò.
Tôi nhớ lại tôi lúc ở Miền Bắc. Liều mạng lên Ủy Ban Quốc Tế thất bại rồi chạy ngược chạy xuôi từ Hải Phòng đến Bến Hải mà vẫn không tìm được đường về Nam. Bây giờ đã ở trên đất Miền Nam mà không tìm được lối thoát ư?Chuyến đi đường thành kỳ này phải chăng là cánh cửa mở cho tôi?
Hôm sau một người đến gặp tôi và Tư Mô , trong đơn vị gọi anh ta là ông Cò theo nghĩa Cò Tây. Anh dắt tôi và Tư Mô sang chòi anh ta để chụp hình và lăn tay, làm thẻ bọc nhựa, loại giấy tùy thân căn bản của Việt Nam Cộng Hòa thời bấy giờ.
Hôm sau thì chúng tôi có thẻ bọc nhựa y trang như những thẻ bọc nhựa chính thức mà tôi có dịp nhìn thấy một đôi lần của bà con ở thành về khu giải phóng.
Có chữ ký của quận trưởng, quên là quận nào, và con dấu đàng hoàng. Nghề nghiệp của tôi là “làm ruộng”. Nhưng ông Cò bảo:
- Giấy này cấp hồi 65 mà trông còn mới quá , vậy đồng chí chịu khó lấy tí thuốc rê ngâm nước, bôi lên, phơi nắng rồi chà lên vải, rồi bôi thêm vài chục lần làm cho nó cũ như được cấp hồi 1965 vậy.
Tôi và Tư Mô nghe lời làm theo. Chúng tôi đưa cho nhau coi. Đến lúc cả hai đều công nhận là “cũ rồi” mới bỏ vào bóp. Tất cả hành lý và các vật kỷ niệm riêng tư đều vứt lại. Tôi viết thư kèm cây súng ngắn gởi lại cho thằng Đức em tôi ở Văn Công tỉnh cho nó phòng thân. Sau này khi về gặp nó ở Sài Gòn, hỏi ra, nó không nhận được. Ông bà giao liên đã xài dùm rồi. Khuya hôm đó xuồng tới rước hai đứa tôi đi ra đuôi tôm. Đuôi tôm chạy ra sông Cổ Chiên. Đến sáng thiệt mặt thì thấy một cái cồn lá dài dằng đặc.
Anh Tư bảo:
- Đó là Cù Lao Dài.
- Sao anh biết?
- Thì đoán chừng vậy thôi!
Cô giao liên trẻ nói.
- Đúng là Cù Lao Dài.
Cùng đi với chúng tôi có hai nàng giao liên, một trẻ một đứng tuổi. Cô trẻ sẽ đóng vai vợ tôi còn cô kia làm vợ Tư Mô trên đường đi lên Hồng Ngự. Nếu bị xét hỏi thì chúng tôi sẽ trả lời ăn rập là lên đó tìm nơi làm cá.
Con sông Cửu Long này sao mà có duyên với chúng tôi thế. Cứ đụng hoài. Hết Ba Lai, Hàm Lượng, bây giờ lại Cổ Chiên! Toàn là những đoạn biệt ly sầu và những đoạn gởi thây cho bà Thủy. Cô giao liên phụ nhĩ với tôi những điều cần làm hoặc nên tránh khi bước chân lên thành.
Độ 11 giờ trưa thì đuôi tôm cặp bến chợ Trà Vinh hay một chợ quận nào đó bây giờ tôi không còn nhớ, nhưng chắc chắn là thuộc tỉnh Trà Vinh.
“Vợ tôi” , dắt tôi vào quán ăn phở. Phở tái.
Tôi vừa ăn vừa nghĩ bụng:
- Ở Hà Nội mười năm ăn cả ngàn tô mà cảm thấy như chưa ăn. Về Nam không phải là quê hương của phở, mới được ăn phở. Lạ thật.
- Anh ăn có ngon không?
- Ngon thấy bà chớ sao không?
Nàng ta đi cặp với tôi tỏ về âu yếm. Tôi cũng đóng vai “chồng” khá tự nhiên. Rồi nàng dắt tôi lên bến xe. Không phải chờ đợi xếp hàng gì cả. Chủ xe mời mọc và dắt tay từng người khách lên xe. Bến xe đầy những chiếc xe hàng lộng lẫy. Ngồi êm đít mát mẻ bổ khỏe quá trời. Chả bù lại những chuyến đi từ Hà Nội vào Thanh Hóa chỉ trên trăm cây số mà đến nơi bước xuống xe tôi cảm thấy như ốm mới dậy, bụi bám đầy tóc và áo quần như đi bắt cá mới lên.
“Vợ chồng tôi” ngồi cạnh nhau âu yếm thực sự. Khách toàn quần là áo lụa sang trọng chớ đâu quần nâu váy đụp như xứ xã nghĩa ta?
Xe chạy êm ru, đường tráng nhựa không xốc, tưởng như đi trong mộng. Qua tỉnh Sa Đéc hay Vĩnh Long gì đó xe chạy ngang Ty Chiêu Hồi, tôi giật mình thầm trong bụng. Tôi không có ý định nhảy xe. Để “điều tra” cho kỹ đã . Gần tới mức ăn thua phải cẩn thận. Hớ hênh một chút thay vì khoác áo vàng chiến thắng lại mặc áo xanh có số tù thì đáng tiếc.
Qua Bắc Vàm Cống càng thấy sự phồn vinh, không giả tạo chút nào, của Miền Nam. Tôi không hiểu những cây cần câu tua tủa trên nóc nhà nóc phố kia là cái giống gì. Bèn hỏi “vợ tôi”. Nàng bảo nhỏ:
- Đó là ăng ten Ti Vi, nhà quê thế, anh!
Tôi đáp thầm.
- Thì nhà quê chớ còn gì nữa.
Hình như đến Sa Đéc thì trời tối. “Vợ tôi” dắt tôi vô nhà người quen. Ở gần mé sông. Cơm nước xong nàng đi mua đồ còn tôi thì vô buồng nằm chèo queo, bụng hồi hộp sợ bị xét bắt. Một hồi lâu nàng về, vô buồng bảo nhỏ tôi:
- Mai anh thay đồ khác.
- Chi vậy?
- Thay hình đổi dạng mà. Anh nên nhớ là mình phải làm vợ chồng cho khéo nghe. Đừng có sượng. Trên đường này nhiều cảnh sát ngầm dữ lắm. Chúng nó rất tinh mắt. Nếu tối mà bị chúng xét nhà, anh cũng phải… làm chồng thiệt đó.
- Nghĩa là sao?
Nàng kề tai nói nhỏ. Tôi kêu lên:
- Đâu có được nà !
- Ừ hổng chịu làm thì nó nghi nó bắt.
- Sao có chuyện kỳ vậy?
- Em hổng biết đâu, nhưng muốn qua mắt địch phải làm mọi thứ.
Về sau khi hiểu ra thì chuyện “vợ chồng” như vầy. Số là có một vài trường hợp giao liên dắt khách đi đường công khai bị lộ . Cả hai phải khai là vợ chồng. Trong những trường hợp khả nghi cảnh sát hoặc nhân dân tự vệ bảo: Đâu hai người chứng tỏ là vợ chồng thiệt coi nào! Chính Tư Mô và “vợ”, bị xét nghiệm kiểu đó. Nhưng Tư Mô than: Tôi mới khỏi bệnh còn yếu!… Nhờ vậy mà thoát nạn.
Sáng hôm sau lên xe, trong bụng run quá . Có một người đàn ông đeo ở cửa xe nhìn lom lom từng hành khách một. Tôi sợ bị xét, nhưng đến Hồng Ngự, anh ta tha Tào. Hú vía. “Vợ tôi” trao tôi cho một trạm khác ở chợ Hồng Ngự. Trạm này dắt tôi đến mối đường vào Sông Bé. Ở đây tôi gặp Ba Đường, Trưởng Ban ATK (gọi là A-tê-ca tức là An Toàn Khu) của Khu IV.
Ba Đường vốn là tiểu đội phó trung đội địa phương huyện Ô Môn tỉnh Cần Thơ, chuyên môn bắn cây FM Bỉ. Ra Bắc không biết làm gì, vào Trường Sơn hồi nào, nay lọt vô đây. Anh đã có vợ có con.
Nhờ bộ tóc bạc và mớ râu rậm rạp mà anh qua mắt cảnh sát hằng ngày. Phương tiện đưa khách của anh là một chiếc đuôi tôm nhỏ có rèm ốp. Vợ con ngồi bên trong còn anh cầm lái. Gặp lại bạn cũ anh mừng rỡ:
- Sao tới đây chú em?
Rồi lái một lèo chừng một buổi thì tới một xóm nhà trên bờ Sông Bé. Anh dắt hai đứa tôi lên bờ giao cho trạm mới, bắt tay.
- Thôi ở đây rồi đi lên Bắc Lộ.
- Là đâu?
- Qua xứ mắm bò hóc, lên tuốt trên, xa lắm.
Tôi và Tư Mô ở trong một cái nhà sàn. Ban đêm nhân viên văn phòng đánh cá bằng lưới bén. Sáng ngày kéo lên. Cá vô số kể, gỡ mỏi tay không hết.
Chúng tôi tha hồ ăn. Còn thừa lớp ném đi, lớp chà bông để đem theo lên rừng. Cách đó vài cái nhà là nơi mấy ông kẹ đóng chung với mấy em nữ sinh áo hồng áo tím trong thành mới ra và nếm mùi ba-toong gân của cách mệnh.
Một đêm tôi đang ngủ thì có người đập dậy cho hay rằng cái thùng-sắt của nợ của tôi đã đến. Tôi không mừng chút nào. Vì tôi đã quyết định “Đi!”.
Xin tặng lại cho cách mạng.
—>Chương Kết

- ĐƯỜNG ĐI ĐÃ ĐẾN-
Hôm sau cơ quan thết tiệc tiễn chúng tôi về R. Quần áo, ba lô, thực phẩm đầy đủ lại thêm K54 mới toanh. Oai hết cỡ, nhưng lòng tôi buồn rợi nghĩ tới vợ con. Lên Cao Miên làm sao về được?
Năm Xuân, – tức là Mai Chí Thọ- ủy viên thường vụ Khu Ủy, dưới phé Trần Bạch Đằng, đến ăn cơm với chúng tôi. Rồi đuôi tôm lại đưa chúng tôi đi. Tôi hoàn toàn không nhớ nơi chốn nào hết chỉ biết đây là Sông Bé nối liền thị trấn Hồng Ngự với một miền đất Miên.
Hết đường thủy tới đường bộ không vất vả như ở Trường Sơn nhưng nặng nề từng bước. Vì trên Trường Sơn thì đi với hi vọng tới quê nhà, còn ở đây thì lại đi bỏ quê nhà lại sau lưng mà không biết chừng nào trở lại. Nghĩ thương cha mẹ vợ con không biết chừng nào.
Giao liên dắt hai đứa tôi qua lộ khỏe ru, không như lộ Đông Dương. Vì ở đây lính Siahanouk lãnh lương Việt Cộng nên cho đi qua lại thả giàn.
Đi qua đồn điền cao su Chup mênh mông, bị tàn phá. Gặp nhiều đoàn xe máy chở những “can” xăng chạy ngược lên. Dân Miên xơ xác ngơ ngác như mất hồn. Một buổi chiều hai đứa đi ngang một cái chợ thì dừng lại. Tôi trông thấy một người đàn bà Miên trắng trẻo mũi cao mặt trái xoan giống một người yêu của tôi bỏ lại ở Hà Nội vô cùng. Tôi kiếm chuyện hỏi để nhìn bà ta, nhưng bà ta lại không biết nói tiếng Việt. Sực nhớ rằng dân Miên học tiếng Pháp. Tôi nói tiếng Pháp. Bà ta nói khá rành. Bà hỏi chúng tôi đi đâu? Tìm ai?
Còn đang trò chuyện thì một chiếc xe máy dầu sà tới trước mặt. Một tên lính Miên mắt trắng dã chìa tay hỏi giấy. Chúng tôi móc túi đưa ra: Giấy đi đường do Khiêu Sam Phan ký hẳn hoi chớ đâu có đùa.
Hắn gật đầu. Và hỏi chúng tôi bằng tiếng Việt. Tôi nói cho hắn biết đơn vị mà tôi muốn tìm bằng bí số, do Năm Xuân cho. Hắn bảo chúng tôi ngồi lên xe, chở đi. Chừng một tiếng rưỡi đồng hồ đến một ngôi chùa hắn bảo vô đó nghỉ. Tư Mô nói nhỏ với tôi:
- Ớn tụi này cáp duồng quá chú !
- Biết làm sao bây giờ.
Chúng tôi nấu cơm ăn và làm “lục” giữ chùa đêm đó. Cũng may không chuyện gì xảy ra. Hôm sau một tên khác chạy xe đến chở chúng tôi đi.
Xế chiều mới tới trạm tiếp tế của ông Út Một. Đây là một đầu mối giao liên, kinh tài hằm bà lằn đủ thứ. Tôi gặp ông Dương Tử Giang ở đây. ông ta được cho ra Hà Nội để đi chữa bệnh gì đó tận bên Đông Đức. Không biết có đi được hay không, về sau không gặp nữa.
Ông bà cán bộ lố nhố ở đây khá đông. Lớp ở các đơn vị trong rừng ra, lớp ở ngoài thành mới vào. Mặt mũi người nào cũng phờ phạc, vàng lượm, trông thấy mà ớn tới trứng non. Sau Mậu Thân ngàn năm có một, cán R như đầu thai nhầm đường, nhưng đã lỡ đi không quay lại được.
Ông Út Một là một người lùn, có bịt răng vàng trạc chừng năm mươi ngoài, luôn luôn bận rộn, nách ôm một cái sắc hở miệng đầy phè đức Thánh Trần lẫn Ria. Ông chuyên trách mua gạo mua xăng mua cả xe hơi xe máy dầu cho mặt trận Thọ. Xe cộ rợp trời, xăng gạo chất đống như núi, người ra vào nườm nượp không thua gì cảng Hải Phòng. Chúng tôi không biết ông ta làm công tác này bao lâu rồi? Nếu quá một tháng phải đem chém đầu cho đúng luật nhà Mao.
Chúng tôi hỏi đường về B2 tức là tiểu ban Văn Nghệ . Ông bảo cứ ở đây, ông cho tin, rồi trong đó cho người ra đón chớ chân ướt chân ráo không mò ra lối đi nổi. Lòng tôi càng não nề tê tái. Nhưng tôi tự an ủi:
- “Dù sao cũng nhớ đường đi trở về .”
Hôm sau chúng tôi về đến tiểu ban Văn Nghệ R. Chuyến đi công tác ba năm đã kết thúc. Tôi có một nỗi ân hận. Giá mà xin ở lại khu IV với Trần Bạch Đằng để khỏi chui vô rừng sốt rét có hay hơn không? Ở Sông Bé có cá ăn lại gần Hồng Ngự dễ vọt hơn. Nhưng đã lỡ rồi, còn biết làm sao.
Chúng tôi có ông Trưởng Tiểu Ban Văn Nghệ mới là Ba Thanh Nha, người tôi gặp ở chợ An Định trên đường đi Miền Tây năm nào. Đoàn Văn Công xuống đó bị chụp hao mất vài mạng trong đó có ông nhạc trưởng bạn của tôi tên Miên. Lúc.bấy giờ Lưu Hữu Phước đã lên làm Bộ Trưởng Văn Hóa của chánh phủ ma Huỳnh Tấn Phát. Ông ta đóng cái Bộ Văn Hóa ở cách tiểu ban Văn Nghệ xa xa. Trông cơ quan tiêu điều thảm hại.
Cán bộ ngoài Bắc vô đông hơn. Bộ chia làm nhiều Vụ. Vụ Nghệ Thuật, Vụ Điện ảnh, v.v… Mai Lộc, một anh nhiếp ảnh xoàng, làm Vụ Trưởng Vụ Điện ảnh còn Bích Lâm, một anh chàng viết kịch không có vở nào được diễn thì làm Vụ Trưởng Vụ Nghệ Thuật. Không biết sau 75 làm gì không thấy tên trên báo nhà Cộng.
Hai ông thầy cũ của tôi cũng làm Bộ Trưởng, là Giáo Sư Nguyễn Văn Chí, Bộ Trưởng Bộ Thanh Niên, Giáo Sư Nguyễn Văn Chì Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục hay Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Sài Gòn Chợ Lớn gì đó. Nghe nói cái chánh phủ ma này đóng gần đâu đây tôi muốn đến thăm hai ông thầy cũ để hỏi hai ông “…phì phạch với đảng đã
mệt chưa”
? nhưng không đi được, không rõ vì lý do gì.
Tôi và Tư Mô đều không có tiêu chuẩn trung cấp. Tôi thì từ hội viên chánh thức Hội Nhà Văn vì không đẻ được tác phẩm theo ý đảng nên suýt bị hạ xuống hội viên dự bị, còn Tư Mô thì ở tù ra đang bị xử lý thì lãnh tiêu chuẩn trung cấp ngang với Tỉnh Ủy thế quái nào được. Bởi vậy hai đứa lại sanh tử bất ly định chung ty với nhau dựng một sườn lều để xin cấp ni-lông làm nóc. Cái sườn lều không phải dễ làm. Vì phải đốn cây to, phải đào lỗ cột, phải đắp nền, toàn những việc vất vả mà chúng tôi vừa mất tinh thần vừa không quen lao động. Nhưng cũng may có vài thằng vừa đi “công tác dài hạn” nên chúng tôi tạm chiếm hữu cái sườn lều của tụi nó ở tạm.
Chỗ ăn chỗ ở xong xuôi, đến việc làm báo cáo, kiểm thảo. Bộ Trưởng Văn Hóa Lưu Hữu Phước vác xe đạp qua dự kiểm thảo chúng tôi. Tôi định bụng nếu ông ta chất vấn “Tại sao có điện R gọi về mà không về” thì tôi sẽ cự một mẻ tung hê cả lên. Nhưng may cho ông mà cũng may cho tôi là ông không đá động tới vụ đó và còn cho biết ông cũng không có cho đánh cái điện nào ác ôn như vậy. Vỡ lẽ ra đó là tác phẩm của một nhân vật khác ký tên ẩu “Tư Siêng” tức Lưu Hữu Phước – sau Mậu Thân đổi ra là “Tám Năng” nghĩa là công tác gấp đôi.
Thật tình trông thấy ông Bộ Trường mà tội nghiệp vô cùng. Khi ở trường đi Nam vác gạch với tôi, ông như Nhị Thiên Đường. Chỉ trên ba năm ông trở thành một bộ xương biết đi. Buổi kiểm thảo kết thúc bằng một tiệc “chả giò”do nữ sĩ Lê Giang sáng tác tự chiến tự dọn, rất vui vẻ.
Tôi ở chung lều với Tư Mô thích lắm. Anh luôn luôn sáng chế và biến hóa món lạ. Trà thì đã thủ sẵn trong ba-lô từ lúc sắp rời Sông Bé. Còn dám đòi gì hơn?
Hoàng Việt chết. Tư Trang, Bảy Thinh, Ngọc Cung bị B52. Thủy Thủ tức thiếu úy hải quân Thái Trần Trọng Nghĩa tự sát bằng AK sau chuyến công tác Mỹ Tho thất vọng vì tình và bế tắc lý tưởng.
Ông văn sĩ cưng số một của Tố Hữu là Anh Đức có một thằng con trai đã ba tuổi rất xinh nhưng khổ thay lại không nói được vì thiếu dinh dưỡng. Cháu tên là Huy. Cháu rất mến tôi vì tôi xa con nên chơi với cháu cho đỡ nhớ. Trong số nghệ sĩ mới vô có Trương Bình Tòng bí danh Tư Trương, thay chân Quách Vũ vừa chết vì ho lao, BS Phạm Ngọc Thạch thì chết vì thương hàn, v.v…
Tôi đã buồn, càng mất tinh thần.
Xe đạp toàn B2 có hai chiếc, một dành cho thằng Cửu tiếp phẩm đi chợ Ché Phèn hằng ngày, không ai rớ được, một dành cho toàn thể thần dân B2 thì không ai xài vì nó không có pê-đan.
Trong những thằng bạn thân của tôi ở Hà Nội mới vô có Đinh Phong Nhã. Anh ta còn trẻ nhưng lại có tác phong già, chơi hoa cỏ, phong lan như Nguyễn Tuân. Hằng ngày hắn lội khắp rừng tìm phong lan các loại mang về treo giáp vòng lều như những tác phẩm văn hóa.
Trong lúc đó có hai ông Thứ Trưởng Văn Hóa là Thanh Nghị và Lữ Phương thì lại nuôi gà lấy trứng tẩm bổ. Thanh Nghị nuôi không biết được mấy chục gà mái còn Lữ Phương thì nuôi bộn bàng. Tụi lính trẻ ngoài Bắc mới vào gọi ông ta là “Thử Trưởng gà mái “ .
Thanh Nha không thân với tôi lắm. Lúc ở Hà Nội, nhưng có đi xuống khu Kim Chung nhậu và coi hát với nhau. Anh rất dễ thương và lãnh đạo bằng tình cảm hơn là nguyên tắc. Ai muốn làm gì làm miễn đừng phá nát cơ quan thì thôi.
Chỉ sống hơn một tuần thì tôi bắt đầu sốt rét. Với tôi cách chữa sốt rét tốt nhất là ra khỏi rừng. Với lý do đó tôi xin anh cho tôi ra Hồ Ché Phèn, thằng Huy con của Anh Đức gọi là Hù Ché Hù, để dưỡng bịnh. Anh cho đi liền. Đinh Phong Nhã cũng xin đi với tôi cho có cặp tâm tình với nhau.
Ché Phèn là một cái hồ rộng chừng vài chục mẫu tây lọt thỏm giữa khu rừng không biết tên là gì và có trong bản đồ hay không. Chỉ biết là cá mắm vô số kể. Quanh hồ là những ngôi nhà cất nửa trên đất nửa dưới nước gọi lànhà bè. Đó là cơ sở sản xuất cá của người Việt Nam từ Châu Đốc Sa Đéc lên đây lâu đời đã Miên hóa về hình thức và ngôn ngữ. Họ nói tiếng và ăn, mặc như người Miên, khó bề nhận ra.
Tôi ở đậu nhà anh Năm Đặng. Anh có hai đứa con, một trai tên Cuồng, bảy tuổi, một gái không nhớ tên gì. Hằng ngày tôi chịu khó tập cho bé Cuồng bơi. Ở nhà bè trẻ con phải biết bơi để tránh nạn chết chìm. Đó là công tác dân vận của tôi.
Còn Đinh Phong Nhã thì ở nhà của ông Chín bên cạnh. Nhã dạy con gái ông Chín học chữ. Cô bé chừng mười bốn tuổi. Đêm nào Nhã cũng lên lớp đúng hai giờ đồng hồ ở cái bàn tròn ở giữa nhà trong khi ông Chín nằm trên giường canh chừng, không để cho ông giáo viên làm một cử chỉ nào có thể cô học trò rung rinh trái tim non.
Cô bé có một người chị có chồng ở đâu không rõ nhưng lâu lâu thấy về thăm bố mẹ. Cô ta thường mặc xà-rông sặc sỡ che kín quá ngực, để hai cánh tay trần như ngà. Trưa nắng gắt cô thường ra trước nhà múc nước tắm. Nhã bảo tôi với giọng tiếc rẻ :
- Con chị coi được quá mà lại có chồng, còn con em thì còn nhỏ.
- Ai biểu ở Hà Nội mày cứ chê người ta, rồi vô đây than thở !
Nhằm lúc trở trời lạnh thấu xương. Cái lạnh thiên nhiên không đáng sợ bằng cái lạnh tự trong lòng. Tôi nhớ vợ nhớ con, còn Nhã thì nhớ Hà Nội. Bây giờ mới thấy thèm miếng thịt chó mua ở Hàng Bè đem về nhà khìa lại bằng một hào nước mía, mới thấy thèm ly nước mía đơn sơ ở vỉa hè Hà Nội, thèm tô phở vô duyên của Mậu Dịch Tràng Tiền.
Dưỡng sức được vài tuần với cá mắm vô cùng phong phú tôi muốn trở về cơ quan để xin đi rước vợ con lên. Bỗng một hôm Bích Lâm ra Ché Phèn cùng với một anh chàng tên là Sáu Vinh. Vinh là cán bộ thông tin của Huỳnh Văn Tiếng hồi chín năm. Làm thơ xoàng nhưng lập trường thuộc loại siêu. Anh ta có cái tên là Phương Viễn, bây giờ đổi lại là Viễn Phương. Trước đây làm cán bộ văn nghệ của Trần Bạch Đằng không hiểu lên R để trui lại lập trường hay làm gì.
Bích Lâm và hắn đến thăm tôi. Chỗ tình quen biết từ Hà Nội với Bích Lâm, nên trong lúc uống trà, tôi có buông một câu than thở:
Cờ bạc gì mà từ thắng tới thua, từ thua ít đen thua trụm. Vậy mà cũng chưa chịu thôi. (ý tôi nói là cuộc chiến tranh của Hà Nội gây ra đã thua sạch trong Mậu Thân).
Sáu Vinh hiểu và kên lập trường chỉnh tôi ngay. Tôi không nhịn tiếng nào mà còn trả đũa kịch liệt và không thèm nói úp mở nữa.
Cuộc cãi vã có tiếng vang đến Trần Bạch Đằng. Ông ta bèn phái Run Bảo Việt – một nhà thơ coi Tố Hữu như tổ sư, từng làm phó ban tuyên huấn Miền Tây và là xếp cũ của tôi – đến để tốp bớt tôi lại.
Tôi nói chuyện với anh rất thẳng thắn. Đã đến nước này rồi, còn ngậm miệng mãi sao? Cuối cùng anh mua cá bông nấu cháo đãi chúng tôi để gọi là hòa giải.
Tôi dưỡng bịnh được hai tuần lễ rồi trở lại cơ quan xin với Ba Thanh Nha“đi rước vợ con lên để ở luôn trong rừng“.
Ba Thanh Nha cười, nói nửa chơi nửa thiệt:
- Đi rồi về đừng có đi luôn nghe mậy?
Tôi đáp lại:
- Giỡn hoài anh. Nếu tôi đi thì tôi đi lúc ở Bến Tre rồi.
Không ai nghĩ là tôi đi. Vì đúng như tôi nói: Nếu đi thì đã đi rồi! Ba Nha kêu quản lý cấp cho tôi sinh hoạt phí, công tác phí. Tôi đi chợ Ché Phèn ra các tiệm thợ bạc mua vàng lá lận lưng, chuẩn bị dông.
Cùng đi móc gia đình với tôi trong chuyến này có họa sĩ Thái Bình và vợ chưa cưới của anh là cô Thắm. Hai người đi móc gia đình để xin tiền làm đám cưới. Ngoài ra còn có cô Hoa quê ở vùng ven sông Cửu Long. Nhưng sau cùng cô Hoa bị giữ lại với lý do gì không rõ.
Nữ sĩ Băng Tâm có nhờ tôi đưa thơ cho gia đình cũng ở vùng đó . Tôi chỉ có khái niệm lơ mơ trên bản đồ chớ chưa đến đấy bao giờ.
Khi ra tới một thị trấn gần đó tôi và vợ chồng Thái Bình ăn chung một bữa cơm khá ngon miệng. Bỗng nhiên tôi nghĩ:
- Hay là cơ quan cho chúng nó đi theo dõi mình?
Tôi sực nhớ vụ Hai Nghi ở An Định năm trước đi quay phim Binh Biến Bình Dương, và tôi nghĩ ra mưu kế. Sáng hôm sau khi giao liên đến dắt đường thì tôi bảo là tôi đang lên cơn sốt.
Vợ chồng Thái Bình đi trước. Chờ họ đi xa tôi cuốn đồ và tìm đường khác. Cảnh giác là hơn. Nếu đi theo đường giao liên, cơ quan có thể cho người hỏa tốc theo bắt lại.
Mà đúng nhừ tôi linh tính. Khi tôi làm Phó Giám Đốc Trung Tâm Chiêu Hồi Trung Ương, một hôm tôi nhận được tin một số đông văn nghệ sĩ của Văn Công R hồi chánh đã đến Sài Gòn. Số anh em này cho tôi biết ngay:
- Anh đi hôm trước, hôm sau An Ninh R sang tiểu ban Văn Nghệ và tức khắc cho người đuổi theo.
Tôi tách khỏi giao liên và đi đường tự do. Trên các nẻo đường trên xứ này dập dìu cán bộ Việt Cộng. Tôi cứ lẩn vào đó mà đi đâu có ai biết tôi.
Tôi lội bộ suốt ba ngày, toàn ở đậu nhà dân Miên. May nhờ rủi chịu. Phen này không đi được thì chỉ có chết. Đường xa, lạ và gai góc lắm bạn đời ơi ! Cuối cùng tôi mò ra được nhà của cô Hoa nhưng chỉ hỏi thăm vài câu rồi đi chớ không dám ở vì sợ cơ quan theo dấu. Nhờ đó mà tôi tìm được một bà má chuyên môn đi móc gia đình cho cán bộ.
Tôi đến nhờ, nhưng rồi cũng không quyết định gì hết. Tôi lảng sang chỗ khác với tâm trạng luôn luôn có cặp mắt
theo dõi mình. Rủi thay tôi lại đụng đầu một anh chàng tên là Xuân, vốn quen từ trong kháng chiến chín năm. Hắn làm công tác tiếp vận ở đây. Hắn cũng như tôi tại sao tôi sợ? Tôi vừa nhận ra hắn thì lánh mặt ngay và bỏ đi chỗ khác. Quả thật có tịch thì hay nhúc nhích.
Tôi bèn cặp tàu với một anh lính trẻ người Bắc mang AK. Tôi kên K54 vô cho có vẻ là cán lớn có gạc-đờ-co đi theo. Tôi chiếm được cảm tình của hắn bằng cách mua thức ăn cho hắn dùng thỏa thuê. Tôi hơi vững bụng trong mấy ngày đi chung với hắn. Chúng tôi đến ở đậu một ngôi nhà ở gần bờ sông. Đêm ngày ghe thuyền tấp nập từ Hồng Ngự ra đây. Đó là con buôn bạc Việt Nam và bạc Miên. Mỗi ngày đồng Ria đều lên xuống theo đồng bạc Việt Nam. Tôi sẵn một ít Ria trong túi. Thừa lúc cậu lính đi vắng tôi đem ra bán lấy tiền Việt Nam.
Hôm sau cậu lính tách rời tôi. Tôi lại sợ cậu ta là kẻ được phái đi theo dõi tôi, nên tôi lẫn vô rừng ở ngay sau nhà. Định bụng nếu bị truy nã thì liều chết với khẩu K54.
Lúc bấy giờ Sư Đoàn 9 đang vượt biên truy kích Việt Cộng sau Tết Mậu Thân. Xe tăng chạy rầm rầm tối ngày. Tàu lúc nào cũng làm mặt sông Cửu Long dậy sóng. Còn máy bay thì bay lượn như mắc cửi trên trời.
Có đêm tôi đang ngủ, một anh lính giở mùng tôi thò đầu vào. Tôi thấy rõ cái nón sắt. Anh ta nói nửa chơi nửa thiệt:
- Dân hay Việt Cộng đây cha? – Rồi bỏ đi.
Một bữa trưa tôi ra ngồi ở bờ sông Cửu Long, thấy “tác rán” (một loại đò dọc) chạy qua chạy lại, tôi đưa tay ngoắc.
Ngoắc mãi không chiếc nào cặp bờ. Tôi biết là chúng đã chở đầy khách nên không định đi bằng “tác rán” nữa mà
tìm ghe buôn quá giang.
Thời may tôi gặp một chiếc ghe chở gạo và khô đi ra Hồng Ngự. Tôi xin quá giang tay không vì súng ống và ba-lô tôi đã chôn lại trong rừng. Tôi xin trả tiền, ngoài ra còn giúp họ chèo mũi. Chủ ghe đồng ý. Tôi nhảy xuống ngay. Đó là cái nhảy quyết định cuộc đời tôi, một cái nhảy nhỏ từ trên bờ xuống ghe, từ Bên Ni sang Bên Tê.
Chiều hôm đó tôi ra tới chợ Hồng Ngự. Tôi đến bến xe ngay. Còn chuyến chót không biết đi đâu, mặc kệ, tôi cứ phóng lên. Đi cho xa, càng xa cái ổ quỉ càng tốt. Sẵn cái thẻ bọc nhựa của ông Cò Khu IV cấp cho ở rừng Thạnh Phong và một số bạc Việt Nam trong lưng, mấy thoi vàng trong lai quần, còn lo gì nữa? Nếu bị cảnh sát xét thì càng hay.
Xe đổ lại tôi bước xuống, không biết là đâu. Ngó thấy tượng đức Huỳnh Giáo Chủ thì chắc là Long Xuyên hay Châu Đốc. Mặc kệ, đâu cũng được. Tôi vô tiệm nước chén một bữa tẩy trần, no nê sảng khoái. Thấy mình sống hoàn toàn. Tôi đi đến khách sạn ở bến xe thuê ngay một phòng, chìa thẻ bọc nhựa ra cho chủ tiệm ghi tên tuổi một cách rất đàng hoàng. Tôi bây giờ là dân Miền Nam. Tôi là Tôi. Tôi thuộc về Tôi, thuộc về vợ con Tôi, không thuộc ai khác cả.
Sáng sớm tôi ra bến xe mua vé . Định về Sài Gòn. Nhưng tôi nhớ con nên về Mỹ Tho trước đã . Mỹ Tho tôi từng quen thuở nhỏ, lo gì lạc đường. Rồi từ Mỹ Tho tôi đi về Bến Tre. Bến Tre tôi càng thân thuộc. Xuống xe ở Ngã Ba Ống Quần, hồi trước gọi là Ngã Ba Tháp nơi tôi từng qua lại hằng ngày khi tôi học trường Tư Thục Trung Châu. Bến Tre bây giờ trông như nhỏ lại mà cũng như lớn ra. Tôi vẫn còn thấy cái giếng nước bên cạnh trường và những cây dầu cao vút đứng đó. Chúng như vẫn không quên tôi.
Tôi đi thẳng đến nhà mợ Tám tôi và bảo thằng em tôi đi lên Sài Gòn đưa thơ của tôi cho Bộ Chiêu Hồi.
Ngay đêm hôm đó Trung Tá Thiên, Giám Đốc Nha Công Tác đến tận nhà với thằng em tôi ngồi trên xe. Ông đem tôi ra khách sạn ở bờ sông, cái khách sạn mà tôi từng ở khi tía tôi dắt tôi lên tỉnh thi Sơ học. Thì ra từ trước tới giờ người ta vẫn làm ăn, làm giàu, chỉ có mình tôi đi mần cách mạng! ! Ngộ thiệt!
Sáng hôm sau tôi lên đến Sài Gòn. Chiều hôm đó bác sĩ Hồ Văn Châm tiếp tôi.
Đến đây tôi xin viết đôi dòng suy tư. Khi tôi đặt chân ra Hồng Ngự tôi định bụng sẽ về ở với vợ con an hưởng thú gia đình. Chán chê mọi sự đời. Sống cuộc đời tai ngơ mắt lấp không theo quốc gia mà cũng quên luôn quãng đời qua của mình. Hàng thần lơ láo phận mình ra chi.
Nhưng khi nói chuyện với bác sĩ Hồ Văn Châm thì tôi rất đỗi ngạc nhiên về thái độ cư xử, về kiến thức và về tình cảm của người quốc gia đối với tổ quốc, dân tộc và giống nòi, hơn nữa đối với người Cộng Sản. Té ra mấy chục năm nay, Cộng Sản nghĩ sai về người quốc gia và rất phiến diện với tổ quốc. Họ cho chỉ họ là đúng còn ngoài ra ai cũng sai. Ngược lại, họ sai hoàn toàn trong mọi lãnh vực.
Tôi đã từng gặp nhóm người chống đối ông Diệm là Tôn Thất Dương Kỵ và mấy người nữa ra Hà Nội đi thất thểu ở phố Tràng Tiền. Tôi đã nghĩ một cách hồn nhiên như một phản ứng bản năng:
- Tao muốn về Sài Gòn mà không được, còn tụi bây đang ở Sài Gòn lại lủi ra đây!?
Chắc họ đã sáng mắt từ lâu!
Nói chuyện xong, bác sĩ Hồ Văn Châm gọi ông Giám Đốc Trung Tâm Chiêu Hồi Trung Ương là anh Phạm Thành Tài sang rước tôi về bên đó. Anh Tài là phụ giảng đại học Văn Khoa Hà Nội được chọn đi học Liên Xô để lấy bằng Phó Tiến Sĩ nhưng anh xin về Nam, để giải phóng Miền Nam? Về tới nơi anh ra hồi chánh ngay trước tôi vài tháng.
Anh Tài chở tôi ra chợ Sài Gòn chơi một vòng ăn phở, uống cà phê rồi về Trung Tâm.
Hôm sau Bộ Chiêu Hồi, theo lời yêu cầu của tôi, cho xe về tận quận Hương Mỹ đón gia đình tôi lên Sài Gòn. Tôi lên Ti Vi, lên đài Sài Gòn, đài quân đội, tôi cộng tác ngay với các đài Tự Do, Mật Đắng Gươm Thiêng, Mẹ Việt Nam, viết báo Tiền Tuyến, đủ cả… bất cứ nơi nào mời, tôi chỉ nói một sự thực : Xã hội chủ nghĩa không có tự do! Không thể sống được, đừng nói chi sáng tác!
Tôi gặp lại vợ con tôi lần đầu tiên sau hơn hai năm xa cách. Con tôi đã biết đi lẩm đẩm.
Đài Hà Nội và báo Văn Học của Hoài Thanh bắt đầu chửi tôi là tên phản bội đầu hàng.
Vài hôm sau Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo mời tôi sang làm việc. Thẩm vấn tôi là một người Bắc chạy bỏ Cộng Sản năm 1954. Anh làm việc với tôi tỉ mỉ vô cùng:
- Anh tên là Bùi Quang Triết?
- Vâng.
- Bút danh Xuân Vũ?
- Vâng.
- Còn bút danh gì khác?
- Khi tôi về Nam, đổi Xuân Vũ ra Bùi Xuân.
- Anh là nhà văn ?
- Vâng.
Anh ta cười dễ dãi:
- Hỏi anh chơi cho “dzui” chớ chúng tôi biết hết cả. Sở dĩ chúng tôi hỏi kỹ vậy là vì sợ có người giả mạo dùng danh nghĩa của anh.
- Không sao cả, anh cứ hỏi.
Anh ta hỏi, vặn, ngoặc đi ngoặc lại một tháng mười bảy ngày về cả trăm chuyện, chuyện văn nghệ sĩ Hà Nội từ Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyên Hồng đến Trần Dần, Phùng Quán y như là anh ta có quen biết họ vậy.
Tôi cứ như tôi biết mà trả lời về từng người một, không thêm bớt gì cả . Trong thời gian thẩm vấn anh ta thỉnh thoảng mời tôi uống cà phê hoặc bia. Tôi cũng mời lại đáp lễ vài lần. Tôi được cho ở riêng một phòng, cơm bưng nước rót, tới giờ lên phòng làm việc, xong lại về. Sách báo vô số, muốn đọc thứ gì của Sài Gòn cũng có.
Một bữa, anh nói:
- Vụ anh lên ủy Ban Quốc Tế hồi 1956 ở Hà Nội vui chớ nhỉ !
Tôi giật mình, chưa kịp đáp ứng ra sao thì anh lấy một tờ báo đưa cho tôi và bảo:
- Hồi đó báo Sài Gòn đã nói tới anh rồi. Sao Hà Nội còn tin anh mà cho về Nam?
- Từ đó trở đi tôi phục xuống làm việc để lấy lại lòng tin của họ.
Anh lại hỏi vặn lần nữa
- Anh nói anh là nhà văn?
- Vâng.
- Nếu thật anh là nhà văn thì xin phiền anh tí nữa nhé !
- Vâng, anh cứ tự nhiên.
Anh ta cười:
- Anh nói tiếng Bắc khá lắm. Anh vui lòng viết ngay cho chúng tôi một đoạn văn. Bất cứ về chuyện gì cũng được.
Tôi cầm bút viết ngay những tình cảm của tôi khi trở lại thành phố Bến Tre quê hương của tôi và đưa cho anh ta.
Anh ta xem xong rồi bảo:
- Hay lắm! tình cảm rất sâu đậm và chân thật.
Hôm sau anh ta hỏi tôi:
- Anh nói anh có quen nhiều văn nghệ sĩ ở Hà Nội phải không?
- Vâng.
- Để tôi dắt anh gặp một người xem anh còn nhớ không nhé !
Rồi anh ta dắt tôi ra một gian phòng rộng có cắm một rừng cờ của nhiều nước, tôi nhận ra là cờ Đài Loan, Đại Hàn, Pháp, Anh, Mỹ…
- Mời anh ngồi.
Bỗng từ bên ngoài bước vào một anh chàng to lớn vận âu phục thắt cà vạt hẳn hoi. Tôi giật mình kêu to:
- Lê An !
- Xuân Vũ !
Chúng tôi ôm choàng nhau. Tôi hỏi.
- Sao mày ở đây?
- Còn mày sao mày cũng ở đây?
Chúng tôi lại ôm nhau.
Trong một thoáng trong trí tôi hiện lên cái ga-ra tồi tàn ở hẻm 84 Lý Thường Kiệt của tôi. Hắn là nhạc sĩ vĩ cầm trẻ số một được chọn đi học Liên Xô . Hắn mộng trở thành Ostrak, tay vĩ cầm số một Liên Xô . Hắn thường mang những bài báo tiếng Pháp nói về Ostrak đến cho tôi đọc và nói:
- Có chí thì nên.
Sang Liên Xô, hắn gởi thơ về xin tôi nước mắm. Được vài năm thì bặt tin. Bây giờ lại gặp ở đây. Tôi hỏi.
- Mày đi đường nào?
- Hòa Lan!
- Bây giờ làm gì?
- Dạy violon ở Trường Quốc Gia âm Nhạc.
- Suýt nữa tao nhìn không ra.
- Tao nặng gấp đôi hồi ở Hà Nội. Thằng Thanh Cao Thanh Sử đâu?
- Còn ở đoàn Văn Công F330.
- Hoàng Việt đâu?
- Chết rồi !
Hắn thét lên.
- Chết ở đâu?
- Trên đường về quê để làm bản Giao Hưởng Quê Hương II.
- Tao có thư cho ảnh lúc ảnh sang Bungari.
- Ảnh sắp có thêm thằng con trai thì chết.
- Trời !
- Ảnh đã đặt tên con trước khi còn ở trên Trường Sơn với tao là Lê Tương Phùng. Chẳng ngờ Lê Tương Phùng ra đời lại không biết mặt cha, thành ra Lê Bất Phùng.
Cuộc gặp lại Lê An kết thúc. Vị thẩm vấn viên của tôi rất hài lòng:
- Anh đúng là Xuân Vũ rồi!
Tôi tưởng đã xong. Chẳng ngờ sáng hôm sau tôi lại được mời làm việc với một anh Mỹ trẻ khô. Anh này nói tiếng Việt Nam rất rành. Anh ta dùng máy móc cặp vào khắp người tôi, hai đùi, hai tay, ngực, bụng và hỏi cả trăm câu. Hỏi xong cho tôi nghỉ một lát rồi lại hỏi. Nhiều câu lặp đi lặp lại ba bốn lần. Anh ta nói bằng tiếng Việt khá rành:
- Đây là máy nói thật, nếu anh nói dối thì tôi biết ngay.
Tôi cười:
- Máy của ông nói dối thì có chớ tôi thì không!
- Ông là Bùi Xuân?
- Vâng.
- Còn Xuân Vũ là ai?
- Cũng là tôi.
- Ông còn tên gì khác không?
- Không.
- Tờ Văn Nghệ Giải Phóng của ai xuất bản?
- Của Hội Văn Nghệ Giải Phóng.
- Ông Tư Trang là gì của cái Hội này?
- Chủ tịch.
- Ổng còn sống?
- Chết rồi.
- Nếu tôi có tờ báo của Hội Văn Nghệ Giải Phóng thì đó là tờ báo tên gì?
- Văn Nghệ Giải Phóng.
- Ông Tư Trang còn sống?
- Chết rồi.
Hắn cứ loanh quanh tới lui ngoắc ngoéo như thế cả mấy tiếng đồng hồ. Tôi nghĩ thầm: Dùng thứ máy này mà điều tra Việt Cộng thì hỏng bét.
Hôm sau vị thẩm vấn viên Việt Nam của tôi đưa cho tôi một công văn bổ nhiệm tôi làm Giám Đốc Trung Tâm Chiêu Hồi Trung ương. Tôi hoảng hốt:
- Tôi không làm được chức này.
- Anh cứ nhận đi. Mọi việc của anh đã rõ cả rồi. Anh là bạn của chúng tôi. Bộ Chiêu Hồi đã bổ nhiệm anh.
Hôm đó anh thết tôi tiệc bia uống từ chín giờ tối đến ba giờ khuya “để mừng anh trở về với chánh nghĩa quốc gia”.
Anh ta nói:
- Bây giờ chức anh cao hơn tôi. Ra đường có gặp xin nhớ nhau nhé !
Bác sĩ Hồ Văn Châm gởi cho tôi một trăm ngàn đồng. Tôi mua tất cả món ngon vật lạ trong quán ăn của Phủ Đặc Ủy thết toàn bộ ban thẩm vấn coi như đó là buổi tiệc tự mừng tôi, mừng cho gia đình tôi gặp lại tôi. Anh bạn thẩm vấn chở tôi đi ăn thịt chó, thịt bò bảy món, v.v…
- Ông có vợ chưa? Nếu chưa tôi gả em vợ tôi cho.
Đó là một người quốc gia, một kiểu người không thù hận, không cố chấp, rất là người – người Hà Nội, người Việt Nam. Hôm sau anh ta đem tôi về nhà thết tiệc lần nữa. Không biết bây giờ anh ở đâu? Sống hay chết sau 75?
Tôi được đưa về Trung Tâm Chiêu Hồi Trung Ương và đưa đi yết kiến bác sĩ Hồ Văn Châm. Bác sĩ nói ngay:
- Anh Phạm Thành Tài có vợ tư sản giàu quá , nên ảnh không chịu làm Giám Đốc Trung Tâm, ảnh cứ xin thôi hoài. Tôi bổ nhiệm anh thay cho anh Tài.
Tôi nói ngay:
- Xin bác sĩ thương đùm tôi. Tôi không làm gì được ngoài việc viết văn. Tôi thành thật xin bác sĩ đừng cho tôi chức vụ gì hết.
Bác sĩ gật gù:
- Thôi được, để tôi yêu cầu anh Tài giúp tôi một thời gian nữa. Còn anh thì nên làm Phó cho anh Tài. Dù anh không quen việc hành chánh nhưng anh cần người sai bảo cũng như cần phương tiện để viết văn.
Thế là tôi về làm Phó cho anh Phạm Thành Tài.
Anh Tài cho tôi hai phòng lầu, một phòng riêng. Một đống pelure một bó viết Bic.
- Anh muốn viết gì viết. Cần đi đâu có xe sẵn. Cần sai gì có cần vụ!
Rồi anh ký ngay một công lệnh cho tôi một cần vụ.
Tôi bắt đầu viết “Đường Đi Không Đến “, ngồi viết như trong mơ. Vừa qua cơn hoảng hốt, vượt chết, hoàn hồn.
1968-1993. Một phần tư thế kỷ qua tôi viết xong bộ hồi ký của tôi để cống hiến cho bà con. Đây là quyển chót. Viết ở Hoa Kỳ .
Biết bao gian lao chết chóc biết bao dằn vặt suy tư. Và cuối cùng tôi đã quyết định. Nếu chần chờ thì mất cơ hội, bây giờ chưa biết tôi ra sao? Chết? Tuyệt tự? Bất mãn? Chửi bới Cộng Sản trong cái lồng sắt của chúng? Và bị tù, bị cấm viết? Không biết cái nào!
Tôi đã làm một việc táo bạo nhưng đúng đắn hoàn toàn: Dù mang nỗi hận lưu vong mất nước tôi vẫn không ân hận. Ngược lại nếu tôi còn ở với Cộng Sản thì giờ này tôi ân hận vô cùng, và tự trách mình hèn nhát.
Hai mươi lăm năm trước tôi khởi đầu bộ hồi ký bằng cái tên “Đường Đi Không Đến”. Bây giờ tôi kết thúc nó bằng đoạn “Đường Đi Đã Đến”. Đến thật rồi. Vì đã đám đi.
XUÂN VŨ
Hoa Kỳ 19-9-1993


1      2      3      4   



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét