Thứ Hai, ngày 10 tháng 6 năm 2013

HỒI KÝ NHỮNG NGƯỜI TÙ CUỐI CÙNG CỦA PHẠM GIA ĐẠI - KỲ 4

1      2      3      4      5      6      7
Thiên Hồi Ký về "Những Người Tù Cuối Cùng" nhằm nói lên tinh thần bất khuất, sức chịu đựng phi thường cùng lòng dũng cảm và sự tương thân tương ái của những quân dân cán chính VNCH đã bị giam giữ, lưu đầy trong các trại gọi là "Tập Trung Cải Tạo" của Cộng Sản sau khi miền Nam sụp đổ vào ngày 30-4-1975.

Thiên Hồi Ký cũng để nêu lên những sự diệu kỳ và linh thiêng của Ơn Trên, của Trời Phật của Mẹ Việt Nam đã che chở cho những người tù....trong nhà tù CS.

Đọc xong thiên Hồi Ký này, chúng ta sẽ thấy những sự tuyên truyền xuyên tạc của Cộng sản nhắm vào chế độ VNCH đã từ từ tan rã như bọt nước; và những sự trả thù tàn bạo của Cộng Sản dành cho những người tù chế độ cũ đã không thành công như ý chúng muốn và thế cờ đã được lật ngược như thế nào.
Phần XV: Đoạn Kết Một Chuyện Tình
  
Khoảng hai tuần lễ sau khi Phượng đến thăm tôi hôm ấy thì tôi nhận được bức thư nàng gửi vào. Đây là bức thư thứ hai mà tôi nhận được qua ngã thăm nuôi nhờ các chị đem dùm.

Nàng viết cho tôi nhiều thư và thường khi đến thăm thì Phượng đưa luôn cho tôi đọc cho tiện việc sổ sách, chỉ có hai lần đặc biệt này là nàng gửi đi mà thôi.Tôi còn nhớ rất rõ bức thứ thứ nhất đã làm cho tôi vừa cảm động vừa biết ơn nàng đã cho tôi hay nhiều tin tức bên ngoài.

Lá thư đó viết trên hơn hai trang giấy học trò, trong thư có đoạn:

"Sàigòn ngày...tháng...

 Anh yêu,

Chữ em không được đẹp anh ráng đọc nghe. Em về đến Sàigòn là lao vào kiếm tiền nhưng vẫn luôn nhớ anh. Tối nay nằm viết thư cho anh bên ngọn đèn dầu vì khu vực Quận Tám của em trong kế hoạch cúp điện.

Thời gian ở bên anh tuy ngắn ngủi nhưng để lại trong em một tình cảm khó mà quên được có thể rằng vì anh và em đồng cảnh ngộ là những người đang cô đơn và thiếu tình yêu.

Khi mới gập anh nghe anh nói người vợ không còn đến thăm anh nữa thì trong lòng em tự dưng bồi hồi thương cảm và bỗng dưng muốn thay thế người ấy để đem lại cho anh niềm vui không biết có được không.

Những trường hợp như anh nhiều lắm, anh đừng buồn vì không phải chỉ rơi vào mình anh. Em nghĩ rằng những gì thiệt thòi nhất vẫn là những người như anh, sau cuộc chiến còn ở lại và phải vào trong tù chịu bao nhiêu là tủi nhục mà gia đình còn tan vỡ.

Bên ngoài thiên hạ vẫn sống, có người còn nhớ đến các anh nhưng có lẽ nhiều nhất vẫn là gia đình.

Vũ trường bây giờ được phép mở cửa và những người có tiền, đa số là của chế độ mới này thì bắt đầu ăn chơi thâu đêm suốt sáng.

Hôm nọ, các bạn em tình cờ rủ nên em có vào một vũ trường tại đây và em theo họ vào đây cho biết. Có nhiều người mời nhưng em không nhẩy bản nào cả vì em đang nghĩ đến anh, đến hai cảnh đời trái ngược.

Thật vô lý quá khi em thì ngồi ở đây thảnh thơi ấm cúng trong ánh đèn mầu mờ mờ bên cạnh những người chỉ biết một chữ là ăn chơi nhẩy nhót trong khi anh và các bạn anh, những người tù cuối cùng, thì vẫn còn đang phải lao động khổ sai trong trại giam sau mười lăm năm rồi. Niềm vui cho các anh chỉ là những giờ phút bên nhau đùa vui hút điếu thuốc dưới gốc cây Buông hay chờ gia đình lên thăm? Lúc nghĩ tới điều phi lý này, em không cầm được nước mắt nhưng dấu không cho bạn em thấy.

Anh ráng giữ sức khoe nha, em sẽ lên thăm anh ngày gần đây.

Thôi em đi ngủ

Hôn anh / Em của anh/ Phượng"

Tôi tần ngần nhìn lá thư mới nhận. Chắc phải có chuyện gì cần thiết lắm thì nàng mới lại biên thư để gửi các chị cầm tay chuyển cho tôi. Tôi xé góc phong bì ra và những dòng chữ như nhẩy múa trước mắt:

 "Sàigòn ngày...tháng...
    
 Anh yêu,

Khi anh nhận lá thư này thì có nghĩa là em sẽ không thể lên thăm anh được nữa. Anh có nhớ lá thư anh giới thiệu em về gia đình để cho em có thể thay cho gia đình lên thăm anh không?

Em có đến thăm thì Mẹ anh và hai người em út của anh vừa được đi đoàn tụ theo ODP sau 11 năm chờ đợi nhờ người anh HQ Thiếu Tá của anh bảo lãnh. Em có gập người anh thứ hai của anh và các em gái của anh đưa lá thư này thì anh ấy nói để gia đình bàn tính lại và sẽ liên lạc với em sau.

Một tuần lễ sau thì em được thư của người anh của anh nói là cám ơn em nhưng gia đình vẫn muốn đảm trách công việc thăm nuôi cho anh.

Em viết vài hàng vì hôm lên thăm anh lần cuối nhìn anh em nghẹn lời không nói được.

Sàigòn thay đổi nhiều và lòng người cũng nhiều thay đổi nhưng bây giờ người dân mới biết cái giá trị của cuộc sống cũ như thế nào sau bao năm dưới chế độ mới này.

Anh ráng giữ gìn sức khỏe vì em tin rằng ngày anh về trong niềm vui rộn ràng sẽ không còn xa.

Em của anh/ Hôn anh/ Phượng"

Tôi là con người mảnh khảnh sức khỏe không nhiều nhưng sức mạnh về tinh thần rất vững vàng nhất là sau khi sống với thầy Tâm đã dậy dỗ tôi cả năm năm trời bao nhiêu về đạo Phật cho nên tôi ít khi để cho cảnh trí bên ngoài tác động đến mình nhưng khi đọc xong lá thư của Phượng tôi thấy như sự vững vàng ấy đang lung lay và trời đất như thể quay cuồng.

Một sự thật mà không bao giờ tôi nghĩ đến là gia đình nhất là ông anh thứ hai lại can thiệp vào chuyện tình cảm của tôi. Ông ấy cũng đã từng đi tù ba năm dù không nhiều nhưng cũng phải hiểu là tình cảm trong tù cần thế nào chứ một khi người vợ đã bỏ ra đi?

Tôi không muốn Phượng vì lòng thương tôi mỗi lần lên lại tốn kém một ít cho nên mới giới thiệu nàng về gia đình.

Không ngờ! Quả thật trong đời không bao giờ chúng ta học được chữ ngờ. Một sự thật quá phũ phàng đến với tôi và tội nghiệp cho Phượng nữa.

Trong bao nhiêu năm qua gia đình là nguồn sống chính về thăm nuôi cho tôi nhưng nay nếu có thêm Phượng thì càng đỡ cho gia đình chứ nhất là khi mà đại gia đình tôi đang lần lượt ra đi theo chương trình đoàn tụ ODP.

Tại sao ông anh tôi lại không tán thành hay nghi ngờ gì thiện chí của Phượng thì tôi không thể hiểu được.

Mấy người bạn thân của tôi như Thụy, Trân, Nhơn, anh Hầu, bầu Ngọc, anh Hùng, đều đến hỏi thăm tôi nhưng tôi dấu lá thư đi và chỉ thuật lại vắn tắt những gì đã xẩy ra, và các bạn tôi thẩy đều nói là không đồng ý và rất bất mãn với sự quyết định can thiệp như vậy của ông anh thứ hai của tôi vào chuyện này.

Dầu sao tôi vẫn đang ở trong tù và đang phải nhờ vào gia đình nên không làm gì khác hơn là viết thư về lần nữa cho ông anh và các em để giải thích là tôi rất cần Phượng trong lúc này; và viết thư an ủi Phượng ráng chờ tôi giải tỏa vần đề hiểu lầm đó.

Những buổi chiều đi bộ trong sân trước cửa buồng, tôi thường hay trao đổi với các người bạn tù này để ngõ hầu tìm ra một phương thức nào cho ông anh này hiểu được nhưng vẫn chưa tìm ra được kế sách gì trong khi tôi thường là người sáng suốt và nhanh trí mà cũng chịu thua.

Một tháng sau, Phượng vẫn không thấy lên thăm tôi như mọi tháng trong khi đó thì vợ chồng em gái kế tôi lên để chào tôi vì đã qua được cuộc phỏng vấn của phái đoàn Mỹ trước khi hai vợ chồng lên máy bay qua Hoa Kỳ.

Lần nay lên thăm có hai đứa cháu gái con anh Cả tôi từ Bình Dương nữa. Cu Thắng nhỏ nhất thì ở nhà với Mẹ cháu, hai cháu Thoa và Thảo thì đến trại để chào tôi vì rất là may mắn vợ con của anh Cả tôi đã được phái đoàn Hoa Kỳ phỏng vấn chấp thuận cho đi theo "diện" H.O tỵ nạn dù là anh cả tôi đi tù về và mất tại nhà.

Ai cũng nói là anh Cả tôi linh thiêng nên phù hộ cho vợ con anh ra đi định cư thật là tốt đẹp.

Một vài gia đình bạn tôi rơi vào trường hợp tương tự là người cha được tha về một thời gian rồi mất ngoài trại giam cũng hỏi tôi để giúp cho họ, nhưng chính tôi cũng không hiểu sao vợ con anh Cả tôi lại đi theo chương trình H.O được nữa.

Hôm đó tôi được ở lại ngoài khu nhà tranh với vợ chồng cô em gái và mấy đứa cháu. Cậu em rể có dịp trổ tài nấu nướng một bữa nhưng tôi ăn không ngon miệng chút nào vì hình ảnh của Phượng cứ lởn vởn trong đầu tôi như một bài toán mà tôi chưa tìm ra lời giải đáp.

Tôi có hỏi tại sao gia đình lại cản trở việc Phượng đến thăm tôi thì hai vợ chồng đều nói tất cả là ý kiến ông anh thứ hai hết. Thế là lại đi vào bế tắc vì chả hiểu sao từ ngày tôi di chuyển vào Nam thì ông anh thứ hai này chưa hề đến trại thăm tôi lần nào.

Sau bữa ăn chiều thì tôi đi thả bộ với hai đứa cháu gái dọc theo con suối để qua thăm mấy anh bạn có vợ đến và cũng ở lại đêm đó.

Em tôi có đem theo cây đàn ghi ta nên tôi định rủ mấy vợ chồng bạn qua chơi làm văn nghệ bỏ túi cho đỡ buồn thì tình cờ tôi đi ngang qua chiếc ghế đá mà lần trước tôi và Phượng ngồi với nhau rât lâu lần cuối bên bờ suối này. Tôi bảo hai cháu dừng lại một chút rồi ngồi xuống chiếc ghế đá, hai đứa ngồi hai bên nắm lấy tay chú.

Tôi mường tượng như tiếng nói của Phượng như còn văng vẳng đâu đây, những sợi tóc lòa xòa bay qua vai tôi hôm nào, bất giác tôi buông tiếng thở dài. Hai đứa cháu nhìn tôi rồi nói:

-"Chú chắc cũng sắp được tha về rồi chú à! Chú đừng buồn nữa."

-"Cháu qua đó sẽ gửi nhiều ảnh đẹp về cho chú nha!"

Tôi nắm lấy hai tay hai đứa cháu đứng dậy cố gượng vui:

-"Ừ qua đó nhớ gửi hình về cho chú nhưng phải cố học cho thật giỏi nhe!"

Hai đứa cùng dạ và tung tăng chạy trước, tôi lững thững theo sau những bước chân vô hồn trên con đường tình của tôi và Phượng.

Phượng ơi! Em có biết giờ này anh đang nghĩ đến em không?

Bao giờ anh về thì anh sẽ ghé lại nhà thăm em ngay
Nhưng giờ này thì em đâu rồi? Để lại cho anh nhiều trống vắng và niềm thương nhớ khôn nguôi.

Các căn nhà tranh có người ở thì giờ đều đã lên đèn, một ánh sáng vàng vọt chiếu hắt ra con đường phía trước.
Bên kia chiếc cầu là căng tin nơi tôi và Phượng đã nhiều lần ngồi uống nước với nhau để chờ xe đò, xa hơn nữa là con đường lộ liên tỉnh chạy xuôi về Sàigòn nơi có người con gái tên Phượng mà tôi đang thầm thương nhớ.

Phần XVI:  Về Miền Nắng Ấm


(Lời Tác Giả: "Về miền nắng ấm" là bài viết bổ túc cho "Chuyến tầu xuôi phương Nam" cùng một tác giả trong hồi ký NNTCC nhằm vinh danh những người tù chính trị chế độ cũ trong tập trung "cải tạo".

Họ là những người trước kia từng đối mặt với quân thù ngoài trận tuyến và giờ đây vẫn phải chịu sự trừng phạt tàn khốc trong trại giam, đối đầu hàng ngày với kẻ thù, và nhiều người đã gục ngã trong âm thầm và lặng lẽ.")

Đoàn xe buýt chở tù vào đến ga Nam Định thì trời vừa tối và họ chỉ định cho chúng tôi một góc tường nhà ga làm nơi tạm thời nghỉ ngơi trước khi có lệnh lên tầu hỏa.
Chúng tôi người đứng dựa vào bức tường hay dựa vào nhau, không ai dám trải tờ báo ngồi xuống đất bởi chung quanh đó không có một chỗ nào tương đố sạch sẽ một chút, toàn những đất đen lẫn những miếng gạch vỡ và ẩm thấp.
Một vài người dân trong những bộ quần áo nghèo nàn ăn mặc thật giống nhau đi bộ gần đấy hay đạp xe vội qua nhìn chúng tôi có vẻ hơi thắc mắc bởi vì tụi tôi bấy giờ đều ăn mặc các bộ quần áo dân sự do gia đình gửi vào nhưng lại bị còng tay cứ hai người một cái còng số tám.

Quả thật tôi không thể ngờ rằng cuộc đời nhiều lúc đắng cay và nghịch lý như hoàn cảnh của tôi. 

Năm một chín sáu lăm, tôi là một học sinh Chu Văn An mang trong người mảnh bằng Tú Tài II với nhiều mộng ước vào đời, nhưng đúng mười năm sau đó là Định Mệnh đau thương khi miền Nam sụp đổ và tôi lại quay về đúng ngôi trường thân yêu ấy trong thân phận người tù chờ xe đến để chở vào trại tập trung "cải tạo".
Không gì đau lòng hơn hôm nay nữa khi tôi ghé lại nhà ga Nam Định, nơi chôn nhau cắt rốn của mình trong tư thế một tù nhân chuyển trại. Cứ ngỡ rằng nếu có một ngày nào về thăm quê hương Nam Định của tôi thì đó phải là một ngày trong vinh quang.
Khi trời đã về khuya, các gian hàng trong khu nhà ga đã lên từ lâu, thứ đèn bóng tròn hắt ra một thứ ánh sáng vàng vọt yếu ớt không đủ chiếu dù chỉ là một khoảng sân ga thì chúng tôi được lệnh lên tầu.
Từng hai người một bước lên con tầu cũng cũ kỹ như cái ga Nam Định, có lẽ đã nhiều chục năm vẫn mang một bộ mặt không thay đổi đó.
Bấy giờ là vào tháng Năm năm một chín tám tám, các tù nhân chính trị chế độ cũ còn bị giam giữ tại miền Bắc chỉ còn lại đúng chín mươi người trong số hàng trăm ngàn tù nhân bị di chuyển vội vã bằng mọi phương tiện từ Nam ra Bắc mười hai năm trước. Cộng với một tù hình sự nghe nói có người chú là Thiếu Tướng VC nên được ưu đãi cho vào Nam tiếp tục thụ án.
Chúng tôi chiếm hai toa đầu tiên và các cán bộ và cán binh đi áp tải thì một toa nữa thứ ba để ngăn cách chúng tôi với dân chúng hay những người buôn bán bị dồn xuống các toa tầu phía sau.
Cứ hai người ngồi một ghế băng bằng gỗ thì khá rộng rãi nhưng nếu nhét bốn người thì không lọt nên chúng tôi ngồi thành hai cặp đối điện nhau. 
Tôi và anh hai Hầu may mắn ngồi thuận theo hướng tầu chạy nên nhìn được nhiều cảnh vật bên ngoài. Cổ tay phải tôi khóa với tay trái anh Hầu cho nên tôi ngồi bên cạnh cửa sổ bên trái toa tầu và anh Hầu cạnh lối đi.

Tôi để cây đàn ghi ta và giỏ mây đựng các thứ cần thiết lên trên giá gỗ cho rộng chỗ và vừa ngồi xuống chưa bao lâu thì con tầu bắt đầu chuyển bánh một cách nặng nhọc rời nhà ga.

Gió bên ngoài thổi vào trong toa mát rượi như xua đi bao mệt nhọc trong ngày di chuyển từ trại Ba Sao Nam Hà đến đây và bây giờ đang ở trên con tầu xuôi về Nam. 

Quả thật đây là giấc mơ bất ngờ mà bao nhiêu năm nay chúng tôi chờ đợi vì ít ra nếu không được thả ra khỏi trại thì cho về Nam cũng dễ thở hơn, cũng như án tù của mình được giảm đi một phần rồi.

Chúng tôi đang xa rời dần xứ Bắc theo tiếng máy tầu xình xịch chạy trên đường ray làm tôi chợt nhớ đến anh Hiến, Đại Úy Biệt Động Quân tác giả bài hát "Chuyến Tầu Xuôi Phương Nam" mà tôi rất thích: 
"Chuyến tầu xuôi phương Nam, xin từ giã từng đoạn đường ... Mái trường Phan Chu Trinh em còn nhớ lời hẹn hò, bao giọng nói lời hỏi chào, dòng kỷ niệm quấn quít bên nhau...Mãi mãi vườn xưa xanh tươi, môi hồng thắm lại nụ cười, phố phường sống dậy tình người, Mẹ già ngồi bếp cũ năm xưa, qua một thời dĩ vãng thương đau..." 
Người tù và nhạc sĩ BĐQ tài hoa ấy vẫn mơ về một ngày mà đất Mẹ sẽ có lại được những nụ cười thương yêu, những khuôn mặt rạng rỡ, có lại được tình người nồng thắm trong một không gian đầm ấm của hạnh phúc ngày xưa, và tất cả những đau thương do chiến tranh và tù đầy đổ xuống quê hương tang tóc sẽ chỉ còn là dĩ vãng. 
Nhưng niềm mơ ước ấy đã không thể trở thành hiện thực vì những người tù vẫn còn bị giam giữ không có ngày tháng, người dân vẫn còn bị đọa đầy; và khi tôi nghe tin anh sau một thời gian thả về đi vượt biên đã bị mất tích.
Nếu đúng vậy thì anh đã có thể trở về cái ngày xưa ấy khi còn giòng máu nóng trong người và cầm súng trên tay cùng các đồng đội đi săn lùng diệt địch.
Anh hai Hầu ngồi bên cạnh tôi đã ngủ từ lúc nào, anh thật là hiền hậu vô tư và thật là dễ ngủ dù là trong tư thế ngồi và đôi khi xe chạy qua những quãng đường không được êm lắm. Tôi rất mến anh vì tính tình đôn hậu giản dị của người miền Nam nên coi anh như người anh và ăn chung với nhau kể từ ngày thầy Tâm, thầy tôi và các vị trong Nha Tuyên Úy được thả về. 
Anh thường nhìn tôi cười cười :
-"Mỗi lần anh nghe Đại thuyết trình về tin tức thời sự, về sự can thiệp của Mỹ và các hội đoàn cho anh em mình sớm được trả tự do thì anh lại lên tinh thần."
Tôi nhìn lối đi qua toa bên cạnh nơi chứa số còn lại của anh em tù nhân trong đó có các ông Tướng và nhớ đến những lúc tôi đánh liều vượt tường qua khu giam các Tướng để thuyết trình theo sự yêu cầu - vì sống trong đó các anh không có nhiều tin tức như tụi tôi ở ngoài này.

Hơn nữa, tin tức về các cuộc thương thuyết giữa Hoa Kỳ và Hà Nội để sớm thả các tù nhân này ra khỏi trại giam vẫn là những đề tài nóng bỏng nhất mà mọi người đều muốn biết vì tin tức ấy đã nhen nhóm lên trong chúng tôi một ánh lửa hy vọng.

Một điểm nữa là các tù nhân còn lại sau mười ba năm trong trại giam thì đa số đều thuộc các thành phần mà họ gọi là có nhiều "nợ máu với nhân dân và nguy hiểm cho chế độ" như tình báo, an ninh quân đội, cảnh sát đặc biệt và những thành phần này sẽ còn bị giữ trong các trại rất lâu, không có thời gian tính, nếu không có sự can thiệp từ bên ngoài từ phía chính quyền Mỹ và các hội đoàn tại hải ngoại.

Bởi vậy đó là lý do tại sao chúng tôi phải săn lùng các tin tức liên quan đến các tù nhân chính trị để biết chắc được rằng thế giới bên ngoài vẫn còn nhớ tới mình.
Anh Hầu đang ngủ gật gù và bỗng dưng chúi xuống đất, may mà tôi dùng tay trái chụp được vai của anh níu lại kịp lúc. Anh tỉnh dậy:
-"Chuyện gì đó Đại?"
-"Anh ngủ gục. Không được rồi tôi chẳng có thể ngồi canh anh như thế này suốt đêm được rất nguy hiểm. Bây giờ anh nằm xuống sàn tầu đi rồi gần sáng tôi đổi chỗ cho anh lên ghế nằm chứ ngủ ngồi không xong rồi."
Bên ngoài trời tối đen không còn nhìn thấy gì nữa vì tầu đang đi qua một vùng hoang vu không có người ở, không một ánh đèn, chỉ thấy những vì sao long lanh xa tít trên trời như cũng lấp lánh chung vui với chúng tôi trên chuyến tầu xuôi về Nam hôm nay.

Đây là đất nước mình đây ư! quê hương của mình đây ư! nhưng tại sao chúng tôi lại vẫn còn bị giam giữ và đầy đọa ngay trên quê hương mình khi cuộc chiến tranh khốc liệt, kéo dài hai thập niên với bao nhiêu triệu người chết, đã tàn rồi từ mười ba năm trước? 
Hầu hết các bạn tôi đều đang say ngủ và toa tầu thật yên lặng, thỉnh thoảng mới có một vài cán binh chạy lên xuống xem chừng chúng tôi mà thôi rồi lại trở về toa của họ.

Ánh đèn vàng nhỏ trên nóc toa tỏa ra một ánh sáng mờ mờ theo tiếng xình xịch của bánh xe lửa lại càng làm thêm buồn ngủ, nhưng không hiểu sao dù rất mệt mỏi nhưng tôi vẫn chưa ngủ được.

Có thể vì hôm nay là một cái ngày gì rất đặc biệt trong quãng đời tù tội của chúng tôi, những người tù cuối cùng đang rời xa dần đất Bắc.

Tất cả là chín mươi người, con số thật là bé nhỏ, những người trước kia từ các trại khác nhau trên miền Bắc về tụ hội tại Nam Hà, và bây giờ đây năm một chín tám tám, chín mười người còn lại ấy vẫn còn sống và đang ngồi trên chuyến tầu này xuôi Nam, sau mười ba năm giam cầm và lưu đầy.

Nếu nói đây là một sự thành công kỳ diệu của sức người đã vượt qua được những thử thách của thời gian thì phải cảm ơn Ông Trời đã sinh ra con người, tuy bằng xương bằng thịt nhưng trong gian nan nguy khốn, đã có được một sức chịu đựng bền bỉ ngoài sức tưởng tượng.

Những người tù cuối cùng này còn sống sót và còn minh mẫn, chính là nhờ vào sức chịu đựng phi thường của họ, chính là nhờ Ơn Trên vẫn che chở cho họ, và cũng chính nhờ gia đình trong đó người vợ với tấm lòng son sắt, đã không quản ngại khó nhọc đi thăm chồng suốt bao nhiêu năm trường.

Viễn ảnh đang trở về miền nắng ấm có lẽ cũng làm cho tôi thao thức không ngủ được chăng. Trên trời ông Trăng vừa ra khỏi được cụm mây để tỏa xuống trần gian một làn ánh sáng yếu ớt cho đêm bớt tăm tối.

Có thể một tương lai tốt đẹp hơn đang chờ chúng tôi trong miền Nam nhiều tình người hơn, gần gũi với gia đình hơn, và gần với Sàigòn hơn.

Hai chữ Sàigòn gây cho tôi một cảm giác xao xuyến mà đã bao nhiêu năm rồi tôi đã cố chôn chặt nó trong lòng để cố quên nó đi, nhất là những đêm Đông giá buốt, bởi vì mỗi khi nghĩ đến Sài gòn thì cả môt vùng trời kỷ niệm sống dậy và nó dằn vặt tôi trong nỗi nhớ khôn nguôi.

Hai chữ đó như nhắc nhở tôi về một thời gian có vẻ như xa xưa lắm rồi tôi đã có những năm tháng yên vui hạnh phúc bên những người thân yêu, bên Mẹ, anh em, bên vợ bên con, bên bạn bè, rồi bỗng dưng tất cả sụp đổ tan tành và thân tôi bỗng nhiên thành tù tội ngay trên quê hương mình.

Rồi tôi bắt đầu làm quen với lao động để “cải tạo” tại trại Long Thành và rồi đột ngột chuyển trại ra Miền Bắc trong một đêm không trăng sao và ở lại ngoài đó mười hai năm.

Cuối cùng thì giờ này tôi đang bỏ lại sau lưng cả một quãng đời tù đầy cơ cực trên xứ Bắc. 
Bỏ lại mười hai mùa Hè nóng như nung người, những đêm trong buồng giam ngộp thở hơi người, chúng tôi ngồi tại chỗ nằm chỉ mặc cái quần đùi mà mồ hôi nhỏ từng giọt cho đến khi mệt lả đi thì mới ngủ thiếp được.

Hoặc phải tìm ít nước thấm ướt cái mùng rồi chui vào ngay khi còn ít hơi mát để tìm giấc ngủ, khổ nhất lúc đó là phải chui vào trong mùng bởi không thể ngủ bên ngoài vì từng đàn muỗi sẽ đến hỏi thăm sức khỏe ngay. Ban ngày thì lao động khổ sai ban đêm thì chống chỏi từng giờ với cái nóng ghê gớm của mùa Hè.Cái nóng ghê gớm đến nỗi mà một anh bạn thân tôi là cò Lạt đã phải than rằng chỉ cầu Trời cho một cơn mưa chứ chẳng còn cầu ngày về nữa.
Bỏ lại sau lưng mười hai mùa Đông mưa phùn gió Bấc, những làn gió lạnh buốt như quất vào da thịt người tù như thấm vào tận xương tủy, nhiều lúc như không còn cảm giác ở hai bàn tay.

Những buổi sáng thức dậy khi trời còn đầy sương trắng đục, mây mù giăng mắc khắp núi rừng chung quanh, cảnh vật như mờ mờ ảo ảo có lẽ không phải trên trần thế, mà người tù vẫn phải thức dậy chuẩn bị cho một ngày lao động mới.

Nói về mùa Đông, tự dưng tôi nhớ đến một người tù trẻ tuổi cũng rất đặc biệt, anh chỉ là Thiếu Úy nhưng không hiểu sao cũng bị đưa ra Bắc trong tình trạng gần như đã mất trí nhớ.

Anh tự xưng là Nguyễn Huệ, ban đầu tôi tưởng tên anh là Huệ thật nhưng sau đó các bạn cho biết là anh tự nhận như vậy. Anh thường quanh quẩn trong trại, đúng ra loanh quanh trong buồng giam mà thôi, nhiều lúc nói những gì nghe không hiểu và lại mỉm cười một mình. Tôi đoán rằng anh đã trải qua một giai đoạn nào khủng khiếp lắm trong đời, có thể là sau khi bị bắt, bị tra tấn hay ngược đãi, hoặc vì tình cảnh gia đình nên đã mất trí luôn.

Có điều rất lạ lùng là trong mùa Đông xứ Bắc lạnh căm căm như vậy, ngay cả những ngày buốt giá vì nhiệt độ hạ thấp đột ngột bởi những đợt khí lạnh từ bên đất Tầu thổi xuống thì anh vẫn phong phanh bộ quần áo tù và để đầu trần mà vẫn bình thường. Có anh trong buồng thấy vậy bèn cho anh cái áo len để mặc nhưng cũng chỉ một hai ngày rồi lại thấy anh bỏ cái áo len đâu mất.

Như thế suốt mùa Đông mà anh không hề bệnh tật gì trong khi tôi mặc mấy lớp áo kể cả áo len và trên đầu còn trùm một cái mũ nỉ nữa mà vẫn thấy khí lạnh nó thấm vào tận da thịt.

Lúc đó tôi mới thấy cái kỳ diệu của cơ thể con người mà ông Trời đã cho chúng ta, có thể vì hệ thống thần kinh của anh đã bị tổn thương cho nên không còn cảm nhận được cái lạnh khủng khiếp đó của những ngày mùa Đông? Nhưng điều làm cho tôi ngạc nhiên là anh không hề bị bệnh tật gì hay tỏ ra giá lạnh vì ăn mặc như vậy suốt mấy tháng trời mùa Đông.

Có thời gian khi anh mua được một miếng thịt tươi, như các anh em khác thì nấu nướng lên rồi ăn nhưng anh lại đem chôn nó xuống đất. Tôi có hỏi anh là chôn để làm gì thì anh nói là để dành cho mùa Đông.

Một bác nữa ở cùng chung buồng giam với tôi, bác Hưởng cũng cùng đợt chuyển ra Bắc với anh Thiếu Úy tự xưng là "Nguyễn Huệ". Bác tuy lớn tuổi nhưng rất là tỉnh táo sáng suốt tuy rằng móm mém vì các răng cỏ đều rụng hết. Bác được anh em đều rất thương mến vì tính tình hòa nhã và hiền hậu, có anh gọi bác rất thân thương là Tía nữa.

Tôi còn nhớ rất rõ hình dáng còm cõi, da sạm nắng và cái lưng hơi gù cùng tướng đi còn nhanh nhẹn của bác. Bác Hưởng luôn vui cười với mọi người và hay kể những chuyện về miền quê hương của bác ở miệt Tiền Giang với đủ loại trái cây và các món ăn ngon ít nơi nào có được.

Tôi không có dịp về thăm Tiền Giang và Hậu Giang nên nghe bác kể một cách thích thú say mê, và đôi lúc cảm thấy hối hận vì trước kia chỉ biết lao vào làm việc mà quên cả đi thăm các thắng cảnh của quê hương mình nhưng bây giờ ân hận thì cũng đã muộn.

Giờ thì đã mất hết rồi và nếu có còn có dịp nào chăng nữa sau này mà đi du lịch thì những danh lam đó cũng không thể nào còn đẹp như xưa và cũng không còn cái không khí của ngày xưa nữa.

Có hôm nào hứng chí thì bác Hưởng lấy đôi đũa ra gõ nhịp nhịp rồi ngồi ca mấy câu vọng cổ, ca xong thì bác có vẻ hài lòng lắm và quay qua nhìn chúng tôi hỏi là tụi bay thấy tao ca có hay không rồi lại nhịp nhịp chiếc đũa.

Một buổi chiều Đông nhưng trời đã tối xuống rất nhanh, tôi thấy bác tự dưng chạy ra sân rồi la hét điên cuồng lên và chửi lung tung, than Trời xong lại trách Đất. Anh em vội kéo bác vào trong buồng nhưng bác vẫn nhìn ra ngoài cổng trại mà chửi cho đến khi khan cả tiếng không nói được nữa thì mới thôi.

Một vài ngày sau, buổi tôi bác đi ngủ như thường lệ nhưng sáng hôm sau thì bác đã không còn tỉnh dậy nữa.
Người tù đó đã tìm được sự bình yên nơi không còn thù hận, có thể bây giờ thì bác đã được thong dong trở về thăm miệt quê Tiền Giang yêu thương nhiều trái cây và thức ăn ngon của bác.

Một anh nghĩa quân nữa không hiểu mắc vào tội gì mà cũng bị đưa ra Bắc giam giữ. Anh rất hiền lành ít nói nhưng vài năm sau anh dần dần bị lãng trí và cũng ra đi bất ngờ trong một ngày đầu Đông không biết vì lý do gì.
Hay như anh Thiếu Tá Cảnh Sát nằm cạnh tôi một sáng ngủ dậy đang nằm nhai miếng bánh bột hấp bằng đầu ngón tay cái, là khẩu phần ăn cho người tù để sửa soạn lao động khổ sai trong bốn tiếng đồng hồ thì tự dưng miếng bánh vuột khỏi tay rơi xuống sàn nằm và anh đã ra đi nhẹ nhàng như một ngọn đèn hết dầu.

Anh bị bệnh phù thủng nặng hai chân đã sưng vù lên và được ở lại buồng một thời gian để nghỉ ngơi, nhưng vì thiếu dinh dưỡng và thuốc men nên bệnh trở nặng và sức cũng không còn, nên đã chết đi y như ngọn đèn cạn dầu từ từ lụi tàn và tắt đi một cách tự nhiên.  

Mạng người tù trong môi trường ấy không có một chút giá trị nào đối với họ, kẻ đã chiến thắng.

Xin cầu nguyện cho tất cả các anh em tù nhân đã nằm xuống sớm về được miền Vĩnh Hằng - nơi không còn đói rét và đọa đầy thân xác.

Tôi đang bỏ lại sau lưng cả một quãng đời cơ cực với bao hiểm nguy, tôi cố quên đi hết và bỏ lại đàng sau lưng những nhục nhằn của một kiếp người lầm than. 

Chúng tôi đã mất mát quá nhiều nhưng cũng học được những bài học đắt giá và nhờ Ơn Trên mà chúng tôi đã xoay chuyển được tình thế trở nên thuận lợi hơn trong những năm gần đây.

Chúng tôi biết sống hơn để có thể tồn tại, niềm tin rằng mình sẽ có ngày về càng lúc càng được củng cố vững chắc nhất là khi về Nam Hà được một hai năm sau thì anh Toan, nghị sĩ, đã cho tôi biết về những bài thơ Đường thật là tuyệt tác và có ý nghĩa của cụ Phan mà anh em thường gọi cụ là Thánh Tùng La.

Cụ Phan chính là nhà ái quốc Phan Đình Phùng đã hiển Thánh và Ngài đã giáng cơ xuống, theo lòng thành cầu khẩn của một số anh em muốn biết số phận của mình ra sao, và Ngài dã cho những người tù từng bài thơ một, phác thảo ra một tương lai còn nhiều hứa hẹn.

Các bài thơ này đã được chuyền tay nhau đọc và chép lại và đã làm cho tinh thần người tù lên cao và niềm hy vọng tưởng như lụi tàn nay bừng cháy lại.

Xin thành kính đội ơn Thánh Tùng La đã ban những bài thơ như rồng bay phượng múa ấy để nhóm lại ngọn lửa hy vọng trong khi nhiều người tù đã trở nên bi quan và yếm thế tại trại Nam Hà.

Lúc này, ngồi trên toa xe này xuôi về Nam thì tôi đã trở thành một con người có bản lãnh và nghị lực khác hẳn so với mười hai năm trước lúc còn ngơ ngác trước ngưỡng cửa dẫn vào địa ngục của trại giam trong chế độ xã hội chủ nghĩa miền Bắc.

Bởi vì tôi đã học được bao nhiêu là kinh nghiệm sống và tác phong quân tử từ những người bạn thân trong đó có các anh trong tổ Điện, học được từ thái độ bình thản chấp nhận cái chết đến từng ngày của ông Xuân viện trưởng, từ sự hy sinh tận tụy của anh Trung những ngày tháng cuối chăm sóc bên cạnh ông Xuân, từ sự trầm tĩnh của anh Đồng Tuy và nhiều nữa.

Tôi còn học được những điều quí báu về tôn giáo, về số phận con người, về Định Mệnh, qua Thượng Tọa Thích Thanh Long, qua thầy Tâm người thầy hiền hậu của tôi, thầy Khuê, thầy Thạnh, thầy Tùng,v.v. qua Mục Sư Kỳ, Mục sư Lộc, và quí vị Linh Mục.

Nhiều lúc so sánh tôi thấy cuộc đời tôi có một nét rất giống như câu chuyện ngày xưa tôi rất thích là "Bá Tước Monte Cristo" khi có cơ duyên trong tù đã gập được vị thầy, một Minh Sư đã làm thay đổi hẳn cuộc đời của mình sau này.

Trong truyện thì nhân vật Edmond Dantes đã bị hàm oan khi đang chuẩn bị lễ cưới thì bị bắt và bị lưu đầy đến một trại biệt giam trên đỉnh núi cao -nơi chỉ có đi mà không có về.

Nhờ cơ duyên Edmond đã gập được vị linh mục và là một nhà thông thái cũng bị biệt giam trong đó và chính nhờ gập được vị thầy này mà Edmond đã tôi luyện trở nên một con người văn võ toàn tài và vị linh mục còn tiết lộ bí mật của kho tàng cho Edmond nữa.

Lại nhờ vào may mắn lúc vị linh mục này qua đời phù hộ cho mà Edmond đã thoát ra khỏi chốn biệt giam trở về và ân đền oán trả.

Tôi cũng có cơ duyên sống với Thầy Tâm và được thầy dậy dỗ bảo ban mọi việc, nhất là về căn bản đạo Phật, nhờ đó mà tôi mới có nghị lực chống chỏi với bao phong ba bão táp như muốn nhận chìm mình xuống.

Nếu không gập được người thầy như thầy Tâm, thầy Thích Thanh Long thì chắc là tôi đã nằm lại trong bốn bức tường nhà tù.

Tôi có một điểm khác với Edmond là khi ra khỏi tù thì tôi không tìm được kho tàng như Edmond Dantes và tôi cũng chỉ trả ơn chứ không trả oán.

Nhìn ra vùng tối trước mặt với những hàng cây sậm đen, những con đường đất, những mái nhà tranh mờ mờ đang ngủ yên, những thửa ruộng thấp thoáng ánh nước trong đêm hòa trong tiếng xình xịch của bánh xe lửa, mắt tôi chợt nhòa đi khi nghĩ về những người tù hiền lành đã không còn nữa trong đó có vị viện trưởng viện đại học Cần Thơ Nguyễn Duy Xuân mà tôi vô cùng kính mến.
Họ đã phải nằm lại miền Bắc lạnh lẽo ấy chứ không có được cái may mắn như chúng tôi hôm nay đang theo con tầu cũ kỹ này xuôi về phương Nam nhiều nắng ấm.

Vĩnh biệt xứ Bắc, xin chào mười hai năm lưu đầy, xin chào những con người mà tôi đã gập ngoài đó và xin giữ mãi trong lòng không bao giờ quên các kỷ niệm đau thương xen lẫn những nụ cười của những người tù mà tôi quen.

Những tiếng xình xịch đơn điệu của con tầu trong đêm khuya lặng lẽ như đưa dòng tư tưởng tôi về với những người thân thương.

Nghĩ đến gia đình tự dưng hình ảnh hai đứa con hiện lên trong trí nhớ, có lẽ giờ này chúng lớn lắm rồi vì ngày tôi ra đi thì con gái chưa đầy năm tuổi và con trai chưa đầy bốn, bây giờ...bây giờ thì chúng đã mười tám và mười bẩy tuổi rồi, chắc khi gập lại tôi không thể nhận ra con tôi nữa.
Những làn gió mát hiu hiu thổi vào khung cửa ru tôi ngủ lúc nào không biết. Tôi chợt mơ thấy mình trở về mái nhà xưa nơi tôi đã sống hơn mười lăm năm trên con đường Trương Minh Giảng, Sàigòn thân thương, chợt nghe đâu đây tiếng cười rộn rã của hai đứa con nhưng chẳng thấy chúng đâu, rồi lại nghe thấy tiếng cười xen lẫn nước mắt của Mẹ già tóc nay đã phai mầu vì bao nhiêu năm tháng thương nhớ đứa con trong tù.

Tôi đã đi vào một giấc ngủ thật sâu lắng và êm đềm cho đến khi ánh nắng ban mai rọi chiếu vào toa tầu qua khung cửa sổ làm tôi tỉnh giấc thì trời đã sáng từ lúc nào và tầu đang đi vào địa phận miền Trung. 
Miền Trung, nhất là các tỉnh Thanh Nghệ Tĩnh, miền đất cằn lên sỏi đá và thiên tai bão lụt quanh năm vốn đã nghèo nay lại còn xơ xác hơn với những mái nhà tranh vách đất xiêu vẹo, những con trâu gầy gò, những con bò ốm giơ xương và những con người bừa thay trâu cầy thật là khốn khổ. 
Đâu đâu cũng nhìn thấy những khuôn mặt xanh xao thiếu ăn trong những bộ quần áo lam lũ làm chúng tôi tuy trong thân phận tù đầy không khỏi bồi hồi xúc động và thương thay cho dân mình.
Mỗi khi tầu ghé tới ga nào thì mấy tay cán binh đi theo canh giữ chúng tôi trên tầu thường hay hỏi anh em chúng tôi cần gì không họ mua dùm cho.

Mấy tay cán binh này và mấy tay Thiếu Úy nữa đi theo trên tầu, chúng tôi đếu quen mặt vì thường xuyên vào trại uống cà phê, trà lá. Họ biết chúng tôi nên đi theo canh giữ cũng dễ chịu.
Tôi mấy năm sau thì bao tử và ruột bị yếu nên rất cần nước nóng và một tay cán binh hay cầm cái phích nước của tôi và lại chạy bay xuống mua dùm nước sôi.

Có lần tầu đã chạy rồi mà chưa thấy anh ta đâu thì bất ngờ y xuất hiện và hớt hơ hớt hãi chạy theo và nhẩy lên được toa tầu thì văng mất cả nắp cái phích nước của tôi.

Mỗi lần như thế thì tôi lại cho anh ta ít tiền để uống cà phê nhờ vậy mà tôi có nước sôi mà pha trà hay cà phê hay làm gói mì ăn sáng cho tôi và anh Hầu. 

Cho nên chúng tôi suốt ba ngày đêm trên tầu cũng ăn uống tạm đủ.
Mấy tay cán binh này rất thích thú được anh em chúng tôi nhờ vả vì cả hai bên đều có lợi, nhưng chính họ cũng muốn tỏ sự thiện cảm đối với anh em chúng tôi như thể sự hận thù của họ đối với chúng tôi đã đi vào quá khứ và bây giờ là tình người với nhau.

Một điểm nữa đã đưa họ lại gần với chúng tôi chính là văn nghệ với các bản nhạc xưa đã làm họ say mê, những buổi văn nghệ các tối thứ Bẩy tại buồng giam mà họ ghé đến bên ngoài để cùng tham dự.
Đây cũng là một giai đoạn đáng ghi nhớ đánh dấu một thời điểm rất quan trọng là chúng tôi đã xoay chuyển được tình thế, từ lúc mới vào tù họ coi như các cặn bã rác rưởi trong xã hội và chà đạp lên nhân phẩm của người tù chính trị, cho đến ngày nay thì họ nhìn chúng tôi với con mắt nể trọng xen lẫn mến phục.
Trước ngày rời trại Nam Hà để lên xe lửa vào Nam, tay Thượng Tá trưởng trại trong một buổi nói chuyện cũng nói rằng "Chúng tôi không có khả năng để giáo dục cải tạo các anh và tôi còn bảo các cán bộ của tôi hãy vào trong trại mà thực tế học tập ở các anh nữa."
Vừa rời khỏi miền Trung chưa bao xa để vượt qua con sông Bến Hải vào địa phận trong Nam thì thấy rõ ràng cảnh vật đổi khác nhanh chóng với nhà cửa ruộng vườn xanh tươi hơn, con người cũng bớt lam lũ hơn và khí hậu như mát dịu hẳn đi.
Con tầu đi qua ba miền tuy cùng trong một đất nước nhưng tôi cảm nhận ngay được sự khác biệt của cái nghèo, sự chịu đựng và sự khổ cực của con người sống trên xứ Bắc và tại miền Trung so với sự trù phú của miền Nam cho nên dù là phải sống trong chế độ Cộng Sản thì người miền Nam vẫn có thể bươn chải mà tồn tại được dễ dàng hơn người Bắc và người Trung.
Trời đã xế chiều và con tầu chợt dừng lại để chờ đổi đầu máy mới. Khi xe đang tạm thời dừng lại chờ vào trạm, viên Thượng Úy phụ trách chuyến di chuyển nầy tưởng rằng đã đến sân ga nên ra lệnh cho các người tù xuống xe. 
Sự bất cẩn của tên Thượng Úy nầy suýt nữa đã gây ra thương vong cho anh em tù nhân trong đó có tôi.

Bởi vì cứ hai người thì còng tay lại với nhau cái còng số 8, và anh Hai Hầu vừa bước chân xuống sân và tôi còn đang trên các bực thang thì bất ngờ tàu chuyển bánh, trong tư thế người trên kẻ dưới và anh Hầu hoàn toàn không biết là tầu đã chuyển bánh nên kéo tôi xuống trong khi tôi đang ghì trở lại.
Tôi thì tay trái cầm cây đàn guitar, tay phải còng với anh Hầu nhưng vẫn nắm lấy cái giỏ xách đựng thuốc men vật dụng cần thiết và bộ ấm trả bằng sứ và chưa biết phải làm sao thì tên Thiếu Úy đứng dưới sân ga và cạnh cửa toa tàu la lên một tiếng:

-"Anh Đại đưa cho tôi cây đàn!". Trong một tích tắc động hồ như có ông bà xui khiến, tôi ném cây đàn về phía tên Thiếu Úy, tay phải buông cái giỏ ra và nhảy một cái qua hai bực thang xuống lòng sân ga trong khi toa tàu chạy vụt qua phía sau lưng. 
Tôi cảm thấy hơi lạnh chạy dọc theo xương sống. Chỉ một tích tắc không nhảy xuống kịp thì hoặc anh Hầu hay tôi sẽ bị té xuống và rớt vào đường rầy xe lửa. 
Lúc đó tôi nghĩ là ông bà linh thiêng đã phù hộ cho tôi, nhưng sau này khi vào Hàm Tân gập gia đình thì mới biết ông anh Cả vừa mất vài tháng trước khi tôi lên tầu vào Nam.

Tôi cứ suy nghĩ mãi về vụ thoát chết trong gang tấc đó và tin là chính anh tôi đã nhập vào tay Thiếu Úy mà cứu tôi kịp thời, bởi tay Thiếu Úy này là một trong những tay cán bộ vẫn thường ra vào trại trà lá với chúng tôi và rất thích nghe chúng tôi hát những bản nhạc của chế độ cũ.

Chỉ tích tắc đồng hồ thôi nếu tôi không nhẩy kịp ra khỏi toa tầu thì hoặc tôi hay anh Hầu đã nằm dưới bánh xe lửa.
Tôi lững thững đi theo đoàn người vào sân ga và chưa kịp hoàn hồn thì lại được lệnh leo lên cái tòa tàu mà suýt nữa tôi mất mạng vì nó để xuôi vào Nam.

Đến chiều tối ngày thứ nhì thì chúng tôi vào tới thành phố Huế nhưng tầm nhìn bị che khuất bởi bóng đêm vừa xuống và vì họ kéo rèm che hết các cửa sổ lại vì sợ dân chúng thấy chúng tôi trên tầu.

Tôi chỉ nhìn loáng thoáng thấy một cái sân ga vắng lặng như đang yên ngủ và vài hàng quán còn le lói ánh đèn nhưng đều đã đóng cửa.
Khi tầu đang chạy trên phần đất miền Bắc tôi không có nhiều cảm xúc ngoại trừ sự thương cảm cho cái nghèo cùng cực của người dân với hình ảnh tôi không bao giờ quên được của người đàn bà bụng chửa đã vượt mặt mà vẫn còn ráng chầm chậm gánh gạch vào lò hay những thửa ruộng khô cằn cỗi , nhưng không hiểu sao từ khi tầu bắt đầu chạy vào địa phận miền Nam thì tim tôi như đập nhanh hơn có thể vì như đang trở về quê hương của mình, như đang tới gần hơn gia đình mình.

Chợt một cậu soát vé còn rất trẻ lững thững đi lại phía tôi và anh Hầu rồi hỏi chuyện làm quen:

-"Hình như các bác các chú các anh từ miền Bắc chuyển trại vào trong Nam?"

Tôi nhìn cậu ta gật đầu

-"Ba của cháu trước kia làm cho Bưu Điện Sàigòn cho nên không phải đi "học tập cải tạo". Các bác đã ở tù mười mấy năm rồi nhưng trông còn rất khí phách."
Tôi cảm động vì hai chữ khí phách mà cậu ta đã dùng và thấy cậu ta có vẻ như không phải là người của họ nên tôi mời cậu điếu thuốc lá, một cái lắc đầu cám ơn và cậu ta lại lững thững đi xuống các toa dưới sau khi gật đầu chào anh em tôi.

Đó cũng là những kỷ niệm nhỏ nhưng khó quên bởi vì điều này chứng tỏ người dân miền Nam vẫn chưa quên những người chế độ cũ và vẫn còn dành phần nào cảm tình cho chúng tôi những người tù.

Suốt thời gian hai đêm ba ngày trên tầu thì tất cả các hàng quà bánh buôn bán trên xe lửa đều bị ngăn cấm không được vào bên trong hai toa có chở tù chính trị.
Khi tầu dừng lại ở ga nào thì các cán binh thường được lệnh canh gác tại các cửa lên xuống và nếu có các người dân buôn bán nào không biết ôm rổ bánh hay thúng khoai sắn mà chen lên hai toa này để bán hàng thì đều bị đẩy xuống ngay.

Ngoài ra sự canh giữ chỉ nghiêm ngặt nhất có lẽ là tại nhà ga Diêu Trì. Tại các ga khác như Nha Trang hay tại Huế thì các cửa sổ được lệnh kéo rèm xuống hết và các cán binh cũng đứng loanh quanh cạnh hai lối đi lên xuống tầu mà thôi.

Nhưng tại ga Diêu Trì thì sự việc xẩy ra hoàn toàn khác hẳn vì khi dân chúng nghe tin tù chính trị về đến miền Nam thì từ trong cổng làng họ kéo nhau ra đông nghẹt rồi ùa lại vây quanh hai toa này và vẫy tay chào chúng tôi rất là thân thương.

Tôi nhìn về phía cổng làng thì thấy một đội võ trang đã án ngữ bên ngoài, đóng cổng xong rồi khóa nó lại bên ngoài cho nên một số dân làng ở bên trong cũng muốn ra chỗ xe lửa đang đậu để xem tù chính trị trở về nhưng vẫn không ra được vì cổng đã khóa trái.

Bất chợt có một em bé gái chỉ khoảng mười hai tuổi dáng gầy gò đã bất chấp lính gác chen vào được toa nơi tôi đang ngồi, bỏ thúng bánh lá xuống chỉ cho chúng tôi thấy rồi thoăn thoắt chạy vụt xuống xe và biến mất vào trong đám đông.

Ban đầu tôi tưởng là em muốn bán hàng nhưng khi nhìn em vụt chạy xuống tầu thì tôi mới hiểu ra là em muốn tặng thúng bánh đó cho chúng tôi.

Chúng tôi không kịp cám ơn em và cũng không kịp đứng dậy để trả lại em thúng bánh hay đưa cho em ít tiền nữa vì sự việc xẩy ra quá nhanh không ngờ. 

Lòng tôi chợt dâng lên một niềm xúc động mãnh liệt khi mắt tôi dõi theo bóng em lẫn vào trong đám đông. Chúng tôi đều nhìn nhau không ai nói được lời gì

Ngay đám cán binh đứng gần đó cũng trở tay không kịp,  cho nên sau khi em bé gái đó chạy xuống sân ga rồi thì có một toán cán bộ xộc vào trong toa tôi đang ngồi và ra lệnh cho các cán binh cầm súng làm thành một hàng rào bên ngoài hai toa này và đẩy dân chúng ra xa con tầu không cho lại gần nữa.

Những hình ảnh ấy, những khuôn mặt dân chúng xáp lại gần toa tầu để nhìn thấy những người tù cho rõ hơn, hình ảnh của em bé gái đi chân đất mặc chiếc quần đen và cái áo nâu đã bạc mầu với cặp mắt ngơ ngác nhìn chúng tôi - em là ai mà đã dám lại bỏ cả thúng bánh lá, tiền kiếm được của cả một ngày buôn bán - trên toa tầu cho những người tù là một nghĩa cử thật quí báu và là những kỷ niệm mà tôi không bao giờ quên được trong đời.

Hồi nhỏ tôi có đọc một cuốn sách rất  nổi tiếng là cuốn "Tấm Lòng Cao Thượng" bản dịch của Hà Mai Anh và tôi liên tưởng ngay đến bé gái thôn quê mộc mạc và nghèo nàn này với thúng bánh lá cho những người tù mà em chưa hề quen biết, mới chính là tấm lòng cao thượng.
Tôi cứ bâng khuâng suy nghĩ mãi không biết tối nay khi em về nhà thì nói với cha mẹ ra sao về thúng bánh lá ấy em đã tặng cho các bác các chú tù chính trị trên đường chuyển trại?

Thúng bánh ấy dù là của người dân tặng cho tù nhưng dĩ nhiên họ không phát cho chúng tôi, và tay Thượng Úy trưởng toán cán bộ giải giao tù đã ra lệnh tịch thu đem về toa của họ.

Thời gian những năm sau này tuy họ đã thả lỏng bớt không quá khắt khe trong trại giam nhưng chúng tôi vẫn bị cấm không được liên lạc với dân chúng.  

Lúc ấy dân chúng vẫn còn bao quanh toa tầu và hò reo chỉ chỏ về phía chúng tôi, anh Bửu Uy cũng ngồi gần, bước lại cạnh tôi bên cửa sổ với một anh nữa và giơ chiếc còng lên cho dân chúng thấy.

Tôi cũng đứng dậy và kéo tay anh hai Hầu với cánh tay đang còng lên vẫy vẫy để chào những người dân của Diêu Trì đã dành cho chúng tôi một tấm lòng thật là hiếm có.

Trong lòng tôi không khỏi dâng lên một chút ấm áp và một cảm xúc khó tả khi nhìn đồng bào mình bao vây con tầu và đám cán binh đang vất vả để ngăn cản họ lại gần.
Mười hai năm trước thì tôi bị xích tay bằng sợi lòi tói với anh bạn đồng nghiệp là anh Sửu ra đi vội vã trong đêm tối, còn bây giờ mười hai năm sau thì còng tay với anh Hầu xuôi Nam nhưng trong tư thế đôi chút tự hào.

Chuyến tầu tôi xuôi phương Nam lần nay thực khác hẳn với các chuyến tầu chở tù từ Nam ra Bắc một năm sau ngày mất miền Nam.

Khi ấy, các người tù bị nhét vào các toa chở súc vật đến kẹt cứng không còn có chỗ ngồi chứ đừng nói là chỗ nằm và không khí ẩm thấp hôi hám đến ngộp thở đã làm một số tù nhân ngất xỉu và chết vì thiếu dưỡng khí.

Chưa kể trên đường tầu chạy qua các làng mạc thì dân chúng đã được đạo diễn nên liệng gạch đá lên tầu kèm theo những lời chửi rủa và nhiều người tù đã bị thương hay thiệt mạng vì những cục đá oán thù đó.

Bây giờ thì tình hình đã hoàn toàn đổi khác dù là chúng tôi vẫn trong thân tù tội nhưng đang trở về miền Nam trong sự đường hoàng của một con người bởi vì lòng dân đã chuyển.

Qua hai đêm trên tầu và bắt đầu ngày thứ ba khi tầu chạy qua các tỉnh phía nam Trung phần thì tôi thấy quả thật miền Nam được thiên nhiên ưu đãi hơn hẳn miền Bắc chưa kể các bãi biển đẹp như trong tranh với các hàng dừa nghiêng nghiêng trên bãi cát trắng phau dọc theo Cà Ná, Mũi Né của Phan Rang, Phan Thiết.

Tôi hít vào những hơi thật sâu cho gió biển lùa vào trong lồng ngực vì ít khi có dịp đi qua bãi biển Cà Ná quá đẹp này nhưng tiếc thay là không dừng chân xuống được.

Có những bãi biển vắng tanh không một bóng người chỉ nghe tiếng sóng vỗ rì rào theo những đợt lăn tăn xô nhau vào bờ và chạy dài mãi đến mãi tuốt tận đàng xa xa, và tôi có cảm giác các bãi biển này rất tinh khiết như chưa hề có bước chân người đặt tới bao giờ.

Chợt có hai tay cán binh bước về phía tôi và nói với anh Bửu Uy:

-"Mấy anh có đàn đây hát vài bản đi. Chúng tôi rất thích bài Chủ Nhật Tươi Hồng (Beautiful Sunday).

Tôi mỉm cười giơ cổ tay đang còng lên. Hai tay này sốt sắng:

-"Để tôi sẽ chạy lại ngay và mở khóa cho hai anh."

Tôi lại mỉm cười và lắc đầu. Trong hoàn cảnh này đâu có hứng thú gì mà ca hát.

Tôi có đọc nhiều thư của các bạn được thả về trước viết vào nói là trên chuyến tầu về Nam rất là vui và họ đã hát hò suốt dọc đường và các hành khách trên xe đều tán thưởng và tặng thêm các bánh trái nữa. Nhưng trong hoàn cảnh bây giờ chúng tôi vẫn còn trong tình trạng mất tự do và trong đầu tôi còn bao nhiêu là phân vân cho bước đường sắp đến.

Sau hai đêm và ba ngày thì cuối cùng thì đoàn tầu cũng đến được nơi dừng chân. Với một đoạn đường hơn ngàn cây số mà phải mất đến ba ngày trời mới bò tới đích thì đủ biết con tầu này thuộc loại già nua như thế nào. Tôi tính vận tốc trung bình của nó không hơn vận tốc của xe đạp là bao nhiêu. Có thể nó đã từ thời Pháp để lại và tu sửa tân trang chút ít rồi đưa vào hoạt động.

Vừa bước chân xuống sân ga thì tôi thấy một dẫy xe đang chờ và chỉ biết một điều là mình đang ở trong miền Nam.

Chúng tôi lại lục tục leo lên và các xe này chay bon bon trên đường nhựa mà tôi đoán là Quốc lộ số Một để đến nơi nào chúng tôi cũng không biết.

Tôi ngồi dựa vào lưng ghế, tay phải vẫn còng vào tay trái anh hai Hầu và nhắm mắt lại tìm giấc ngủ, đến đâu thì tính đến đó, con người ta đều có số mệnh lo nhiều cũng chẳng được.

Đoàn xe rời quốc lộ và chạy vào con đường đất đá một đoạn khá xa rồi mới rẽ vào môt con đường lát toàn đá vụn, hai bên đường là những hàng cây cao vút như muốn che rợp cả bầu trời, nhưng nhìn xuyên qua những hàng cây ấy thì thấy phía sau là cả một khu rừng toàn lá Buông.

Khoảng nửa tiếng chạy trên con đường lát đá với hai hàng cây cao vút đó thì chúng tôi đến khu vực trại giam.
Chúng tôi đã đến trại Hàm Tân trong tỉnh Bình Thuận- là điểm dừng chân cho những người tù cuối cùng sau ba ngày di chuyển từ Bắc vào Nam.

Phần XVII: Sợi Dây Ngũ Sắc 

(LTG: Phần XVII này là bài viết thêm cho bài "Yêu Người Dương Thế" để nói rõ hơn về một câu chuyện tình liêu trai có thật và đầy lãng mạn. Đây là một câu chuyện thật kỳ lạ và bí ẩn mà khoa học ngày nay cũng chưa có thể giải thích được.
Quí vị nào chưa đọc rất nên xem và suy ngẫm về Cõi Dương và Cõi Âm. Một chi tiết nữa là TG đã đổi tên nhân vật chính.)


Thật khó mà diễn tả cho hết được cái vẻ đẹp của mùa Thu trên đất Bắc, nó mong manh như sương khói, yểu điệu như nàng thục nữ ngồi ngắm bóng mình bên hồ Sen, nó bàng bạc như quyện vào từng chiếc là vàng rơi rơi bay bay theo từng cơn gió chiều nhè nhẹ đìu hiu trên con đường làng quê nghèo và mộc mạc.

Bởi thế mà mùa Thu đã tạo nên bao nhiêu nguồn cảm hứng cho bao nhiêu là văn sĩ và thi nhân và bao nhiêu là áng thơ tuyệt tác cùng những truyện tình lãng mạn đã làm cho lòng chúng ta không khỏi thổn thức mỗi độ Thu về.

Đúng vậy mùa Thu đã về rồi đó, riêng đối với những người tù thì mùa Thu là một mùa không phải là đẹp nhất trong năm nhưng là một khoảng thời gian mà thời tiết mát mẻ dễ chịu nhất sau ba tháng Hè nóng như nung người trong lò lửa.

Đây cũng là thời gian mà anh em chúng tôi lấy lại được một phần sức khỏe để dự trữ và chuẩn bị chống đỡ lại sự tấn công đáng sợ của cái lạnh kinh người khi mùa Đông lại đến.

Thời gian này chúng tôi thích nhất vì như được tắm  mình trong một vùng không gian bao la mát rượi xen lẫn ít cái se se lạnh báo hiệu của một mùa Đông nữa sắp tới. Ban đêm cũng chỉ cần đắp cái chăn ngang bụng và dễ đi vào giấc ngủ sau một ngày mệt nhọc.

Mùa Xuân cũng đem đến cho người tù một khoảng thời gian ấm áp sau những đêm Đông lạnh giá, nhưng có lẽ không có mùa nào trong năm lại gây nhiều nhung nhớ sâu đậm như mùa Thu nơi xứ Bắc, nhất là khi khoác trên người bộ áo tù nhưng mắt thì vẫn dõi theo những cụm mây trôi dần trôi dần về phía chân trời vô định.

Chúng tôi đang chia ra thành từng toán nhỏ năm bẩy người để cùng đạp đất và sau đó khi đất sét đã nhuyễn thì sang mai từng lớp đất sét một cho tới khi nó chồng lên thành từng khối bánh.

Những tảng đất sét như cứng đầu nên vẫn chưa chịu mềm đi dưới những đôi chân trần của những người tù. Tôi vào cùng nhóm với các anh cấp đại úy như anh Trung pháo binh, anh Thế, Cảnh, Tâm, Châu vừa đạp đất vừa kể lại chuyện ngày xưa để giết thời gian và cũng để quên đi cái hiện tại nhọc nhằn.

Mỗi người một câu, chuyện trò rôm rả và chúng tôi như tìm được những nụ cười hiếm hoi lẫn trong những giọt mồ hôi vất vả, dù là trời đã sang Thu. Tôi nhìn các anh và chợt có ý kiến là mỗi người sẽ kể về mình một câu chuyện tình.

Mỗi ngày một người được làm "máy" tức là đóng vai máy quay phim "chiếu" lại một khúc phim tình nào đó mà mình từng đóng vai chính.

Thế là tôi được nghe những câu chuyện tình thật đẹp hay thật ngộ nghĩnh của các bạn mình và được dịp thả hồn mình đi mơ mộng theo từng tình tiết của câu chuyện hay bật ra những tràng cười thoải mái về những sự ngây ngô của mình khi mới bước chân vào tình yêu của thời sinh viên mới lớn lên tại Sài Gòn hay trong quân ngũ.

Qua đi gần hết một vòng thì người cuối là anh Trung, dáng anh nhỏ người da ngăm đen, tính tình thật hiền lành và dễ mến của người miền Nam, nhưng cười rất có duyên và cách kể chuyện của anh thì lại hấp dẫn nhất trong nhóm.

Anh Trung nhìn tụi tôi rồi nói hơi tếu một chút:

-"Tui chẳng có chuyện gì để kể hết à! Đi lính rôi quen bà xã rồi lấy nhau vậy thôi, hổng có gì nữa để kể, vậy là hết."

Dĩ nhiên là mọi người đều không chịu một câu chuyện quá ngắn và có vẻ chạy làng như vậy cho nên anh Trung đề nghị là để đền bù, anh sẽ kể một câu chuyện có thật nhưng rất kỳ lạ và đầy bí ẩn của một người bạn của anh vừa mới xẩy ra trước khi anh chuyển trại về đây, mà chính anh cũng không biết đoạn kết của câu chuyện tình này sẽ ra sao nữa.

Giọng anh trầm trầm hẳn xuống và ngay lập tức tụi tôi bị cuốn hút vào câu truyện đầy tính liêu trai này.
                                             
Buổi sáng hôm ấy sương mù dày đặc trắng xóa cả bầu trời và hình như mây mù từ những nơi khác trong lòng thung lũng đều kéo nhau tụ cả về đây. Những ngọn núi chung quanh trại giam khu vực Hoàng Liên Sơn này cũng chỉ ẩn hiện mờ mờ trong một mầu trắng đục.

Cách xa chỉ năm thước cũng không nhìn thấy được mặt người. Cảnh vật nhạt nhòa trong sương khói như làm cho bầu không khí thêm phần ảm đạm và làm tăng thêm cái rét căm căm của mùa Đông miền Bắc. Cái lạnh thì xuyên thấu qua từng chiếc áo rằn ri mầu hoa rừng, qua luôn lớp áo lót bên trong và thấm vào từng sớ thịt của những sĩ quan tù binh - người tù chính trị chế độ cũ.
Vì sương mù và sở dĩ nếu xuất trại ra lao động có thể tù dễ  trốn trại chonên tất cả chúng tôi được lệnh ở lại trong trại sáng hôm đó.

Chẳng ai bảo ai chúng tôi đều vào buồng, leo lên chỗ nằm ngả lưng xuống nghỉ ngơi cho khỏe hoặc nấu ít trà nóng uống cho đỡ lạnh. Mỗi khi mà được nghỉ lao động là đều có lý do nếu không vì sương mù như hôm nay thì hoặc là mưa quá lớn, hay có thể là chuẩn bị di chuyển trại giam, hay là cái gì nữa không đoán trước được.

Bởi vậy người tù lúc nào cũng phải chuẩn bị tinh thần cho những gì xấu nhất có thể xẩy tới cho mình bất kỳ lúc nào, tuy trong lòng luôn cầu nguyện những gì tốt đẹp nhất sẽ đến.


Khoảng một tiếng đồng hồ sau bỗng có hàng loạt bộ đội vào sân trại và ra lệnh cho tất cả tù nhân đem hết tư trang ra ngoài sân để khám xét. Cái điều khó chịu ấy cứ sáu tháng lại tái diễn một lần và họ lựa đúng vào những dịp tù được nghỉ lao động để khám xét mục đích là không cho chúng tôi được nhiều thời gian riêng cho mình và đưa chúng tôi vào tình thế luôn bị động.


Mục đích của khám xét là để xem tù nhân có tàng trữ những gì trái với nội quy của trại không như vật nhọn, muối, tiền mặt, kinh sách tôn giáo, "nhạc vàng", quần áo chưa đóng dấu "cải tạo"?


Trung và các bạn trong buồng lần lượt khuân hết các ba lô hay túi xách, các thứ linh tinh và chiếc chiếu cá nhân ra ngoài sân.


Mỗi lần như vậy thì Trung nhận thấy mình lại mất đi một vài thứ, lúc thì cái muỗng bằng bạc dùng để ăn cơm, lúc thì con dao cùn dùng để cạo râu, v.v.. Còn thì những thứ thực sự có giá trị như đồng hồ, nhẫn vàng, tiền mặt thì ngay từ lúc đầu bước chân vào trại giam thì họ đã tịch thu dưới danh nghĩa là trại "quản lý" dùm cho các anh khi nào được tha về sẽ trả lại.


Và mỗi lần như vậy là đám cán binh và đám bộ đội trực trại lại khám thật kỹ từng người một, từ cái lai quần đến ve áo trên người cho đến chăn mền quần áo, từng chỗ nằm của mỗi người và vết nứt trên tường.



Trung khoanh tay đứng nhìn một cách hờ hững vì anh chẳng còn gì để chúng nó tịch thu nữa mà phải lo nghĩ, và bên cạnh anh các bạn cũng từ từ cuốn chiếc chiếu lại đem vào buồng giam.


Chợt anh nhìn thấy Tuấn, người bạn bên cạnh anh đang bị tên trực trại hạch hỏi về chiếc dây chuyền kết bằng những sợi chỉ lấp lánh ngũ sắc bện với nhau rất đẹp mà anh đang đeo trên cổ.

Tuấn cố giải thích là kỷ vật của gia đình nhưng tên bộ đội còn trẻ măng vẫn không nghe và vẫn tịch thu sợi dây chuyền ngũ sắc ấy của anh. Có thể rằng mỗi đợt kiểm tra như thế này xong thì bọn chúng phải tìm nộp cho cấp trên một số tang vật bất cứ thứ gì của người tù để lập công cho nên chúng cố tịch thu càng nhiều càng tốt.

Ngày hôm sau trên đường đi lao động vào rừng đốn gỗ cho trại Trung thấy Tuấn lộ vẻ đăm chiêu và lo lắng không yên nên anh hỏi:


-"Sao thấy cậu có vẻ lo lắng chuyện gì thì phải?"


-"Ừ! Đêm qua mình lại nằm mơ thấy bà xã của mình, bà ấy khóc quá nói là mấy năm nay đi tìm kiếm mình khắp nơi mà không gặp."
-"Ủa! mình tưởng là cậu còn độc thân chứ? Nhưng như vậy cũng là vui rồi, không gặp được người thực ở ngoài đời thì gặp người trong mộng cũng là vui và an ủi rồi còn gì?"
-"Không phải vậy đâu! Mình vẫn còn độc thân nhưng mà bà ấy là bà xã trong mộng của mình mà thôi nhưng mà câu chuyện dài lắm để mình kể cho cậu nghe..."
Thế rồi Tuấn từ từ kể lại cho Trung nghe về cuộc đời và mối tình kỳ lạ của mình ngày còn trong quân ngũ.
Thời gian ấy vào khoảng năm 1971 sau cuộc tổng tấn công của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa qua Campuchia phá hủy hầu hết các căn cứ hậu cần của Việt Cộng và quân Bắc Việt tại Kompong Cham, Kompong Sap, Kratie, đơn vị của Tuấn tháp tùng sư đoàn trở về vùng đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam trong chiến thắng oai hùng và Tuấn được thăng cấp Trung Úy.

Sau đó đơn vị của Tuấn được lệnh đi hành quân tảo thanh diệt địch và tạm thời trú đóng bên cạnh một giòng sông nước trong vắt với hàng dừa xanh thật là thơ mộng.


Rồi một hôm, một biến cố đã xảy ra trong một ngày định mệnh đã làm đảo lộn hết cả cuộc đời binh nghiệp của anh.


Hôm đó, Tuấn theo đơn vị dừng lại đóng quân trong một làng nhỏ nằm ven sông thì binh lính dưới quyền báo tin là có một xác thiếu nữ trôi sông vừa dạt vào bờ. Tuấn vội chạy ra xem thì thấy một thiếu nữ tuổi chừng mười tám hai mươi trong chiếc áo dài màu trắng nữ sinh tuyệt đẹp, làn tóc thề lòa xòa che mất một phần của khuôn mặt trái xoan, nằm mấp mé bờ sông, nàng chết mà như đang trong giấc ngủ và có vẻ đẹp quí phái của con người tỉnh thành chứ không phải thôn dã.

Anh bèn ra lệnh cho binh sỹ khiêng nàng lên bờ và cho lính vào trong làng hỏi thăm xem có ai biết tông tích ra sao để báo tin cho gia đình nạn nhân đem về mai táng. Anh buột miệng khen một câu:


"Người đẹp như vậy mà chết uổng quá! Giá mà còn sống lấy mình thì thật là đẹp đôi."

Thế rồi không biết có phải vào giờ linh hay là nàng sống khôn chết thiêng hay sao mà ngay tối hôm đó Tuấn nằm mơ thấy nàng hiện về và hai người bắt đầu quen nhau.
Kể từ hôm đó, hễ đặt lưng nằm xuống là Tuấn lại thấy nàng hiện ra ngay trong giấc mộng trong suốt chặng đường hành quân của anh hay là khi về phép y như một đôi tình nhân vừa quen nhau trong một khung cảnh hệt như thương xá Tax và hàng quán phố phường trên đường Lê Lợi tại Sàigòn vậy. Giấc mơ này nói tiếp giấc mơ kia y như những chương trong một cuốn tiểu thuyết lồng trong một mối tình lãng mạn.

Từ đó anh đặt tên cho nàng là Mộng Điệp và anh mơ thấy mình mặc quân phục về phép Sàigòn và tình cờ gặp nàng và làm quen trên đường nàng đi học về trong tà áo nữ sinh tha thướt. Ai đi ngang qua cũng trầm trồ là hai người thật đẹp đôi.

Những ngày sau đó, anh lái xe gắn máy đến trường đón nàng tan học vềvà hai người chở nhau đi chơi, đi xem xi nê, ăn uống và chở nàng về nhà của mẹ nàng bên cầu Thị Nghè.

Tình yêu nảy nở lúc nào không hay giữa trai tài gái sắc, hai người trao nhau nụ hôn đầu tiên trong vườn Bách Thảo và bàn tính chuyện hôn nhân. Anh rất mừng là mẹ nàng cũng tán thành và tác hợp cho đôi lứa.


Anh bèn xin đơn vị nghỉ phép nói là về thăm gia đình nhưng chính là về để tổ chức đám cưới với Mộng Điệp. Đám cưới thật là vui với đầy đủ lễ nghi đón dâu và đãi tiệc tại nhà hàng và có cả xác pháo hồng và áo cưới cho cô dâu e thẹn về nhà chồng.



Lúc đó tại thị xã nơi đơn vị Tuấn đóng quân, các cô bán hàng mỹ phẩm và quần áo phụ nữ thường rất ngạc nhiên khi thấy Trung Úy Tuấn thường đến cửa hiệu của họ và mua những quần áo kể cả đồ lót cho phụ nữ và đồ trang sức nữa. Ở cái thị xã nhỏ như vậy thì ai cũng biết chàng Trung Úy đẹp trai anh hùng này vẫn còn độc thân nhưng mỗi khi các cô hỏi chàng mua tặng cho ai thì Tuấn chỉ cười lắc đầu chứ không trả lời cô nào cả.

Cuộc sống hạnh phúc của vợ chồng Tuấn và Mộng Điệp kéo dài thật là êm đêm trong những giấc mộng nối tiếp nhau suốt một năm trời như vậy trong từng giấc ngủ cho đến một hôm

Một nhân vật huyền bí khác lại xuất hiện và lại làm thay đổi hẳn đời sống của chàng sỹ quan trẻ.

Thế rồi chiến trận lan tràn khắp nơi trên quê hương miền Nam và Tuấn bị cuốn hút vào cuộc chiến không có thì giờ để nghĩ đến một chuyện gì khác nữa ngoài những cuộc hành quân liên miên diệt trừ Cộng Phỉ. Nhìn những xóm làng nằm trong vùng "xôi đậu" với những xác người dân lành vô tội bị Việt Cộng thiêu rụi vì đã không theo chúng, hay những cây cầu đoạn đường bị VC phá hoại mà Tuấn không khỏi uất hận bọn Cộng Nô và bùi ngùi cho đất nước đau thương của mình.

Một hôm hành quân qua một vùng "xôi đậu" là những xóm làng mà ban ngày thì do Quốc Gia kiểm soát và ban đêm thì VC mò về và khuấy rối và bắt dân của xóm làng nghèo nàn này phải đóng góp gạo thóc gia súc cho chúng anh mới biết là Cộng Sản tuyên truyền rằng dân chúng đừng có theo Quốc Gia vì xe tăng của họ toàn là giấy các tông và máy bay trực thăng cũng vậy.


Anh bèn gọi dân làng lại và cho họ đích thân đến cạnh một chiếc xe tăng tháp tùng cuộc hành quân để họ được tự tay mình sờ mó và đập tay vào xe tăng xem có phải bằng các tông hay không thì dân làng mới tin. Từ đó thì dân chúng trong làng ngả hẳn về phe Quốc Gia và mỗi khi có VC mò về là họ thông báo ngay cho các lực lượng đồn trú tại địa phương.



Một ngày thật đặc biệt trong đời Tuấn, sau một cuộc hành quân lùng và diệt địch thật là vất vả và gian nguy trong vùng sình lầy của đồng bằng Cửu Long, đơn vị của Tuấn di chuyển ngang qua một ngôi làng rất là nhỏ có lẽ chỉ vài chục nóc nhà tranh thì anh thấy một cụ già chống gậy đang đứng trước cái ngõ dẫn vào ngôi làng như đang chờ đợi ai. Khi anh đi tới đâu ngõ thì bất ngờ cụ chống gậy bước ra và nói với các binh sĩ là muốn gặp anh.



Tuấn bèn cho đại đội dừng quân lại và phát cho dân làng một số thực phẩm khô và đồ hộp Quân Tiếp Vụ mà đơn vị anh mang theo để đi theo bà cụ vào trong làng.


Vừa bước chân vào ngôi nhà tranh của bà cụ thì Tuấn rất là sửng sốt vì hình như bà cụ đã biết anh từ trước. Cụ bà tuy đã luống tuổi nhưng trông còn tinh anh và nhanh nhẹn, cụ nói rất là từ tốn rằng tối hôm qua cụ nằm mộng thấy một ông già râu tóc bạc phơ báo tin cho cụ ngày hôm nay phải đón anh sẽ hành quân qua làng này để chữa bệnh cho anh.

Bà cụ nói rằng anh đang bị ám khí rất là nặng và nếu không chữa trị kịp thời thì không thể cứu được tính mạng. Vì anh thường hay làm những điều phước thiện giúp đỡ binh lính và dân chúng cho nên cụ được lệnh là phải cứu giúp anh. Mới đầu thì Tuấn không hiểu nhưng sau thì anh chợt nhớ ra người vợ Mộng Điệp của mình và kể cho bà cụ nghe từ đầu đến cuối câu chuyện.


Bà cụ trầm ngâm một lúc và nói rằng rất may mà anh gặp được cụ và cụ có thể chữa bệnh ma ám cho anh được vì cụ cao tay hơn con ma đang ám ảnh anh suốt hơn năm qua.


Lúc này thì Tuấn mới hiểu rằng tại sao sức khỏe của anh bị sa sút và damặt thì xanh hẳn đi như người bị mất máu mà trước kia anh cứ nghĩ là vì các cuộc hành quân gian khổ. Hóa ra là cuộc tình giống như những truyện trong Liêu Trai Chí Dị mà anh đã đọc hồi xưa đã tàn phá sức khỏe của anh trông thấy.


Bà cụ bèn lấy một chén nước sắc bằng những lá rừng và làm phép trên đó, để lên một cái bàn thờ nhỏ trong nhà thắp một nén nhang xong và bảo anh uống chén nước đó. Xong rồi, cụ cho anh một cái sợi dây chuyền bện bằng những sợi chỉ ngũ sắc rất đẹp và bảo anh là luôn luôn phải đeo trên cổ không được xa rời thì cái người vợ ma kia sẽ không còn hại anh được nữa.



Và cái điều lạ lùng là kể từ ngày ấy khi anh đeo sợi dây chuyền ngũ sắc trên cổ thì anh không còn gặp lại người vợ trong mộng nữa, không những thế hình như sợi dây chuyền này cũng che chở và đem may mắn cho anh trước lằn tên mũi đạn của quân thù.



Thời gian thấm thoát trôi qua cho đến một hôm anh chợt nhớ đến vị ân nhân của mình khi hành quân gần ngôi làng cũ và ghé vào thăm bà cụ ngày trước đã cứu mạng cho anh.



Khi gặp lại thì cụ rất là vui mừng y như người mẹ gặp lại đứa con còn an lành sau những ngày tháng hành quân gian khổ.


Cụ bèn kể cho anh nghe một câu chuyện và anh cũng không tin vào tai mình nữa. Khi đó khoảng vài tuần trước, cụ có đi qua chợ phiên của làng bên và bất thình lình có một người đàn bà mặt mày đỏ gay lên và xông lại xỉa xói chỉ tay lung tung vào mặt cụ và còn xấn xổ tính hành hung cụ nữa, và bảo rằng cụ đã cướp người chồng của chị ta. Cụ đã biết người phụ nữ bị ma nhập đó là ai rồi nên cụ bèn rút cái cây roi mây trong giỏ ra và bảo chị ta không được hỗn nếu không thì cụ sẽ bắt bỏ vào trong cái giỏ này. Nghe thấy vậy, người đàn bà kia chợt thụt lui lại, không còn la hét và cúi đầu cum cúp rảo bước đi mất ra khỏi chợ.

Cụ hỏi anh có biết người phụ nữ đó là ai không và nói ngay với anh rằng chính cái người vợ trong mộng của anh đã nhập vào người đàn bà đó để làm dữ với cụ vì cụ đã làm phép cho anh không còn bị ma ám nữa.


Những năm tháng sau đó, khói lửa bốc lên khắp nơi và người Sàigòn bắt đầu làm quen với những địa danh như Tống Lê Chân, Khe Sanh, Mùa Hè Đỏ Lửa tại Quảng Trị, Đông Hà, An Lộc Tử Thủ, Đại Lộ Kinh Hoàng với pháo kích của VC và quân Bắc Việt dọc theo Quốc Lộ 1 đã tàn sát hàng chục ngàn thường dân vô tội và gia đình của họ khi di tản từ miền Trung vào miền Nam lánh nạn.



Đơn vị của Tuấn đã liên tiếp chiến thắng lẫy lừng đem lại niềm hãnh diện cho Trung Đoàn và được Trung Đoàn khao quân và tưởng thưởng nhiều huy chương cao quí của quân đội.

Một điều bất hạnh cho người Quốc Gia là đồng minh Hoa Kỳ đã quyết định bỏ rơi họ đơn độc chiến đấu trong tình trạng thiếu súng đạn nhiên liệu trước một kẻ thù hung hãn và khát máu đang được yểm trợ đắc lực bởi Nga Sô, Trung Cộng và khối Đông Âu.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa một quân đội anh hùng đã vì thế mà mất đi dần ưu thế trên chiến trường và lui dần vào thế thụ động và phòng thủ. Chiến đấu cơ không còn đủ xăng nhớt để hoàn thành những phi vụ và pháo binh cũng không còn đạn pháo để yểm trợ cho quân bạn như xưa nữa và điều gì phải đến đã đến.


Ngày 30 Tháng Tư năm 1975, Miền Nam sụp đổ và rơi vào tay Cộng Sản và Tuấn cũng như hàng triệu quân dân cán chính khác của chế độ VNCH sa chân vào chốn lao tù.

Sau những lần chuyển trại trên đất Bắc, tình cờ Tuấn gặp lại người bạn thân năm xưa cũng sư đoàn là Trung Úy Trung pháo binh. Tuấn ngừng lại một chút rồi tâm sự:" Kể từ ngày họ tịch thu sợi dây chuyền ngũ sắc của mình thì ngay ngày hôm sau lên rừng đốn củi tự dưng mình thấy buồn ngủ ríu cả mắt lại và ngồi tựa gốc cây ngủ lúc nào không hay. Chỉ một lát sau thì thấy ngay người vợ trong mộng hiện ra và nàng khóc lóc ôm lấy mình và nói rằng mấy năm nay nàng đã đi tìm mình khắp nơi mà không gặp và điều bất ngờ nàng nói rằng đã có một đứa con hai tuổi với mình và ôm con sống trong cô đơn suốt mấy năm nay."


Trung nhìn sững bạn anh, nếu không phải là người bạn thân đích thực kể cho nghe thì chắc anh sẽ không tin là câu chuyện này là có thực của một người cõi âm đã đem lòng yêu thương một người trên dương thế là bạn của anh và đã lặn lội từ Nam ra Bắc để ôm con đi tìm chồng.



Cuộc đời vẫn luôn xoay vần và Trung những tưởng là mình sẽ chết và chôn vùi trong xó rừng miền Bắc nhưng vì quân Bắc Việt tấn công qua Campuchia và Trung Cộng đánh qua sáu tỉnh miền Bắc nên anh và những bạn tù được di chuyển từ Hoàng Liên Sơn về các trại giam khác ở miền trung du vào năm 1978.



Nhưng Trung và Tuấn sau lần chuyển trại thì bị tách ra về hai nơi khác nhau và không còn gặp lại nhau nữa.


Những năm sau nầy Trung không được tin tức gì nữa về Tuấn và khôngbiết bạn mình lưu lạc phương nào và có được trả tự do chưa hay đã vì mất sợi dây chuyền hộ mạng nên cũng đã chết theo người vợ cõi âm nặng lòng với mối tình yêu người dương thế?

Trung kể chuyện một cách say sưa và tình tiết suốt hai ngày mới xong. Khi anh kết thúc rồi tôi vẫn còn ngẩn ngơ và bàng hoàng vì một mối tình liêu trai đầy lãng mạn xen lẫn nét huyền bí của bà cụ đã cho Tuấn sợi dây ngũ sắc và giải bệnh ma ám cho anh.

Năm 1983, anh Trung cùng một số lớn tù nhân được di chuyển vào trong Nam và tôi cùng với số tù nhân còn lại trong đó có các thầy và các vị mục sư, linh mục di chuyển về trại Ba Sao Nam Hà.

Từ đó tôi mất liên lạc với anh Trung pháo binh và không biết khi vào trong Nam anh có gập lại nhân vật chính trong truyện hay không, nhưng tôi vẫn không bao giờ quên được câu chuyện đầy kỳ bí và huyền hoặc của sợi dây ngũ sắc này.

Anh Hùng Sư Đoàn 5

Hồi Ký của: Phạm G. Đại




(Lời Tác Giả: Nhân dịp kỷ niệm 35 năm mất miền Nam vào tay Cộng Sản, "Anh hùng Sư Đoàn 5" là một bút ký nêu lên tinh thần anh dũng, hào hùng, can trường, bất khuất, và hy sinh vô bờ bến của người chiến sỹ Quốc Gia nói riêng và của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nói chung. Tác phẩm này cũng như một nén hương kính dâng lên tất cả những anh hùng tử sĩ quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa.)

Năm một chín sáu ba là một năm xáo trộn về chính trị, tại Mỹ thì Tổng Thống John. F. Kennedy bị ám sát, tại miền Nam thì phong trào chống lại chế độ "gia đình trị" của Tổng Thống Ngô Đình Diệm lên đến cao điểm đưa đến sự thảm sát hai ông Diệm và Nhu.


Nguồn dư luận lúc đó cho rằng người Mỹ muốn đem quân vào Miền Nam nhưng hai ông Diệm Nhu đã không tán đồng nên đã bị dẹp qua một bên giống như họ dẹp TT Kennedy bên kia trời Âu vậy.



Có một điều mà chúng ta phải thừa nhận rằng dưới chế độ của TT Ngô Đình Diệm, dù là mới phôi thai, nhưng từ năm một chín năm tư thì người Quốc Gia đã tập trung lại được trong miền Nam để thành lập một tiền đồn chống Cộng vững vàng cho vùng Đông Nam Châu Á và chính vì cái vị thế chiến lược đó của miền Nam mà người Mỹ đã nhẩy vào giúp chúng ta xây dựng cái tiền đồn chống Cộng này.



Từ đó lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu tung bay ngạo nghễ khắp miền Nam và trên thế giới.



Miền Nam, đất lành chim đậu, với thiên thời địa lợi và nhân hòa, đã là nơi khai sinh ra vùng trời Tự Do cho người Việt Quốc Gia, sau khi Hiệp Định Geneve chia đôi hai miền Nam Bắc qua con sông Bến Hải. Những bài hát những câu hò ca ngợi Tự Do và Tình Yêu quê hương thủa đó như Nắng Đẹp Miền Nam, Trăng Thanh Bình, Giã Gạo Đêm Trăng, Chuyến Đò Vĩ Tuyến, "Nhà Bè nước chẩy chia hai, ai về Gia Định Đồng Nai thì về", "Ai vô Nam, ngớ ngẩn vì muôn câu hò..." v.v., đã nói lên niềm khát vọng cho hòa bình và xây dựng đất nước của người dân Việt sau bao nhiêu năm dài chinh chiến.



Nhưng không ai ngờ rằng một cuộc chiến thảm khốc nhất đang được khối Cộng sản Nga - Tầu giao cho Cộng Sản Việt Nam vụt đổ ập xuống quê hương miền Nam.



Những tin tức hàng ngày về Việt Cộng (VC) và quân Bắc Việt (BV) đốt làng phá xóm, giật cầu đắp mìn trên lộ, giết hại dân lành làm cho người dân bắt đầu cảm nhận được cường độ của chiến tranh đang gia tăng nhất là tại vùng nông thôn.



Lúc đó cả ba anh trai của tôi đều đang trong quân trường, anh cả khóa 20 Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, anh hai trong Quân Y, anh ba đang thụ huấn khóa 13 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang. Tôi thì đang theo học Tú Tài I trường trung học Chu Văn An, Sàigòn.


Cô ruột tôi , nhà chỉ cách nhà Mẹ tôi một con hẻm đường Trương Minh Giảng, còn đông con hơn nữa và bẩy cậu em họ của tôi đều lần lượt giã từ bút nghiên để theo nghiệp đao cung khi quốc gia nguy biến. Chỉ trừ cậu út là được miễn thi hành nghĩa vụ quân dịch.

Khi còn nhỏ tại đường Cầu Đất, Hải Phòng, anh Quang lớn của tôi đã tỏ ra có năng khiếu về quân sự. Khi ông Nội đúc cho những thằng lính và xe jeep bằng chì thì anh đã bầy chúng ra làm quân hai bên đánh nhau; có lẽ đó cũng là điềm báo trước là anh sẽ chọn binh nghiệp sau này.


Hai năm sau, anh ra trường Võ Bị Đà Lạt với cấp bậc Thiếu Úy hiện dịch và được thuyên chuyển về Sư Đoàn 5 Bộ Binh (BB) tại Lai Khê, Bình Dương. Chưa đầy hai năm sau anh được thăng chức Trung Úy và với những chiến tích nổi bật, anh được đề cử làm đại đội trưởng đại đội trinh sát của trung đoàn 7.



Anh bắt đầu áp dụng các lý thuyết học trong quân trường với kinh nghiệm thực tế để rèn luyện những sĩ quan và binh sĩ của đại đội trở thành những chiến sĩ gan dạ và am hiểu trận địa, và đại đội đã thắng trận liên tục đem về vinh dự cho cả Sư Đoàn.



Trong trận Ấp Ba, một tiểu đoàn của trung đoàn 7, Sư đoàn 5 BB trong khi xung phong vào Ấp đã bị thiệt hại và phải rút lui ra để tải thương binh về hậu cứ vì lợi thế nghiêng về phía địch.



Bộ tham mưu trung đoàn bèn quyết định đưa đứa con cưng của mình vào trận và đại đội trinh sát được trực thăng vận đến ngay cánh đồng lúa trước mặt một khu đồng trống dẫn vào Ấp.



Tuy ở cấp đại đội nhưng đại đội trinh sát của trung đoàn được trang bị hỏa lực mạnh nhất cùng với vũ khí tối tân nhất bấy giờ với quân số luôn đầy đủ và có ưu điểm là cơ động rất nhanh tạo sự bất ngờ cho địch quân nhiều lúc trở tay không kịp.



Khi anh vừa đáp xuống trực thăng thì anh đã thấy ngay lý do tại sao địch với cấp số chưa tới đại đội mà đã đẩy lui được cả một tiểu đoàn. Đó chính là địch đã dựa lưng vào mật khu Dương Minh Châu phía sau và chỉ có một con đường duy nhất dẫn vào Ấp qua khu đồng trống đó.



Nhìn thấy ven lộ có một cái miếu, anh bảo binh sĩ dưới quyền trong tư thế sẵn sàng và chờ anh một lát, rồi lấy ra từ trong ba lô ba nén nhang và vào trong miếu thắp lên và cầu nguyện Thổ Thần Thổ Địa che chở cho những người lính Quốc Gia đang tiễu trừ Cộng phỉ. Khi bước ra khỏi miếu, anh ra lệnh cho các trung đội dàn đội hình và ra lệnh xung phong. Anh và các sĩ quan đều chạy trên tuyến đầu và nã súng vào những nơi nghi ngờ Cộng quân đang cố thủ.



Từ trong Ấp, đạn bắn ra như mưa và khoảng cách chỉ hai trăm thước vào Ấp mà dài như cả cây số. Thế rồi đạn từ trong Ấp đột nhiên yếu dần đi và khi đại đội vào hẳn được trong Ấp thì thấy nồi niêu soong chảo của địch còn nguyên với nồi cơm còn bốc khói chưa kịp ăn.



Lúc bấy giờ anh mới được binh lính trình báo là đại đội đã vượt qua một bãi mìn VC gài nhưng không có một trái nào nổ cả. Có lẽ đó là lý do mà quân địch quá khiếp vía cho là đoàn quân này có lẽ từ trên Trời xuống chắc mà phải đánh bàì "chém vè" bỏ cả bữa cơm chiều vừa nấu chín. Tiểu đoàn vừa qua cũng vì bãi mìn này mà phải rút lui và nhường trận địa lại cho đại đội trinh sát.



Tổng kết lại phía đại đội chỉ có năm binh lính bị thương và đã được trực thăng đến bốc ngay về hậu cứ và không có một tử vong nào. Những viên đạn của địch cũng đan chéo qua mũ sắt và áo trận của anh nhưng không một viên nào trúng người.



Từ đó anh còn nổi tiếng là một cấp chỉ huy không sát quân và binh lính dưới quyền lại càng thêm tin tưởng vào cấp chỉ huy của mình, và đại đội lại càng lập nên nhiều chiến công hiển hách hơn nữa.



Có một lần đại đội được bốc và thẩy vào mật khu của địch để phá hủy căn cứ của một tiểu đoàn địch. Khi vừa chạm chân xuống đất thì anh có linh tính như là mình đang trong tình thế cực kỳ lâm nguy vì tin tình báo đã không chính xác và đại đội của anh đã bị phục kích bởi không phải một tiểu đoàn mà có lẽ quân số và hỏa lực của địch phải là cấp trung đoàn.



Địch đã được lệnh từ Trung Ương để xoá sổ đại đội trinh sát ưu tú của trung đoàn 7 này bởi vì tuy ở cấp đại đội nhưng với một chiến thuật hành quân chớp nhoáng đã gây cho địch quân những tổn thất nặng nề và là cái gai mà chúng cần phải nhổ.



Dù đang trong vạn phần hiểm nguy nhưng anh vẫn bình tĩnh chỉ huy các trung đội liên lạc với nhau và tìm đường rút ra ngay khỏi mật khu. Những khẩu đại liên, trung liên, súng cối và tiểu liên của địch thi nhau nã vào những người chiến sĩ trinh sát đang thất thế nằm ép dưới các gốc cây. Anh bèn ra lệnh cho các trung đội liều chết đột phá vòng vây và cho truyền tin thông báo ngay về sư đoàn xin không quân và pháo binh yểm trợ.



Lúc đó mới thấy sự gan dạ, dũng cảm và thiện chiến của người lính trinh sát. Họ vừa chạy băng băng ra khỏi khu rừng vừa bắn trả lại địch quân bất kể sống chết trong khi pháo binh bắt đầu rót vào ngay sau lưng họ, và súng đủ loại của địch thì đang nổ rát ngay bên tai.



Vừa ra thoát khỏi vòng vây của địch, anh bèn kiểm lại quân số thì rất mừng trong bụng vì chỉ có bốn tử vong và khoảng một chục thương tích khá nặng nhưng đồng đội đã di tản ra được vùng an toàn, thật như là một phép lạ vì anh ước tính là tổn thất có thể hơn nửa đại đội sẽ phải nằm lại vĩnh viễn trong khu rừng đó. Bản thân anh thì áo trận rách nhiều chỗ vì cây rừng và lỗ chỗ vết đạn nhưng anh và cả bốn Thiếu Úy trung đội trưởng đều bình an.



Trong số bốn tử vong có một hạ sỹ cận vệ của anh và một người lính gốc Hoa tên là Tý mà anh rất thương.



Khi về Sàigòn nghỉ phép ngắn hạn và áo còn vương bụi đường, anh đã cùng hai cận vệ đến tận nhà từng người lính đã hy sinh trong trận phục kích để thăm viếng gia đình và ủy lạo.



Gần căn cứ Lai Khê có một ngôi đền nên anh đã thu xếp để cùng với các sĩ quan đại đội đến cúng cho những người lính anh hùng vừa nằm xuống.



Một hôm một chuyện thật lạ lùng xẩy ra khi anh đang trong doanh trại của đại đội. Bất ngờ có hai lính gác cổng dẫn vào một lính trinh sát có vẻ như say rượu, anh nhìn ra thì đó là binh nhất tên Sơn. Khi nhìn thấy anh thì Sơn phân bua:



-"Em nói là cho em vào gập Trung Úy nhưng tụi gác cổng này không cho vào lại còn nói là còn nói là mày say rượu vào gập ổng cho mấy củ bây giờ. Em có bảo cho tụi nó biết là em không phải Sơn mà là thằng Tý."
-"Mày ẩu vậy hả, ổng bây giờ là đại úy sao mày cứ kêu Trung Úy?"
Lấy làm lạ, anh bèn ra lệnh cho mấy người lính buông Sơn ra để xem hắn nói chuyện gì.
Anh và các lính gác cổng và cả mấy sĩ quan trinh sát đang ngồi trong văn phòng với anh đều hết sức ngạc nhiên khi biết là Tý người lính đã hy sinh trong trận phục kích đang nhập vào Sơn là tên bạn thân của hắn để về thăm vị chỉ huy của mình:


-"Trung Úy biết không, em vì vắn số nên ra đi hôm đó và rất cám ơn Trung Úy đã đến nhà báo tin cho gia đình em ở Chợ Lớn. Em tên thật không phải là Tý cho nên các thứ đồ ăn trái cây mà Trung Úy đem ra ngôi đền cúng cho em thì không phải tên em nên em không nhận được và mấy ông trong đền ăn hết. Hôm nay, em xin được một chút thời gian để đến đây cám ơn Trung Úy. Thôi! em phải đi đây, cái ông Thần giữ cửa đang thúc em đi đây. Trung Úy nói mấy người này giữ dùm cho em đi nhe."



Anh vốn theo đạo Phật và tin vào thuyết luân hồi nên anh tin là hồn của binh nhất Tý đã nhập vào Sơn để vào đây. Anh bèn ra lệnh cho mấy lính gác mạnh khoẻ ghì chặt lấy Sơn. Chỉ thấy thoáng một cái, mấy người lính như bị một sức mạnh nào làm cho bật tung ra mấy phía, còn anh chàng Sơn thì như người vừa ngủ dậy và đang ngơ ngác và sợ hãi không biết mình tội gì mà bị điệu lên văn phòng của đại đội trưởng.



Sau Tết Mậu Thân thì anh được đặc cách lên nắm tiểu đoàn và tạm biệt những người lính thân thương của trinh sát.



Năm một chín bẩy mươi, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà (QLVNCH) chính thức mở đợt tấn công qua Căm Bốt để phá hủy các căn cứ hậu cần của VC và BV. Các căn cứ này nhận được các vũ khí đạn dược, xăng dầu, v.v., là do đường tiếp tế của chúng từ ngoài Bắc chạy qua bên Lào dọc theo đường mòn Trường Sơn kéo dài xuống tới Miên để xâm nhập vào miền Nam.



Người Sàigòn bắt đầu làm quen với những địa danh Kratie, Kompong Cham trên báo chí hàng ngày nhưng vẫn không đo lường được một cuộc chiến khốc liệt đang diễn ra trên xứ Chùa Tháp.

Sư Đoàn 5 bộ binh trong đó có tiểu đoàn do Đại Úy Quang làm tiểu đoàn trưởng cùng với các binh chủng ưu tú và các sư đoàn bạn hùng dũng tiến vào Campuchia - nơi mà Cộng Sản đã lợi dụng sự trung lập của đất nước này làm căn cứ địa để tấn công vào mạng sườn phía Tây của miền Nam.



Đây là một chiến dịch vĩ đại nhất để tận diệt VC và quân BV ngay trong hang ổ của chúng bên Campuchia. Sư đoàn 5 Bộ Binh đã chiến đấu một cách oai hùng và tiểu đoàn do Đại Úy Quang chỉ huy đã hành quân liên miên không ngừng nghỉ hàng tháng trời cho đến kiệt sức. Có những người lính đã không còn cầm nổi cây súng và tiểu đoàn trưởng nhiều lúc đã phải xách súng dùm cho binh lính của mình.



Phần thưởng xứng đáng nhất chính là thành quả rực rỡ của chiến dịch với các khu hậu cần của địch bị phá hủy và san bằng; và ý định của địch nhằm tấn công vào các tỉnh miền Nam đã bị đổ vỡ. Địch đã phải đợi đến hai năm sau thì chúng mới mở được trận tấn công vào một quận lỵ nhỏ bé là An Lộc, tỉnh Bình Long.



Sau chiến thắng vang dội tại Campuchia, Đại Úy Quang được thăng lên Thiếu Tá. Tổng Thống Thiệu đã nhiệt liệt khen ngợi tất cả những đơn vị đã tham gia vào chiến dịch tại Campuchia.



Tổng Thống ban khen, trao tặng huy chương, và phần thưởng đặc biệt là một tuần nghỉ phép tại Đài Loan cho các sĩ quan và binh sĩ ưu tú của chiến dịch.



Thiếu Tá Quang có tên trong những sĩ quan đó nhưng anh đã đề nghị lên cấp trên dành vinh dự đó cho một binh lính trong tiểu đoàn đã lập được nhiều công trận nhất trước sự ngạc nhiên và thán phục của cả tiểu đoàn.



Nhưng sự thử lửa được xem như một cuộc đại chiến thư hùng giữa ba sư đoàn BV và Lữ Đoàn 1 Nhẩy Dù, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù và Sư Đoàn 5 Bộ Binh đã diễn ra ngay tại An Lộc hai năm sau đó, một lần nữa đã đem lại vinh quang sáng chói cho QLVNCH nói chung và Sư đoàn 5 BB trong đó có tiểu đoàn của Thiếu Tá Quang nói riêng.



Thế giới thường nhắc đến trận Điện Biên Phủ với 55 ngày quân Pháp bị Việt Minh bao vây và cuối cùng là sự đầu hàng của Pháp đưa đến việc đất nước bị chia cắt ra làm hai, nhưng với An Lộc thì cường độ cuộc chiến còn ác liệt gấp nhiều lần hơn trận Điện Biên.



Địch quân đã "hạ quyết tâm" để san bằng An Lộc bằng mọi giá rồi tiến chiếm tỉnh Bình Long trên đường thẳng tấn công vào Sàigòn.



Chính vì thế mà trong gần 100 ngày - tức là gấp đôi thời gian của trận Điện Biên - bao vây An Lộc, mỗi ngày địch quân pháo hàng chục ngàn quả vào các đơn vị tử thủ của QLVNCH trong thị trấn An Lộc, một thị trấn nhỏ bé với chu vi mỗi chiều khoảng một cây số.

Chúng vẫn áp dụng chiến thuật cổ điển là "tiền pháo hậu xung" nhưng những đợt tấn công của chúng đều bị đẩy lui và chúng bị thiệt hại nặng và tinh thần binh lính của BV đã bắt đầu giao động trước sức kháng cự mãnh liệt của lực lượng tử thủ.

Để thực hiện cho được chỉ thị san bằng An Lộc và dâng chiến công lên cho quan thầy Nga-Tầu Cộng, các binh lính BV đã buộc phải cố thủ trên các cây chung quanh thị trấn và chân của họ đều bị xích vào thân cây để không chạy trốn được; các pháo thủ thì bị xích vào trong xe tăng của họ; và bất kỳ bộ đội BV nào mà tháo chạy thì sẽ bị chính cấp trên của họ "xử lý" ngay tại chỗ.


Những đợt pháo ngày đêm nã vào thị trấn ròng rã ba tháng trời đã hầu như san bằng thị trấn và không còn một căn nhà nào cũng như không còn một ngọn cây nào đứng vững nổi. Những người sống sót thẩy đều nằm sâu hay núp dưới giao thông hào hay hầm trú ẩn.



Những giây phút nào mà địch quân im tiếng súng và ngưng pháo kích thì mọi người đều cảm thấy một sự im lặng kỳ lạ khó tả.



Thiếu Tá Quang, một cố vấn Mỹ, 15 người lính Sư đoàn 5, và một con chó trú ẩn trong một cái hầm kích thước không hơn 9 mét vuông. Sau này khi thoát chết trở về, anh nghĩ rằng anh rất may mắn có lẽ nhờ vào sự linh thiêng của pho tượng Phật ngọc thạch mà anh đã bỏ vào ba lô khi dân chúng trong vùng chạy trốn đạn pháo kích đã bỏ rơi trên đường.


Thế nhưng âm mưu xoá sổ An Lộc của địch quân đã thảm bại và chúng đã chuốc lấy thất bại cay đắng khi các lực lượng tiếp viện của QLVNCH từ ngoài đánh chọc thủng vòng vây của chúng và lực lượng tử thủ từ trong đánh chúng bật ra.


Tướng chỉ huy trận tử thủ An Lộc là Lê Văn Hưng và QLVNCH đã chiến thắng vẻ vang, và một cô giáo đã viết ra hai câu thơ bất hủ: "An Lộc địa sử lưu chiến tích, Biệt Cách Dù vị quốc vong thân."

Trong suốt ba tháng anh tôi tử thủ tại An Lộc, đêm nào Mẹ tôi cũng ra ban công khấn vái hay đi lễ các Đền, Chùa cho anh tôi và các binh sĩ tử thủ được bình an.


Khi anh về đến Saìgòn người đầu tiên anh ôm chầm lấy là Mẹ: -"Mẹ ơi! con đã trở về bình an".



Vì anh là con trưởng nên sau trận An Lộc Mẹ tôi quyết định là anh phải lập gia đình dù cuộc đời tác chiến còn nhiều gian nguy.



Anh vâng lời Mẹ và kết hôn với một người con gái miệt vườn Lái Thiêu, người mà sau chuyến lên căn cứ Lai Khê để tham dự buổi khao quân của đại đội trinh sát đã đem lòng thương yêu người sĩ quan trẻ tuổi khóa 20 Võ Bị Đà Lạt ấy.



Sau trận An Lộc, anh vẫn tiếp tục nắm tiểu đoàn và theo đuổi con đường binh nghiệp tác chiến của mình và lập nhiều chiến công hiển hách khác cho Sư Đoàn 5 Bộ Binh.



Đến ngày 30 tháng Tư năm một chín bẩy lăm khi Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng thì anh mới tập trung tiểu đoàn lại và nói những người lính đã cùng anh vào sinh ra tử hãy về quê để săn sóc gia đình.



Anh bị bắt sau đó và đưa đi tập trung "cải tạo" tám năm. Khi ra khỏi trại giam, anh về quê sống với vợ con được ba năm thì ra đi một cách đột ngột vì bệnh tai biến mạch máu não trong lúc đang ôm thằng con út trong giấc ngủ trưa tại miệt vườn Lái Thiêu. Một giấc ngủ bình yên của một người trai đã hoàn thành xong nhiệm vụ của mình khi đất nước miền Nam đang trong thời binh lửa.



Vợ con anh đều đã được qua Mỹ định cư, hiện nay người vợ sinh sống tại New Hampshire, con gái lớn của anh là Thoa, một Đại Úy Không Quân Hoa Kỳ đang theo học Doctor of Pharmacy tại Florida. Cháu gái thứ hai là Thảo, tốt nghiệp bằng Master và đang làm việc tại San Francisco, cháu út là Thắng tốt nghiệp Mechanical engineer tại New York.



Anh là một người con hiếu thảo, một người anh đạo đức, một người cha gương mẫu, và là một thanh niên yêu quê hương đất nước mình và đã nghe theo tiếng gọi của núi sông, cùng với các chàng trai khác trong miền Nam anh dũng đứng lên chống lại cuộc xâm lăng tàn bạo của Cộng nô từ Bắc xâm nhập vào miền Nam.



Dù là miền Nam đã không may mất vào tay Cộng Sản ngày 30-4-1975 và dù lịch sử đã sang trang, nhưng những chiến công oai hùng của anh, của Sư Đoàn 5 BB, của các đơn vị tinh nhuệ của các binh chủng của QLVNCH và của tất cả các dân quân cán chính chế độ VNCH sẽ không bao giờ phai mờ trong lịch sử dân tộc. 

Phạm G. Đại

Viết xong tại California nhân ngày giỗ anh Phạm Gia Quang,

Khoá 20 Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt


Đông Tàn Xuân Lại Đến
Tùy Bút của Phạm G. Đại

Những năm tháng chúng ta còn ở trong nước tại Miền Nam thì chỉ có hai mùa mưa và nắng. Mưa Sàigòn thì có lúc như trút nước hay như tại Miền Trung và Huế của miền sông Hương núi Ngự thì dai dẳng có khi vài tuần lễ ngập cả đường phố. Sống tại Sàigòn ngày xưa, Sàigòn, với cái tên mỹ miều là Hòn Ngọc Viễn Đông, có lẽ vì nằm tại một vị thế thật là chiến lược và cũng thật là thơ mộng uốn mình bên bờ Thái Bình Dương, thì chỉ cảm nhận được cái nóng cháy da và cái mưa ẩm ướt của miền đất hai mùa mà thôi. Miền Bắc thì tuy chưa rõ hẳn bốn mùa nhưng khi mùa Thu đến thì chúng ta đã thấy những tàng cây lá héo úa dần rồi từng đợt lá vàng lả tả rơi bay bay trong gió và không khí bắt đầu se se lạnh.
Đó là mùa mà những thi sĩ đã cho chúng ta biết bao nhiêu là những thi phẩm, những ca khúc, những áng văn tuyệt tác mà nhạc sỹ Văn Cao cũng thừa nhận rằng mùa Thu chính là mùa gây cho ông nhiều cảm xúc nhất để viết nên những bản tình ca bất hủ như Thiên Thai, Suối Mơ.
Thu qua thì Đông tới, và dù rằng chưa phải nằm trong vùng ôn đới nhưng cái lạnh căm căm của Miền Bắc cũng đủ làm cho chúng ta phải co ro trong những cơn mưa phùn gió bấc làm chúng ta nhớ lại Tự lực Văn Đoàn với những nhà văn Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam nói lên những cảnh đời nghèo khó tại Miền Bắc dưới thời Pháp thuộc nhưng con người vẫn biết yêu thương đùm bọc lẫn nhau và tình yêu như những vì sao sáng trong "Gánh Hàng Hoa", "Anh Phải Sống", với hình ảnh sống động của hai chị em đi nhặt lá bàng rơi trong giá rét mà vẫn "Lạy Trời cho gió nổi lên" thật khó mà phai mờ trong ký ức của tôi ngày còn bé.


Khi đặt chân lên miền nắng ấm của California trong chương trình định cư cho các gia đình tỵ nạn, và nhìn về những cảnh tuyết rơi phủ một lớp dầy lên cây cối và thành phố ngập mình trong giông bão của những tiểu bang miền Đông Hoa Kỳ, tôi mới thấy được cái sức sống vô cùng mãnh liệt của dân tộc Việt Nam vươn lên trên những khắc nghiệt của thời tiết, thiên tai và sự bần hàn mà chiến tranh suốt nhiều thập niên đã gây ra trên quê hương mình.



Dù đã trải qua bao nhiêu là mùa Đông trên vùng đất tạm dung này và những mùa Đông trong cuộc đời nhưng tôi vẫn không sao quên được hai mùa Đông đáng ghi nhớ nhất trong đời.



Đó là mùa Đông sau cùng trong trại tập trung cải tạo vào năm một chín chín mốt và những người tù cuối cùng vẫn chưa biết rằng qua Xuân thì họ sẽ được thả ra về. Nhịp độ lao động vẫn căng thẳng và một hôm chúng tôi được lệnh ngày mai sẽ đi khai quang một vùng đồi núi vẫn còn đầy bom mìn cách trại không xa.



Tối hôm đó nhiều người thao thức vì nghĩ đến ngày mai không biết sẽ ra sao? Không lẽ ở tù đã mười sáu năm rồi mà chết một cách âm thầm và lặng lẽ như vậy; hay "Anh sẽ trở về trên đôi nạng gỗ"?



Sáng ngày hôm sau, chúng tôi quyết định báo cho tay trật tự để anh ta báo lại cho trực trại là chúng tôi không đi lao động nếu lên ngọn đồi còn bom mìn đó. Nửa tiếng đồng hồ chờ đợi mà thấy dài như một ngày vì không biết tụi nó sẽ "xử lý" mình ra sao?



Thế rồi Trời nhủ lòng thương những con người đã quá nhiều khổ đau này và một đội tù hình sự trẻ đã được điều động để thay thế cho đội tù chính trị và chúng tôi lại vác cuốc đi cầy ở một khu rừng thưa gần ven lộ.



Trong giờ "giải lao", anh Dậu, Trung tá Biệt Động Quân, và là một người bạn thân mà tôi coi như một người anh, đã hứng chí rủ tôi lẻn ra ngoài lộ kiếm tiệm cà phê ngắm thiên hạ xem sao. Từ chỗ đứng cuốc đất, tôi đã nhìn thấy cái tiệm cà phê đó rồi nên bảo với một tên bạn thân khác là tôi và anh Dậu vào rừng đi vệ sinh, rồi biến lẹ xuống chân đồi và ung dung vào quán mua hai ly cà phê ngồi nhâm nhi, nghe nhạc Trịnh Công Sơn và những bản nhạc xưa mà lòng mình như lắng đọng lại. Saigòn giờ này em ở đâu, những con đường năm xưa Nguyễn Huệ, Lê Lợi, dạo phố Bô Na xe pháo dập dìu ngày xưa nay đâu rồi?

Hai anh em như trong một thoáng giây quên đi những nỗi nhọc nhằn của đời người và nhanh chóng trả tiền cô hàng cà phê và leo lên dốc để nhập vào đội. Vẫn chưa ai "phát hiện"được gì. Có lẽ ông Thần may mắn đang ở phía chúng tôi.



Mùa Đông thứ hai ghi sâu kỷ niệm trong tôi là năm đầu tiên khi tôi được thả về Sàigòn năm sau đó. Lúc đó vào tháng Mười âm lịch, tôi lên chùa Thới Hòa trên đường Quang Trung thuộc quận Gò Vấp, SàiGòn, vừa để thăm thầy của tôi là Hòa Thượng trụ trì và cũng để theo đoàn xe đò xuôi về Châu Đốc trong một chuyến hành hương ba ngày. Thầy Tâm cũng đi trong chuyến đó để hướng dẫn, và khi đến địa phận tỉnh Châu Đốc thì thấy bất cứ một ngôi chùa nào cũng đều ghé vào lễ Phật và gom tiền lại ít nhiều để cúng dường. Thầy nói rằng chuyến đi này công đức nhiều lắm và mọi người hầu như quên cả mỏi mêt.



Tôi nhớ có một ngôi chùa hình như Thiên Vân Tự thật là lạ lùng bởi vì từ dưới chân núi bắt đầu leo lên những bực thang đá, cứ một trăm bực thang lại có một gian nhà nhỏ có băng đá để nghỉ chân.



Tôi không nhớ là đã qua được bao nhiêu gian nhà nhỏ như vậy thì bắt đầu thấy mình đang đi xuyên qua những vùng mây trắng và chung quanh mình là những núi đồi và mây mù và nghe thoang thoảng tiếng chim hót văng vẳng đâu đây.



Con đường với hàng mấy ngàn bực thang bằng đá trắng cứ dẫn chúng tôi leo mãi; hỏi ra mới biết con đường này được gọi là...đường lên Trời.



Thế rồi Thầy ra hiệu cho mọi người dừng lại và chỉ con suối trong vắt đang chảy róc rách lượn quanh những bực thang và nói rằng đây là Suối Tẩy Trần.



Tương truyền rằng những ai lên được tới đây cũng như đã lên được tiên cảnh và rửa mặt và hai bàn tay tại đây thì sẽ gột rửa được bụi hồng trần. Mỗi bực thang đá đều được tạc rộng vừa đủ cho hai người cùng sánh bước và có lan can hai bên để vịn tay đã nói lên bao nhiêu là công phu của vị sư nào đã trụ trì ngôi chùa ở đỉnh núi quanh năm mây mù bao phủ tuốt trên kia. Vì Trời đã ngả bóng chiều cho nên Thầy bảo mọi người nghỉ ngơi tại lưng chừng núi để chuẩn bị leo xuống và về thị xã Châu Đốc.

Tôi cứ tiếc mãi là đã không lên được đến đỉnh núi để vào chùa lễ Phật và tham kiến vị sư trụ trì. Có lẽ nhân duyên chỉ đến đó mà thôi. Tuy nhiên tôi cũng rất lấy làm khoan khoái trong lòng vì đã được rửa mặt và hai bàn tay nơi con suối trong vắt đượm mầu linh thiêng ấy.



Trong chuyến hành hương năm đó, tôi có cơ duyên được đến lễ bái tại Đền Bà Chúa Xứ Thánh Mẫu, núi Sam, Châu Đốc; và tận mắt nhìn thấy tượng của Bà được tạc bằng đá xanh mà những đệ tử của Bà mỗi năm từ Sàigòn xuống cầu xin đều nói rằng tượng của Bà mỗi năm mỗi lớn ra. Buổi tối hôm đó chúng tôi được xe đò chở đến chùa Châu Viên để cư ngụ. Sư Ông là thầy của Thầy Tâm là vị sư trụ trì trước kia tại chùa Châu Viên nửa thế kỷ trước và sau đó đã bị Việt Minh sát hại.



Sau cơn mưa thì Trời lại sáng hay sau những ngày ảm đạm của mùa Đông thì cây cối lại đâm chồi nẩy lộc và mùa Xuân lại mang đến những luồng gió trong lành.

Cuộc đời con người ta cũng vậy đều xoay vần theo Tạo Hóa. Thu qua, Đông tàn, Xuân lại tới. Qua cơn bĩ cực tới hồi thái lai hay cùng thì tất biến mà biến thì tất thông.


Cuộc đời tôi cũng giống như hàng ngàn cuộc đời trôi nổi của người trai đất Việt. Lìa xa nơi chôn nhau cắt rốn năm một chín năm tư để di cư vào miền Nam, rồi rời bỏ Sàigòn bao nhiêu là năm lúc tuổi còn xanh để vào chốn tăm tối.
Khi trở lại Sàigòn thì trên đầu tóc đã hai mầu. Rồi mùa Xuân đã trở về với những người con đất Việt khi đặt chân được lên vùng đất hồi sinh này và bầu trời Tự Do đã rộng mở trước mắt họ.
Sáng nay tôi thức dậy rất sớm, có lẽ vì nghe tiếng chim hót líu lo trên cành bên ngoài cửa sổ. Những con chim này đã vắng bóng rất lâu trong mùa Đông, có thể nó đã bay về vùng ấm áp hơn tương tự như những bầy chim Én của ngôi Nhà Thờ tại San Juan Capistrano mà bài bát cùng tên tôi đã một thời yêu thích qua giọng ca trầm ấm của Pat Boone. ..."When the swallows come back to Capistrano, it’s the time I pray that you come back to me…"


Bây giờ chúng những con chim Én đó đã trở lại bên ngoài song cửa nhà tôi như nhắc nhở mọi người rằng mùa Xuân đến rồi đó và hãy thương yêu nhau đi khi mùa Đông giá lạnh đang tan dần.

Viết xong cuối mùa Đông tại California

Phạm G. Đại


Đông Y - Tây Y 

Đông Y thì đã có tự lâu đời rồi trên đất nước Việt Nam chúng ta, còn Tây Y mới manh nha vào giữa thế kỷ thứ mười chín khi năm một chín năm tám tầu chiến của Thực Dân Pháp ghé vào khu vực cảng Đà Nẵng mở màn cho việc xâm chiếm Việt Nam làm thuộc địa.

Từ đó Tây Y đã đem lại nhiều điều vừa mới mẻ vừa kỳ diệu trong việc chữa trị cho chúng ta và một số căn bệnh trước kia cho là nan y như Lao, Phong, Cổ, Lại, v.v. vào thời đại của chúng ta đã không còn là nan y nữa.
Ông cụ thân sinh ra tôi theo Tây học và rất ưa chuộng nền văn minh Pháp quốc và đọc toàn là sách báo và dùng hàng hóa của Pháp, cái gì cũng "còm măng" từ Tây về, và xây cái nhà mới cũng theo kiểu tây phương. Vào thời gian đầu thập niên năm mươi thì đó là cả một sự mới mẻ và tân tiến.

Ông Nội tội lại là một ông nhà nho, một thầy thuốc Đông Y suốt bốn mùa lúc nào cũng khăn đóng áo dài và đi đâu thì tay cũng vung vẩy cây dù, nắng hay mưa cũng vậy. Tôi rất thích mỗi khi được ông cõng trên vai đến cửa hiệu thuốc Đông y của ông trên phố Cầu Đất để nghe ông giã thuốc tiếng kêu leng keng hay được ăn những quả ô mai thật là ngon hay ngậm những miếng cam thảo thật là ngọt.
Tôi yêu thương Bố tôi từ khi còn nhỏ một phần vì kính phục sự học cao hiểu rộng của ông, một phần vì nhờ Bố tôi mà tôi và các anh trai của tôi đã được sự giáo dục mới theo Tây phương và được đi học tại trường Saint Joseph, một trường đạo và tư thục nổi tiếng tại Hải Phòng.

Bố tôi thường dậy cho chúng tôi những điều thường thức hàng ngày như trước khi ăn thì phải rửa tay sà phòng và trước khi đi ngủ thì phải rửa mặt và tay chân mà tôi vẫn còn ghi nhớ đến bây giờ.
Ông Nội tôi thì ngược lại, cụ chống đối kịch liệt việc Mẹ tôi thường cho chúng tôi tắm rửa hàng ngày và cho rằng tắm nhiều là mang bệnh vào người, bởi thế Mẹ tôi gọi ông là Xuân Thu nhị kỳ mới tắm một lần.
Chúng tôi gọi ông Nội là Ông Nghị vì ông có một thời đã làm nghị viên thành phố nhưng ông đã làm cho tôi rất là ngạc nhiên về sự sáng chế thần kỳ của ông về các loại đồ chơi trẻ em. Tôi vẫn chưa hiểu làm sao mà ông đã đúc được những thằng lính vác súng bằng thiếc, những xe jeep có bánh xe đẩy thì chạy được, toa xe lửa chạy trên đường ray, chiếc tầu thủy bằng sắt chạy được trên chậu nước nếu gắn một miếng sà phòng nhỏ dưới đáy tầu, và cái lồng đèn kéo quân cho rằm tháng Tám Trung Thu thì tuyệt đẹp mỗi khi thắp một ngọn nến bên trong thì nó từ từ quay và hiện lên hình những kiệu, những võng, những quân lính chay vòng vòng thật là vui.

Ông Nội tôi có bốn anh em, Ông là anh cả, kế đến là ông Đốc. Gọi là ông Đốc vì ông là bác sỹ, lúc đó vào thập niên bốn mươi số lượng bác sỹ còn rất là ít ỏi. Hai anh em, anh thì Đông Y còn em lại là Tây Y, nhưng với cả hai ông, tôi đều đem lòng kính trọng vì cả hai ông đều giỏi trong lĩnh vực chuyên môn của mình và đều có lòng nhân ái, là điều cần thiết nhất của những người trong ngành Y.
Ông Đốc vì cuộc hôn nhân không được như ý, đã xin chuyển về làm việc ở mạn ngược trong tỉnh Yên Bái trong lúc cuộc chiến tranh Nhật Pháp đang diễn ra trên đất nước Việt Nam. Trong thời gian này, ông mở thêm phòng mạch tại nhà và khám bệnh miễn phí cho rất nhiều người thuộc dân tộc thiểu số như người Nùng, Mường, Tày, Thái, Thổ, vì họ quá nghèo; và những bệnh nhân này thường đem biếu ông, ân nhân của họ, những con gà và những thứ hoa mầu mà họ trồng được. Tiếng lành đồn xa cho nên dân chúng ở những vùng xa xôi cũng lục tục kéo đến nhờ ông chữa bệnh rất nhiều. Trong số những gia đình bệnh nhân này có một cô con gái rất là duyên dáng và lịch lãm  người dân tộc Thổ mà sau này đã xe duyên kết tóc với ông và thành bà Đốc. Một cuộc tình thật đẹp và lãng mạn lồng trong khung cảnh chiến tranh tàn khốc bom đạn khắp nơi của miền thượng du Bắc Việt.

Cuộc đời của ông Đốc có rất nhiều kỳ tích nhưng câu chuyện mà tôi nhớ nhiều nhất là về một anh bệnh nhân người dân tộc Mường.
Anh bệnh nhân Kra Tưng người dân tộc Mường này đã bị lao phổi qua thời kỳ thứ ba, cho nên sau một thời gian điều trị ông Đốc đã bảo anh nên về quê an dưỡng để có thể chết tại quê nhà của anh, vì ông biết là không thể chữa được nữa rồi.

Thế rồi khoảng gần một năm sau, anh chàng Kra Tưng này đột ngột xuất hiện khỏe mạnh và đem một số quà cáp đến phòng mạch để biếu ông Đốc ân nhân của anh ta. Ông rất là ngạc nhiên bèn gọi anh vào để khám bệnh lại và cho chụp quang tuyến thì lạ lùng thay hai lá phổi của anh Kra Tưng này như mọc ra hai lá phổi mới và không còn một dấu vết gì của bệnh lao phổi năm trước. Ông gạn hỏi mãi thì anh ta mới nói thực là khi về quê để nằm chờ chết thì có một người bạn thân hành nghề Đông Y đến thăm thấy vậy mới bảo anh chờ một chút rồi vào rừng hái một nắm lá, sắc lên cho anh uống. Anh cứ uống ngày này qua ngày kia và càng uống thì thấy trong người càng khỏe ra và da dẻ bắt đầu hồng hào trở lại. Một hôm người bạn đến thăm và bảo cho anh biết là anh đã hoàn toàn bình phục và có thể ngưng uống loại thuốc này; anh sực nhớ đến ông Đốc là an nhân của anh nên chuẩn bị quà cáp và áo quần tươm tất để ghé thăm ông bác sỹ.
Ông có hỏi anh đó là loại lá gì và tên mà người dân tộc gọi nó là gì thì anh không biết. Ông rất là mừng rỡ vì anh đã khỏi một căn bệnh nan y thật lạ kỳ và bảo anh cố gắng trở về tìm người bạn đó và xin ít lá cho ông để có thể cứu giúp nhiều bệnh nhân khác sau này. 
Nhưng ông chờ mãi và anh Kra Tưng không bao giờ trở lại.

Ông Nội tôi thì thường hay chữa bệnh cho chúng tôi những khi đau ốm, nhất là những bệnh cảm thử, cảm hàn, lên đậu mùa, hay sởi thì ông trị rất là hay, hơn cả là thuốc tây nữa. Ông nói rằng phải dùng thuốc ta thì mới trục được hết cái gốc của bệnh cảm và sởi hay đậu mùa chứ thuốc tây không làm được. Nếu không trục được hết nó ra thì sau này có thể gây ra những biến chứng không tốt.
Anh thứ hai của tôi trong thời gian chiến tranh Nhật Pháp, có thể vì gia đình Ba mẹ tôi cứ phải tản cư liên miên để tránh bom đạn cả hai phía cho nên thiếu dinh dưỡng và bị bệnh cam tẩu mã. Tôi chẳng biết là bệnh gì nhưng hai hàm răng của anh đều bị lung lay và ông nói nếu không chữa thì sẽ không còn chiếc răng nào nữa. Chỉ thấy ông hòa chế ra một thứ thuốc gì hơi đặc như cao rồi đắp vào hai hàm răng cho anh tôi; và chỉ vài ngày sau thì anh tôi lại ăn uống được như thường, thật là lạ lùng.

Gia đình họ Phạm của tôi, hay nói đúng hơn là của ông Nội tôi, có một thứ thuốc gia truyền hiệu quả như thần là cao dán. Cũng ông anh thứ hai của tôi một hôm chạy chơi trong vùng tản cư thì bị ngã và một chiếc đinh sắt rỉ đâm vào dưới đầu gối sau đó bị mưng mủ và ăn sâu vào bên trong.

Thuốc tây thời đó rất là khan hiếm nên ông Nội lại đưa cho thứ cao gia truyền này và sau khi lấy sạch các mủ ra thì trét cao đầy vào và kỳ lạ thay chỗ bị thương đó thịt cứ dần dần đùn lên và anh tôi lại chạy chơi bình thường.

Họ hàng xa gần đều xin mỗi nhà một hũ cao này để dành vì trong thời gian tản cư rất nhiều người bị bệnh lở tay chân, hay bị căn bệnh ghê gớm là sâu quảng rất đau đớn vì nó cứ ăn sâu vào trong tay chân hay thân người mình. Cao này đều trị sạch hết những bệnh đó và công dụng đúng là như thần.
Sau này khi di cư vào Nam và khi gia đình đang sống tại Nha Trang, lúc đó tôi đang học lớp Nhất trường Nam thì Ba tôi quyết định nấu một nồi cao này.

Tôi chỉ biết rằng nguyên liệu chính là tóc và sáp và một số món thuốc ta và khi nấu thì nó tỏa ra một mùi khét không thể chịu nổi. Không ngờ đó là nồi cao cuối cùng vì sau khi Ba tôi mất thì Mẹ tôi quá bận rộn buôn bán trả nợ nần và tụi tôi còn quá nhỏ không để ý nữa cho nên toa thuốc cao gia truyền này đã bị thất lạc khi gia đình di chuyển vào Sàigòn.

Trong thời gian lưu đầy tại các trại giam miền Bắc tôi có duyên gặp được hai người thầy thuốc và châm cứu người Tầu thật là giỏi. Cả hai đều bị bắt tại vùng biên giới Việt - Trung vì nghi tội làm gián điệp. Một phần cũng nhờ ông Tướng Lê Văn Thân, người đã được ông thầy Tầu truyền lại nghề châm cứu. Khi tiếp xúc với hai ông thầy Tầu này thì thấy họ rất là hòa nhã và tỏ ra rất là có thiện cảm với anh em tù chính trị tụi tôi và tôi lại nhận ra được một điều cụ thể là người dân Việt cũng như dân Trung Hoa cũng đều là nạn nhân của một chế độ Cộng Sản vô nhân đạo mà thôi chứ bản thân họ cũng là con người có tình cảm và lương tri.

Qua Tướng Thân chúng tôi bí mật tổ chức một cuộc khám, chẩn, và chữa bệnh cho các anh em tù nhân chính trị tại một buồng giam và mời hai ông thầy Tầu này qua. Trước kia, nói thật tôi cũng không tin tưởng lắm vào việc chẩn mạch hay châm cứu dù là ông Nội tôi là thầy thuốc rất giỏi nhưng sau buổi khám chữa bệnh này quan niệm của tôi đã hoàn toàn thay đổi vì không tin vào chính mắt của mình nữa.

Hai ông, một trẻ khoảng chừng ba mươi tuổi chuyên về chẩn mạch và kê toa thuốc tụi tôi gọi là ông Sinh, một ông khoảng gần sáu mươi nhưng vẫn còn rất khỏe mạnh gọi là ông Wong chuyên về châm cứu và là thông ngôn luôn cho ông trẻ vì ông này chỉ nói được tiếng Tầu.

Lần lượt các bạn tôi từng người một được bắt mạch và những ai cần được chữa trị thì đứng qua một bên để chờ châm cứu. Ông Sinh chỉ cần bắt mạch và đôi khi cần thiết mới khám cổ họng và nói từng căn bệnh trong người của từng người một. Tụi tôi ai cũng thầm phục cái tài bắt mạch của ông. Anh Lạc bạn tôi, Thiếu Tá Cảnh Sát Đặc Biệt, nói nhỏ vào tai tôi là anh sẽ vào khám bệnh dù là chẳng có bệnh gì hết và nếu cha này mà nói anh có bệnh gì là ba xạo. Thế rồi khi đi ra anh chàng Lạc này hết sức ngạc nhiên và nói với tôi rằng hắn giỏi thật và bảo anh ráng giữ sức khỏe chứ không có bệnh tật gì hết. Anh Hiểu, người về từ tầu Việt Nam Thương Tín thì bị trĩ khá nặng nhưng không rõ ông Sinh có chẩn bệnh được không? Tôi đứng bên cạnh Hiểu thì thấy sau khi bắt mạch xong, khám cổ họng xong thì ông Sinh có vẻ bối rối nói một tràng tiếng Tầu, ông Wong cũng không thông ngôn được cho nên xin một miếng giấy và ông Sinh khi vẽ xong căn bệnh của Hoàng Hiểu thì ai cũng cười ồ lên. 

Ông Wong nói là không chữa hết được nhưng sẽ thuyên giảm nhiều bằng châm cứu cho anh Hiểu và ông lấy ra một cái kim bằng bạc lể dọc hai bên lưng rồi lấy ra những sợi trăng trắng giống như sợi chỉ bọc mỡ đặc. 

Quả thật sau đó anh Hiểu bớt hẳn căn bệnh trĩ đã từng gây cho anh bao nhiêu là đau khổ. Anh Bửu Uy thì bao tử đau kinh niên và ông Wong nói sẽ nâng bao tử lên một chút thì sẽ đỡ nhiều vì không có thuốc uống. Ngay trước mắt tôi, ông dùng hai cây kim bạc dài khoảng  mười lăm centimet và  thọc chéo và ngập sâu vào bụng anh Uy; sau đó bệnh bao tử của anh Uy thuyên giảm thấy rõ. Ông mục sư Lộc không tin và ông Wong nói là với châm cứu có thể làm cho nhãn lực mình sáng lên hay mờ đi, ông Lộc xung phong làm thí nghiệm. Chỉ thấy ông Wong ấn chiếc kim bạc vào một huyệt đạo sau vành tai trái rồi xoay nó qua bên trái thì ngay tức khắc mắt bên trái của ông Lộc mờ đi và xoay về bên phải thì lại sáng rõ trở lại. Ông Lộc đi ra khỏi phòng còn ngoái lại nói với tôi là cái ông châm cứu này nó quả là giỏi thật.
Thấy ông tướng Thân có vẻ say mê môn châm cứu cho nên ông Wong đã truyền nghề lại cho ông Thân nhưng không rõ ông tướng Thân đã học được bao nhiêu phần cho đến ngày chúng tôi phải chuyển trại.

Cho đến bây giờ tôi vẫn tin rằng ông Trời sinh ra bao nhiêu là căn bệnh thì đều có các loại thuốc để chữa hết chỉ có điều là chúng ta không biết mà thôi. Các phương thuốc ấy có thể nằm ngay trong các loài thảo mộc, các loại rễ cây, trái cây trong thiên nhiên ở trong rừng hay ngay trước mắt trong vườn nhà mình. 
Chỉ tiếc một điều là con người đầu tư quá nhiều vào chiến tranh để tàn phá lẫn nhau và tàn phá môi trường sống của họ.

Nếu trí tuệ con người và tài nguyên của các quốc gia trên thế giới được sử dụng vào nghiên cứu và khảo cứu khoa học và y tế để chữa trị các bệnh tật và giúp tăng cường tuổi thọ và sức khỏe cho con người thì không căn bệnh gì mà chúng ta không chữa trị được và thế giới này sẽ là một Thiên Đàng thu nhỏ lại.               

Cơn Gió Heo May

Lời Tác Giả: Nhân kỷ niệm ngày 30 tháng Tư năm nay, Cơn Gió Heo May sẽ đưa chúng ta trở lại một nhà tù nổi tiếng tại miền Bắc - trại Ba Sao Nam Hà - và một mối tình nhẹ như làn gió thoảng trong một buổi chiều cuối Thu; cùng với sự đổi thay mầu nhiệm về cách đối xử của dân chúng miền Bắc với các tù nhân chính trị chế độ cũ.

Lúc còn sinh sống tại miền Nam nhất là tại Sàigòn thì ít khi nào chúng ta thấy được cái khí hậu mát lạnh của mùa Thu hay cái giá rét của mùa Đông bởi Sàigòn chỉ có hai mùa mưa nắng.


Những khi nào có dịp lên Đà Lạt thì chúng ta mới hưởng được cái không khí mát mẻ của xứ sương mù, tuy nhiên gió heo may hay nắng hanh vàng của những chiều cuối Thu vẫn còn là một thực tế xa lạ đối với người Sàigòn và người dân miền Nam.



Phải chờ một năm sau khi Sàigòn đã sụp đổ thì chúng tôi mới biết được những gì mà trước đây chỉ đọc trong tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn về cái nóng đến kinh người của mùa Hè và cái giá lạnh đến hãi hùng của mùa Đông miền Bắc.



Bên cạnh cái mùa Thu thật đẹp thật thơ mộng như trong tranh vẽ với lá vàng rơi rơi lác đác, là hình ảnh mờ ảo của ngọn gió heo may hiu hiu thổi cho lá vàng bay bay trong một vùng không gian một mầu xám với những tia nắng yếu ớt còn sót lại trên những ngọn cây.



Đối với các nhạc sỹ, các nhà văn và thi sĩ thì đó là chất liệu cho nguồn cảm hứng để sáng tác, nhưng với những người tù thì đó là lúc mà tâm hồn họ như khép lại và chợt quay về với quá khứ, một quá khứ êm đềm yêu dấu và sâu kín của một Sàigòn nay đã không còn nữa. Một mùa Thu, tôi cũng không còn nhớ chính xác là năm nào, chỉ còn nhớ vào khoảng năm thứ mười một trên vùng đất Bắc lưu đầy tại trại Ba Sao Nam Hà - mà một cơn gió heo may như một lá cây sắc cạnh đã cứa vào lòng tôi một kỷ niệm khó phai mờ.



Lúc đó tôi được đưa về đội văn nghệ cũng toàn là anh em tù nhân chính trị chế độ cũ để làm những công tác tạp dịch cho trại.



Kể ra thì cũng được một chút an nhàn và lao động cũng bớt căng thẳng hơn các đội khác. Lao động thì chẳng thiếu thứ gì, từ khuân vác dọn dẹp các kho hàng, làm sạch cỏ và trang trí cho doanh trại, hay cân đo đong đếm các bao bột mì, xong việc thì mặt mũi tên nào cũng phủ đầy bột trắng xoá như Tây.



Nhưng hai việc mang nhiều ý nghĩa nhất vẫn là đi an táng các anh em đã nằm xuống và ra Phủ Lý lãnh các gói bưu phẩm mà gia đình từ trong Nam gửi ra, những gói bưu phẩm với thuốc men vật dụng thực phẩm khô là nguồn tiếp tế của gia đình đã cứu sống nhiều mạng người.



Về nghĩa vụ an táng thì những tù nhân hình sự họ tự lo về phía của họ, chúng tôi chỉ có bổn phận với những anh em tù chính trị chế độ cũ mà thôi.



Mỗi lần như thế thì phía hình sự họ giúp cho việc khuân vác và chúng tôi chỉ mang các cuốc chim để bửa đá và xẻng để xúc đất, và đi theo họ với hai cán bộ của trại hướng dẫn vào trong thung - là vùng đồi và đất bằng có thể trồng trọt được và bao quanh bởi các dẫy núi cao - để đào đất chôn cất trên ngọn đồi nghĩa trang của trại là xong.



Những nấm mồ tuy đơn sơ nhưng được đắp cao và vun rất kỹ vì sợ bò hay thú rừng ra đào bới. Mỗi lầ xong việc, chúng tôi đều kín đáo cầu nguyện cho các bạn mình đã nằm xuống bây giờ được an giấc nghìn thu, các bạn sẽ không còn bị đầy ải về cả thể xác lẫn tinh thần, mỗi sáng sẽ không còn phải nghe tiếng kẻng trại đánh thức dậy cho một ngày lao động mới "vinh quang", và sẽ không còn phải kéo dài lê thê cuộc sống tù tội không biết đến bao giờ.



Các bạn đã trả xong cái nợ với Tổ Quốc khi mà đất nước miền Nam đã tiêu tan và đang chìm đắm trong đau thương.



Có một lần khi đang cuốc đất lên trên ngọn đồi đó thì tôi đã trông thấy một cảnh tượng nói lên sức phi thường của con người.



Tụi tôi đều dừng tay cuốc tay xẻng lại và nhìn sang ngọn núi bên cạnh. Phải gọi là ngọn núi mới đúng vì nó cao ước chừng cũng hơn năm trăm thước và dốc thoai thoải, trên ngọn núi đó một bóng người nhỏ như một cây kim nhưng chúng tôi nhận ra được là một người phụ nữ chít khăn mỏ quạ trong chiếc áo dài mầu sậm và đang gồng gánh một gánh hàng gì đó leo dốc từ bên kia quả núi và từ từ hiện lên ở đỉnh núi nổi bật trên nền trời xanh thẳm và từ từ gánh gánh hàng đó xuống núi phía bên này có lẽ trên đường ra chợ.



Tôi thật là khâm phục người phụ nữ đó, vì với chúng tôi dù chỉ đi hai tay không cũng chưa chắc đã leo nổi cái dốc núi bên kia để lại leo xuống cái dốc bên này trên một ngọn núi cao như vậy.



Một lúc sau thì bóng người phụ nữ đó từ từ biến mất sau rừng cây trên dốc núi một cách âm thầm nhưng đã để lại trong tôi một cảm nghĩ phi thường về sức chịu đựng dẻo dai và tài giỏi của con người mà đó lại là một người chân yếu tay mềm để vượt qua trở ngại của thiên nhiên. 

Sau này thì tôi mới biết là mình lầm to vì trong cái xã hội chủ nghĩa luôn hô to khẩu hiệu tại mọi nơi ở miền Bắc để đề cao người phụ nữ thì chính là cái xã hội mà người đàn bà đã phải gồng gánh những công việc cực nhọc nhất thay cho đàn ông trong mọi ngành nghề. Người phụ nữ miền Bắc đã được rèn luyện từ lâu rồi để chu toàn công việc "Ba Đảm Đang" nghĩa là ôm lấy hết các việc nhà và việc ngoài đời để cho Đảng và Nhà Nước trưng thu hết các phái đàn ông và thanh niên rồi gửi họ vào miền Nam "giải phóng" và "chống Mỹ cứu nước".


Nhìn hình ảnh người phụ nữ vượt núi đó, câu ca dao ngày xưa - "đường đi không khó vì ngăn sông cách núi" - quả là đúng.



Trong những năm cuối còn ở tại trại Ba Sao, một điều may mắn là sự đối xử của trại và khu gia binh của họ với anh em chúng tôi cũng đã hoàn toàn khác hẳn, không còn nhìn nhau hằn học như quân thù nữa như lúc mới ra miền Bắc, mà rất thông cảm và còn đôi phần kính trọng.



Tất cả đều do chúng tôi đã nhận oán mà trả lại ơn bằng cách cứu giúp thuốc men khi con cái họ đau ốm, cho họ ít tiền hay quà cáp trên đường về quê nghỉ phép. Những lúc họ rảnh rỗi thường hay thích vào trong trại chơi hút điếu thuốc lào ba số tám của miền Nam, uống ly cà phê hay chung trà móc câu là loại trà nụ và tâm sự đủ chuyện gia đình, cơ quan cho chúng tôi nghe; và thường cười nói rằng ra khỏi cổng trại này là họ phải kín đáo không dám truyện trò như trong này đâu.



Có những lần lao động gần khu vực nhà bếp của cơ quan, tôi rất ngạc nhiên khi có nhiều chị nuôi trong bếp kể cả vài cán bộ nữ thường hay ra hỏi thăm xem chúng tôi lao động có mệt không và tỏ vẻ thương cảm.



Có những cán binh nói rằng buổi sáng họ không có khẩu phần ăn như các cấp trên của họ và bụng đói nhưng vẫn gánh được hàng trăm gánh nước và nhìn cấp trên của họ đang đứng trong mát ăn quả chuối với cặp mắt hận thù.



Từ đó tôi lại càng thấy rõ hơn là dân chúng và các cấp dưới cũng chỉ là nạn nhân của một bộ máy tuyên truyền không lồ của Đảng và Nhà Nước họ mà thôi.



Trại Ba Sao Nam Hà nằm sâu vào bên trong những vùng núi non trùng điệp của dẫy núi đá vôi và chỉ liên lạc với thế giới bên ngoài bằng một con đường đất đá độc đạo chạy ngoằn ngoèo bọc quanh chân núi ra tới thị xã Phủ Lý.



Con đường này đi ngang qua khu thăm nuôi, qua những khu gia binh và một ít nhà dân còn toàn là cảnh đường mòn và núi rừng.



Có những chỗ nó xuống dốc rất nguy hiểm và những nơi leo dốc tới bốn mươi lăm độ là những thử thách gay go cho những chuyến vận chuyển hàng từ Bưu Điện thị xã về trại.



Chuyến đi ra từ trại thì rất là nhàn nhã vì đi xuống dốc từ vùng đồi núi ra đồng bằng nhưng chuyến tải hàng về mới là cả một vấn đề vì phải đẩy lên dốc những xe đầy những bưu kiện quà tiếp tế của gia đình. Có một con dốc dựng đứng lên tới bốn mươi lăm độ nhìn lên cũng đủ thấy ớn lạnh, đi bộ lên cái dốc đó là đủ mệt rồi chứ đừng nói đến phải đẩy một cái xe chất đầy hàng nặng khoảng vài tạ gạo. Bao giờ lên được tới nửa con dốc là anh em chúng tôi phải lấy các cục đá chèn lại hai bánh xe để nghỉ ngơi lấy sức đẩy nữa.



Tôi vốn sức khoẻ kém cho nên chỉ khi nào thiếu ngươì thì anh đội trưởng mới cho đi theo và mỗi chuyến chở hàng về là cả một công trình và mạo hiểm vì phải tìm cách dấu tiền mặt và phải dấu cả một đống thư từ anh em nhờ chuyển ra khu thăm nuôi. Những lần tên trực trại vẫy tay cho đi qua là trong bụng mừng thầm, còn hắn kêu đứng laị khám xét trước khi cho xuất trại thì rất dễ vào nhà kỷ luật.



Mỗi lần đi ngang qua khu thăm nuôi và biết có gia đình một người bạn đang ở đó thì chúng tôi lấy cớ xin vào xin thuốc lá để ném vội đống thư cho thân nhân bạn mình nhờ về Sàigòn gửi hộ và đem ra mấy điếu ba số năm để ém miệng hai tên cán binh đi áp tải vì chúng đều rất mê thuốc lá ngoại.



Phương tiện để vận chuyển chỉ là những chiếc xe "cải tiến", họ gọi là cải tiến và có vẻ hãnh diện về chiếc xe hai bánh và hai càng này lắm, nhưng cải tiến nghiã là trước kia thì bò kéo còn bây giờ là ... người kéo. Nó chỉ có khác một điểm là hai bánh xe gỗ có ổ bi ở giữa và một lốp xe bằng cao su cho chạy êm hơn chút thôi.



Khi ra đến thị xã và đi ngang một trụ sở, nhìn lên khẩu hiệu đắp trên tường bên ngoài văn phòng chúng tôi nhìn nhau bấm bụng nhịn cười vì hàng chữ "Không có gì qúy hơn Độc Lập Tự Do" không rõ vì năm tháng hay kẻ nào chơi xỏ đã rơi mất ba chữ ở giữa thành ra "Không có...Độc Lập Tự Do".



Mang tiếng là thị xã thật sự ra chỉ là một tỉnh lỵ nhỏ và nghèo nàn, toàn những đường đất ngoại trừ con đường chính là trải nhựa, lèo tèo độ chục hàng quán, và các hiệu bán phở hay cơm. Một cái chợ chồm hổm được tụ họp trên bãi đất trống của một nhóm bốn năm chục các bà bên cạnh là các thúng và mẹt với đủ thứ rau cải trái cây địa phương và vài sạp bán thịt cá.



Tuy vậy với chúng tôi cái chợ này là điều cực kỳ cần thiết mỗi lần ra lấy hàng để mua những thứ mà trong trại không có.



Riết rồi các bà bán hàng cũng quen mặt tụi tôi và mỗi lần thấy lại kêu lên: "các anh ấy trong trại đến rồi kìa", và bao giờ cũng dành cho bọn tôi những bó rau thật tươi những miếng thịt ngon và giá hạ hơn. Biết dân chúng còn nhiều thiếu thốn nên anh em chúng tôi bảo nhau đem cho họ ít thuốc men như thuốc ho, aspirin, lọ dầu, cái quần, cái áo, v.v., và không ngờ những món quà nho nhỏ đó đã làm cho cả khu chợ chồm hổm đó đón tiếp chúng tôi như thượng khách.



Một anh trong nhóm đã được giao nhiệm vụ chiêu đãi hai tên cán binh để bọn tôi được ít thời gian đi mua vội vã những món hàng mà anh em trong trại nhờ mua dùm hay ngồi nhâm nhi chung trà nóng.



Tôi thường chọn một cái quán hơi khuất sau tàng cây đa vì bà chủ quán là người Hà Nội trước kia và bà thường dành cho anh em chúng tôi một cảm tình đặc biệt. Bà cũng có một cô cháu gái rất xinh xắn và đảm đang tên là cô Thái mà vài anh em trẻ tuổi trong đội của tôi cũng tỏ vẻ săn đón như đỡ lấy giỏ hàng hay dựng lại dùm chiếc xe đạp mỗi khi cô lấy hàng về tới quán.



Những lúc ấy tôi thấy bà cười rất tươi và nói là chúng tôi có phong thái lịch lãm của người Châu Âu chứ đàn ông con trai ở đây họ chỉ đứng trơ mắt ra mà nhìn thôi. Bấy giờ tôi mới thấy được cái nhọc nhằn vất vả và chịu đựng của người phụ nữ trong cái gọi là xã hội chủ nghĩa tại miền Bắc, và tại sao họ cứ hô hào bình đẳng nam nữ ngõ hầu xô đẩy người phụ nữ vào những công việc nặng nhọc phải gánh vác thay cho phái nam.



Quán hàng với mái tranh hai gian, gian trong làm phòng ngủ và gian ngoài làm hàng quán với lỏng chỏng dăm ba lọ thủy tinh đựng vài cái bánh, kẹo lạc, phong thuốc lào, vài gói thuốc lá Sapa, vài nải chuối hay ít lạc rang và ấm trà, vậy mà nuôi sống được cả một gia đình hai bác cháu.



Tôi thường ít khi được đi theo toán ra Bưu điện cho nên lần nào gập tôi bà chủ quán cũng hỏi là sao kỳ rồi lấy hàng không thấy anh, và em Thái nó hỏi thăm anh đó trưóc cặp mắt vừa thán phục vừa ngạc nhiên của thằng bạn thân tôi nhưng thật tình mà nói thì tôi cũng như nó đâu có thì giờ nào mà nói chuyện riêng với cô hàng quán này bao giờ. Có thể qua những lần nói chuyện bên chung trà nóng tại quán hàng, bà đã cô cháu có nụ cười rất xinh kia đã dành cho tôi cảm tình nhiều hơn chăng tôi cũng không biết nữa.



Có một lần vì tôi không có nhiều nhu cầu mua các thứ ở chợ nên ngồi chơi tại quán lâu hơn trong lúc các bạn tôi đã vù biến mất thì bà chủ quán hỏi tôi đủ thứ chuyện và mời tôi Chủ Nhật lại chơi và ăn cơm gia đình. Tôi vừa mừng lại vừa buồn cười trong bụng.



Mừng vì thái độ của người dân tại thị xã này với những người tù chính trị chúng tôi đã hoàn toàn thay đổi từ xa lánh dè bỉu lúc ban đầu đến có thiện cảm và trân trọng vì nhìn thấy chúng tôi không phải là thứ ăn gan người và bán nước như bộ máy tuyên truyền nhà nước họ vẫn rêu rao. Buồn cười là vì những năm sau này chúng tôi được gia đình tiếp tế nên ăn mặc có phần tươm tất hơn trong các bộ "xi-vin" chứ không còn phải mặc quần áo tù nữa, bởi vậy bà chủ quán quên mất thân phận tù tội mất tự do của chúng tôi đang trong bốn bức tường mà mời ra dùng cơm ngày Chủ Nhật.



Lúc đó, cô cháu đứng ngay sau lưng bà và lấy tay giật giật lưng áo của bà ra hiệu đừng nói nữa nhưng bà thì cứ hỏi tôi hết câu này đến câu khác. Trên chiếc quầy tôi thấy có một bình bông hoa Hải Đường thật đẹp và tươi chắc mới hái ngoài sau vườn, và bất ngờ bà rút một cành hoa ra đưa cho tôi: -Anh vào nói chuyện với em nó một chút rồi hãy về.



Sự việc xẩy ra quá nhanh ngoài dự tính của tôi nhưng đến nước này thì không lùi được nữa, tôi bèn cầm nhánh Hải Đường bước vào phía sau quầy đưa cho Thái cành hoa: -Anh về nhe Thái. Rồi chào bà chủ quán và chạy nhanh ra phía chợ để nhập vào toán ra Bưu Điện lãnh hàng về cho kịp.



Bẵng đi một thời gian tôi không có dịp được ra thị xã lấy quà tại Bưu Điện nữa và cũng quên dần đi bà chủ quán tốt bụng thì một buổi chiều tên bạn thân chạy vào buồng nói với tôi rằng tay cán binh gác cổng muốn gập.



Tôi cứ đinh ninh rằng hắn hoặc là xin thuốc lá, cà phê hay là học thêm một hai câu Anh Văn vì lúc đó có nhiều cán binh vào trại xin học Anh Văn với mấy anh bạn tôi nhưng ra đến cái cổng sắt và nhìn ra vọng gác bên ngoài thì tim tôi chợt đập mạnh khi thấy Thái đứng đó tự bao giờ. Nàng nhìn tôi sững sờ và tôi chưa biết phải làm sao thì nàng chạy lại bên ngoài cánh cửa song sắt và thì thầm: -Em có xin phép vào thăm anh nhưng họ không cho. Sao không thấy anh ra lấy hàng Bưu Điện nữa? và nàng dúi vào tay tôi gói trà, thứ mà tôi vẫn thích uống tại quán của nàng. -Anh cứ lấy đi, tay gác cổng nó quen bác em không sao đâu. Tôi đứng lặng người mấy giây đồng hồ nhìn gói trà nằm ép trong tay tôi và tay nàng và cặp mắt nhìn như cầu khẩn của nàng rồi trả lại gói trà: -Anh rất cám ơn Thái, tấm lòng của em không bao giờ anh quên được nhất là trong hoàn cảnh này. Nhờ gia đình tụi anh dạo này cũng không còn thiếu thốn nhiều nữa. Em hãy về đi và cám ơn bác dùm anh vì thân phận của anh không biết ngày nào ra được.



Tôi vội quay mặt đi không dám nhìn vào cặp mắt hoe đỏ của nàng cho tới khi bóng dáng nhỏ bé của nàng khuất dần sau hàng cây dẫn ra con đường độc đạo.



Trời đang vào cuối Thu se se lạnh và những chiếc lá vàng đang rơi nhè nhẹ trong gió đàng sau cái bóng mờ dần đi của Thái.



Tôi thấy hai vai nàng hơi rung lên không biết vì sương chiều đang xuống dần hay nàng đang khóc thương cho những chàng trai miền Nam đang sa cơ trong trại giam miền Bắc?



Một cơn gió heo may tự đâu thổi đến từ phiá hàng cây ngoài lộ lùa vào cổng trại thổi qua tóc tôi mát lạnh y như là Thái còn muốn nói với tôi điều gì nữa đây mà giây phút ngắn ngủi gập nhau vừa qua như giấc chiêm bao đã không thổ lộ hết được?



Hai tay nắm lấy song sắt của cánh cổng trại giam đến tê dại đi thì tôi mới trở về hiện thực và bước vào buồng với đầu óc còn đang quay cuồng. Thằng bạn thân chạy lại hỏi tôi đủ thứ, tôi nhìn bạn mình thật lâu rồi chỉ nói được một câu cám ơn ngắn ngủi, nhưng tự trong đáy lòng thì tôi muốn nói với nó rằng giá mà nó đừng gọi tôi ra gập Thái thì tốt hơn để cho lòng tôi không bị xúc động mãnh liệt như bây giờ.



Tối hôm đó tôi lại thêm một đêm mất ngủ và ngồi uống trà với mấy thằng bạn thân mà tâm hồn tựa như ở nơi đâu.



Từ đó về sau tôi không còn có dịp ra Phủ Lý nữa để có dịp cám ơn bà chủ quán tốt bụng với cô cháu gái dễ thương và nụ cười thật xinh. Năm sau, khi lên chuyến xe lửa xuôi về miền Nam, tôi gập lại tên cán binh trực vọng gác chiều hôm đó áp tải đi theo tầu và biết rằng Thái đã lập gia đình với một anh tài xế xe vận tải nhưng không có hạnh phúc. Anh ta nói rằng anh cũng thương cô ta rất nhiều nhưng bà bác nhất định không bao giờ gả cô cháu cho gia đình công an hay bộ đội và nói rằng hình như Thái thương một người nào đó nhưng không có duyên phận với nhau.



Tôi có biết nhiều trường hợp của một số bạn tù cùng trại cũng có những mối tình rất là thơ mộng với những cô thôn nữ quanh vùng khi gập gỡ nhau trong những lúc đốn củi trên rừng - nhưng dễ có mấy ai thấy được cơn gió heo may nào đã làm lòng ta tan nát? 

Viết xong tháng Tư 2010 Và riêng tặng cho một người con gái tên Thái ngày xưa ấy

Phạm Gia Đại

1      2      3      4      5      6      7

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét