Thấy Hoàng đau khổ lo âu thực
sự, tôi không đùa nữa. Tôi cảm thấy buồn.
Thằng Lưu chết, vợ con không
hay, gia đình không biết, mà chết ngay giữa thành phố Hà Nội. Riêng nhạc sĩ họ
Phan thì tôi biết nhiều. Tôi và hắn rất tương đắc trong nhiều nhạc phẩm. Hắn
làm nhạc bài nào cũng ném cho tôi làm lời, hoặc nhạc và lời của hắn thì hắn đưa
cho tôi chữa tiếp.
Hắn có cô vợ Nhật Bổn lai đẹp
lắm. Hồi ở trong Nam hai đứa được một cái giải thưởng hạng nhất về Âm Nhạc, hắn
lãnh tiền chia cho tôi rồi về cất nhà ở Bạc Liêu chữa bệnh. Một lần gặp hắn ở
Thái Bình, từ trong tiệm nước Chú Xồi đi ra. Hắn nói:
- Tao vừa làm xong một bài hay
lắm!
Tôi nói ngay:
- Đưa tao làm lời kiếm một giải
thưởng nữa ăn bánh bao với hủ tiếu Chú Xồi chơi.
Hắn xua tay:
- Mày không làm được .
- Bài gì mà dữ vậy??
- Rimifông tiến hành khúc!! Mày đâu có làm được!
Tôi hỏi:
- Ai bảo mày thế?
- Bác sĩ bảo phổi tao lủng hai
ba lỗ rồi!
Khi ra Hà Nội hắn làm ở Đài
Phát Thanh với tôi một lúc. Độ khoảng 1958, một buổi sáng, hắn lên gặp Ban Giám
đốc Đài đòi giải thích cho hắn nghe: Tại
sao Tổng tuyển cử hiệp thưong qua đã lâu mà không thấy nói gì? Ban Giám đốc – không rõ là ông nào, có
lẽ Huỳnh Văn Tiểng – không biết cách nào làm cho hắn bớt nổi khùng, bèn bảo hắn
chờ Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến nói chuyện cho toàn cơ quan nghe rồi đả thông
tất cả. Nhưng hắn nổi khùng ngay nói tạt vào mặt Ban Giám đốc: “L..n vợ mấy ông
là l…n người còn l…n vợ tôi là l…n bò. Các ông muốn tôi bỏ đi bao lâu cũng
được!”. Rồi bất ngờ, hắn chụp lấy con dao rọc giấy trên bàn, vạch áo ra rạch sả
ngực và cánh tay mặt của hắn. Rồi cứ để máu chảy ròng ròng ướt áo, hắn đi xuống
phòng làm việc. Ai thấy cũng phải kinh tâm. Chỉ có mấy thằng Nam Kỳ …cục mới
làm chuyện đó thôi.
Nhưng câu nói của hắn đã loan
đi khắp Hà Nội. Nhất là ở Đài Phát Thanh ai cũng “ớn” ông nhạc sĩ “hăng xờ máu”
này.
Ít hôm sau, Thủ tướng Phạm Văn
Đồng đến nói chuyện về tình hình Miền Nam và hiệp thương tổng tuyển cử. Có một
anh cán bộ Nam Kỳ… cục đứng lên chất vấn thẳng thừng không ai bụm miệng kịp:
- Xin thủ tướng cho chúng tôi
biết… vậy chớ tại sao hồi chúng tôi xuống tàu, Trung ương có hứa hai năm về,
nay đã bốn năm rồi! Thủ tướng có thể cho chúng tôi biết là chừng nào chúng tôi
về Nam được không?
Thủ tướng Phạm Văn Đồng giận
dữ, đáp:
- Làm cách mạng chứ phải làm
thầy bói hay sao mà nói rõ ngày tháng cách mạng thành công? – Rồi ông ngoe
nguẩy bước xuống bục không nói nữa.
Tôi có dự cái buổi nói chuyện
đó. Bị hỏi bất ngờ, thủ tướng lúng túng nên đáp lời không được “biện chứng”
lắm. Điều đó làm cho Ban Giám đốc xanh mặt.
Sau khi thủ tướng ra về, Ban
Giám đốc bèn mời ông cán kỳ cục lên văn phòng không rõ để làm gì, nhưng sau đó
anh chàng biến đi đâu mất. Từ đó mỗi lần có ông lớn tới Đài Phát Thanh nói
chuyện, Ban Giám đốc đả thông trước: ” Các đồng chí có thắc mắc vấn đề gì, xin
cho Ban Giám đốc biết trước, chúng tôi sẽ ghi chép từng câu và bẩm lên đồng chí
trả lời chung một lúc, không nên hỏi lẻ tẻ!”
Trước đó cũng có một vụ động
trời làm cho Đài Phát thanh trở thành một cơ quan nổi tiếng bê bối nhất Hà Nội.
Tác giả vụ động trời này chính là tôi.
Tôi đã viết về vụ ấy rải rác ở
nhiều báo hải ngoại, lần này xin ghi lại đầy đủ nhất vì vụ đó có dính liền tới
vụ vượt Trường Sơn của tôi ngót mười năm sau.
Số là hồi chuẩn bị xuống tàu
tập kết, tôi được cho đi làm phóng viên của tờ Quân Đội Miền Tây để viết những
bài tường thuật về sự đón tiếp nồng nhiệt dân Nam Bộ tập kết của nhân dân Miền
Bắc và của Bác Đảng ở bến Sầm Sơn. Mỗi chuyến đi ra vào chừng hai tuần lễ.
Trong thời gian qui định cho cuộc chuyển quân ở bến Chắc Băng là ba tháng, tôi
có thể làm con thoi ra vào ít nhất là năm chuyến, viết năm bài động viên quân
dân Miền Tây mạnh dạn rứt áo ra đi.
Không vương thê nhi
Ra Miền Bắc nước tuyết rét mướt.
Tôi ra tới Sầm Sơn đi tìm tài
liệu xong, chuẩn bị theo tàu trở vô viết bài cho toà báo lúc bấy giờ còn đóng ở
Chắc Băng và hãy còn in báo rào rào. Giữa lúc đó thì tôi bị ở trên giữ lại, với
lý do: Không cần loạt bài ấy nữa.
Tôi chới với ngay vì cái “lệnh
phản lệnh” bất ngờ ấy. Tôi buồn lắm. Vì hai lẽ: lẽ thứ nhất là hứa với bạn bè
còn trong Nam sẽ nhậu một trận đái ra rượu, mửa tới mật xanh trước khi xuống
tàu. Lẽ thứ hai là gặp một số người Nam vừa ra còn nằm ở Sầm Sơn đã tỏ ý chán
nản do đó tôi hoang mang và trong đầu, nói nào ngay chưa có ý định ở hẳn lại không
đi tập kết, nhưng đã manh nha cái ý định đó rồi. Bây giờ bị giữ lại thì hết
phương cục cựa.
Sau này tôi mới đoán ra ý đồ
của ở trên là sợ tôi trở về Chắc Băng nói tùm lum chuyện này chuyện nọ làm nản
lòng ba quân.
Cái ý đinh manh nha ấy lớn dần
khi tôi vào làm ở Nông trường Trình Môn tỉnh Nghệ An và khi tôi ra công tác ở
Đài Phát thanh. Tôi cảm thấy tôi không thể nào sống nổi trên đất Bắc. Cho nên
một buổi sáng kia, tôi lấy chiếc xe đạp nội hóa sơn màu vàng hiệu Alpha của cơ
quan, tôi đạp thẳng một hơi ra trụ sở Ủy Ban Quốc tế ở đường Đinh Lê gần Bắc Bộ
Phủ, cạnh đường Ngô Quyền.
Tôi dựng xe đạp vào cái chòi
gác trong đó đang thòi ra một cái đầu đội mũ sao vàng.
- Đồng chí đi đâu đây? – Người
lính hất hàm hỏi,
- Tôi muốn gặp Ủy Ban Quốc tế.
- Có việc gì ?
- Theo Hiệp đinh Giơ-ne thì
trong vòng… tháng (tôi không nhớ rõ thời gian được ấn định này), người Nam lẫn
người Bắc đều có quyền ra vào với sự giúp đỡ của Ủy Ban Quốc tế để định cư. Tôi
muốn nhờ Ủy ban đưa tôi về Nam.
Người lính ngập ngừng một chốc
rồi chồm qua cửa chòi gác ngó chiếc xe đạp. Xong, anh ta vui vẻ:
- Bữa nay… Ủy Ban đi vắng cả.
Vậy phiền đồng chí trở về cơ quan. À mà quên, đồng chí làm ở cơ quan nào ?
- Đài Phát Thanh.
- Ờ, ờ, ờ, từ đó tới đây cũng
gần. Vậy đồng chí trở lại ngày mai, sẽ có người tiếp mà… đồng chí muốn Gia Nã
Đại, Ba Lan hay Ấn Độ?
- Ai cũng được miễn Ủy Ban Quốc
Tế thì thôi. Chào đồng chí.
Tôi lên xe đạp về cơ quan một
hơi yên chí lớn mình sẽ được gặp Ủy Ban Quốc Tế ngày mai. Thực tình, từ ngày ra
Miền Bắc tôi thấy không thể sống được. Cái Miền Bắc Độc lập Tự do sao nó không
Hạnh phúc một tí nào, Hạnh phúc. Đó là cái gì? – Cơm ăn áo mặc, nhưng không
phải chỉ có thế. Còn Tự do nữa chứ. Tự do là cái gì? Tôi không biết nhưng tôi
cảm thấy cuộc sống ở đây không thoải mái. Nó như thế nào ấy, không phải cái mà
mình mơ ước khi khởi đầu kháng chiến chống Pháp. Ngoài ra tôi còn nhớ nhà quá
sức, không chịu nổi. Ở trong Nam tôi vẫn đi xa nhà – liên tục chín năm – nhưng
tôi còn được thư từ, còn được nhắn nhe còn được biết cha mẹ tôi mạnh khỏe hay
đau yếu thế nào. Còn ra đây bịt bùng bốn phía. Mà ngày về thì không có. Tương
lai chỉ là một dấu hỏi không ai trả lời. Thế nên con đường lên Ủy Ban Quốc tế
là con đường vừa nhanh vừa rẻ lại vừa hợp pháp.
Tôi vừa đạp xe về tới cổng Đài
Phát Thanh ở số 52 Quán Sứ thi đụng một lô nào là trưởng phòng trưởng ban đứng
giàn chào tôi.
- Đồng chí đi đâu đấy ?
- Tôi đi tìm đề tài.
- Đồng chí ra Ủy Ban Quốc Tế
phải không?
Tôi thấy không thể chối được
nên chịu thật.
Tôi phải lên Ban Giám đốc. Tôi
vẫn nói thật không chối quanh một chút nào. Mọi người đều ngẩn ngơ. Tôi hơi sợ
nhưng vẫn không nguy biện gì về việc làm của tôi cả. Và đến giờ phút này tôi
mới hiểu ra là đồng chí gác cổng người anh em Ủy Ban Quốc Tế đã “giúp đỡ” tôi,
báo cáo bằng điện thoại về Đài Phát Thanh.
Ngay chiều hôm đó, một cuộc họp
mặt toàn cơ quan. Người đông đến nỗi không có đủ chỗ, phải đứng cả bên ngoài
hành lang. Một cuộc kiểm thảo vĩ đại. Có sự chứng kiến của toàn ban Giám đốc
Đài: Trần Lâm, Nguyễn Kim Cương, Huỳnh Văn Tiểng (hai ông Phó là dân từ Nam tập
kết ra Bắc). Chủ tọa phiên họp là Nguyễn Thanh Đạm, Thư ký Công Đoàn của Đài.
Tôi giơ mặt ra chịu đấm. Nhưng
thật bất ngờ. Chẳng có “cú đấm” nào cả. Chỉ toàn “cú vuốt.” Nghĩa là không ai
nói mạnh hoặc sỉ vả chỉ trích lập trường quốc tế của tôi. Đúng ra đó là chủ
trương của Ban Giám đốc. Các ông ấy không muốn làm mạnh, sợ tôi liều mạng. Dân
Nam Cờ mà. Bất mãn rồi thì gì mà không dám làm. Ngoài ra cũng có thể là vì
trước đây ít tuần có một anh bạn của tôi cũng làm ở Đài này đã chui bằng đường
nào không biết mà qua Lào, xổng tuốt về Sài Gòn. Đài Phát thanh Sài Gòn la om
lên… Anh ta nói với tôi: “Tao nhớ vợ quá, chịu hết nỗi rồi”. Ít hôm sau thấy
anh ta mất tiêu. Sau nghe ra anh ta đi đường Nghệ An lên Đô Lương.
Do “năm bảy xôi nhồi thành một chõ”
như thế nên tội của tôi đáng lẽ phải đi cải tạo mút mùa nhưng lại chẳng hề chi.
Chỉ có một tiếng nói nặng của anh Phạm Tường Hạnh(bây giờ là nhà văn kêu
rêu xã nghĩa to tiếng nhất nhì Sài Gòn), Hạnh nói rằng tôi “khờ khạo!” Thế
thôi còn ngoài ra không ai nói gì kể cả các vị cò mồi được mớm trước cũng thun
cổ… cò.
Nhưng như thế đâu đã yên thân
cho cái thằng lên UBQT! Đâu vài hôm sau tôi lại được Ban Giám đốc mời. Ông
Huỳnh Văn Tiểng, Phó Giám đốc Đài (bây
giờ là tay tổ trong Câu lạc bộ Kháng chiến chống đảng kịch liệt ở Nam Kỳ Ha…
ha… Té ra nhờ thời gian (ba mươi hai năm! Cũng hơi nhiều ! mà tôi được minh oan. Vì rằng tôi
trốn chạy xã nghĩa hồi đó là phải lý lắm – trước ông Phó Giám đốc những ba mươi
hai năm!). Ông Tiểng đưa cho
tôi xem một tờ báo của Sài Gòn tường thuật về vụ lên UBQT của tôi với dòng chữ
tít rất to – (Rất tiếc tôi không được ông Tiểng cho xem tên tờ báo mà chỉ cho
tôi xem bài báo: “Xuân Vũ lên UBQT đòi về Sài Gòn – VC đã được và đày đi nông
trường!” Tôi nhớ nhất là chữ ĐÀY!!
Bằng một giọng rất nhỏ nhẹ gần
như vỗ về. (Đó cũng là cá tính của ông. Ông rất to con nhưng nói rất nhỏ và câu
rất ngắn. Khi cười chỉ nhếch môi). Ông Tiểng nói với tôi:
- Trong Sài Gòn địch đã biết
hết, vậy anh phải lên đài nói vào trong đó để đính chánh cho Miền Bắc.
Một bài đã được ai đâu viết sẵn
đưa đến cho tôi. Đại ý “Tôi,
Xuân Vũ không có lên UBQT cũng không có bị đày.” Bài này phát đi phát lại suốt tuần
trên làn sóng phát vào Nam từ 10 đến 10:30 đêm.
Cái sự đời như vậy đó. Khổ một
nỗi là Phan Văn, kẻ rạch ngực đâm tay bằng dao rọc giấy và tôi, kẻ lên UBQT là
đồng tác giả của một bản nhạc (Niềm Thương Mến) được giải thưởng Cửu Long năm
1950-51 chi đó, cho nên vô tình chúng tôi lại đồng tác giả của một bản “Niềm Ai
Oán” sáng tác giữa lòng Hà Nội xã nghĩa không được giải thưởng nào, nếu có chắc
chắn là giải thưởng Hỏa Lò.
Gần mười năm sau khi tôi được
gọi vào trường đi B, sau khi bị các thứ tổ chức duyệt lý lịch từ đời ông cố tới
đời con tôi (lúc đó tôi chưa
có vợ, nếu không con tôi sẽ liên lụy), tôi vẫn còn nơm nóp lo sợ cho cái
“gáp” UBQT của tôi đã tưởng bị xóa nhòa bằng một trăm thứ công tác phóng viên
do tôi đảm nhận để chuộc tội tổ tông – nào dè đến cửa ải chót để lọt qua cổng
trường đi B, anh thẩm vấn viên “mác” Năm Eo còn cười mũi với tôi:
- Hồi năm 56… đồng chí có lên
UBQT xin về Nam phải không?
Tôi giật nẩy người, ú ớ. Hắn
tiếp:
- Nhưng mà đồng chí đã công tác
tốt liên tục một thời gian dài, (Tôi
hú vía) cho nên tổ chức mới
gọi. Về trong đó đừng tái phạm nữa.
- Vâng ạ !
Thế là lọt. Nhưng sự huấn luyện
còn kéo dài ba tháng. Trong vòng ba tháng đó biết đâu tôi sẽ chẳng bị thẩm vấn
tiếp nữa? Tôi cũng khôn. Tôi bèn tìm cách gặp hắn. Chiều thứ bảy không ai được
ra khỏi trường mặc dù là người Hà Nội đi nữa. Nhưng tôi được ra. Mà tôi lại
được xe hơi của Ủy Ban Thống Nhất của Trung tướng Nguyễn Văn Vinh tới chở đi
công tác đặc biệt do đồng chí Năm Eo kể trên (có
lẽ là bà con của Võ Văn Mờ, em của Võ Văn Mịt bán đất quê nhà mà lấy tiền tại
Hà Nội – xin xem Xương Trắng Trường Sơn). Đồng chí Năm Eo ngồi xe ra khỏi
cổng để đưa tôi về tận nhà… công tác đặc biệt. Chả có cái đếch gì đặc biệt cả.
Tôi “hiến” cho đồng chí tất cả đồ đạc của tôi mua sắm trong vòng mười năm ở đất
Bắc (Trước đây tôi cho anh
Kim Lân nhưng ảnh không nhận món nào hết cả trừ hai cái chậu sành xưa để trồng
kiểng chơi) gồm giường, tủ
áo, võng và vô số bút giấy đặc biệt có đôi giày da nâu tôi mới đóng. Hắn xỏ vào
và đi luôn. Rất vừa! Rồi gói đôi dép cao su cặp nách.
Thế là xong. Xong tất. Tưởng
vậy ai dè chưa. Một hôm hắn lại gọi tôi lên văn phòng để phụ nhĩ một vấn đề cơ
mật. Tôi sợ quá. Tôi nghi là cho gà ăn xong, gà quẹt mở…nhưng không, đồng chí
ta chưa đến đỗi tệ như gà. Hắn cho tôi xem hồ sơ khám sức khỏe và nói:
- Bác sĩ Việt Xô bảo đồng chí
có áp huyết cao, không leo núi được.
- Vậy hả đồng chí !
- Thì đây nè, đồng chí đọc thử.
- Đồng chí “lo” dùm tôi được
không?
- Được mà. Để tôi bảo nó. Cái
thằng bác sĩ Tào cà thọt chân, nó là em út của tôi. Nó đến Ban Thống Nhất khám
cho cán bộ đi B. Nó dưới quyền tôi mà.
Đồng chí nói vậy có lẽ là để
cho tôi biết là mọi việc ra vào trường đi B này là phải qua tay đồng chí cả và
để cho tôi hiểu rằng số đồ tôi “hiến” cho đồng chí để lọt vô đây không nhiều
lắm đâu – Nhất là đối với một người chạy trốn Miền Bắc xã nghĩa mười năm trước
như tôi thì bao nhiêu lại không dám hiến để đi cho lọt.
Quả thật tôi đã lọt và đã về
tận đây rồi, nơi chỗ tôi gặp ông Mặt Sắt và vừa uống trà nói chuyện bất mãn Hà
Nội mà không sợ ai báo cáo lên trên vì những người ngồi quanh bình trà đều bất
mãn như tôi hoặc hơn tôi.
Câu chuyện lúc nãy tới đâu rồi
nhỉ ?
À, tới chỗ nhạc sĩ Hoàng Lưu
chết cứng trong hang không ai biết.
Lúc đó ai cũng bất mãn, ai cũng
muốn về Nam. Không ai thiết tha với cái gọi là chủ nghĩa xã hội kỳ cục. Những
anh chàng có vợ ở trong Nam thì ân hận nhưng không làm gì được, như ông bạn
nhạc sĩ Phan Văn của tôi.
Sau vụ ăn vạ không ăn thua chi
với Ban Giám đốc Đài Phát Thanh, tôi không thấy anh ta tới đây nữa. Một hôm gặp
gặp anh ta đi xích lô chạy loong toong trên đường Tràng Thi, tôi ngoắc lại. Anh
ta ngồi ôm một chiếc “contre basse” tổ bố. Đầu chải Tango ba tàu, quần áo trắng
như tuyết. Giày cũng trắng. Kính trắng như thường lệ. Anh ta nheo mắt hỏi:
- Đi với tao không ?
- Đi đâu ?
- Hoà nhạc.
- Nhạc gì ?
- Nhảy! Rồi tiếp – Tao ra khỏi
đài lâu rồi. Này mày xem tao mang giày gì đây?
- Giày Bata chợ trời chớ giày
gì mậy!
Anh ta giơ chân lên, cười:
- Peau de daim nghe (da con
mang).
- Giày gì dã man vậy ?
Anh ta cười khì khì:
- Nghèo quá. Kiếm ăn bữa đực
bữa cái. Cho tao xin vài hào mua thuốc lá ! .
Nghèo lắm nhưng nể tình bạn cũ,
tôi móc hào bạc cho người “đồng tác giả” năm xưa. Từ đó tới sau không gặp nữa. (Mãi đến khi tới về Sài Gòn nghe
anh em hồi chánh sau tôi cho biết Phan Văn cũng đã vô tới R. Tôi nghĩ: Đó là
người Nam Kỳ cuối cùng trên đất Bắc được về quê bằng đường rừng. Nhưng tiếc
thay chúng tôi không làm sao đứng chung tên cho một bản hát nào nữa. Nó mà
“được” đi Nam, thì đúng là chuyến tàu vét.)
Đúng như ông Mặt Sắt nói hôm
nào: “Đường Trường Sơn là nơi bộc lộ tất cả những khuyết điểm của đảng ta!”
Chẳng những khuyết điểm mà còn những nỗi niềm tâm sự không dám nói ra trên đất
Bắc.
Nằm ở đây, ghê rợn vô cùng.
Ngoái ngược lại mười năm trên đất Bắc lại càng ghê rợn. Quá thật! Ghê rợn vô
cùng. Kẻ nào đã nói rằng: “Chế độ ta vĩ đại, sống một ngày trong chế độ ta bằng
sống hai mươi năm trong chế độ tư bản!” Có đúng như vậy không? Đúng rất đúng!
Sống một ngày ở chế độ xã nghĩa đau khổ bằng sống hai mươi năm trong chế độ tư
bản. Đói rét, ốm đau, bệnh tật, ly tán,… đủ thứ. Một ngày gộp lại bằng hai mươi
năm. Sống một ngày già đi hai mươi năm. Đúng với cái nghĩa đó đó!
Tôi nghĩ bậy chơi vậy, khi nằm
phơi nắng tuổi thanh xuân trên lưng đèo 1001, khi phơi sương tóc xanh trên đỉnh
Cardamomes, khi vùi sâu nhiệt tình trong lòng suối độc. Vậy mà bây giờ – sau
bốn mươi lăm năm xây xã nghĩa, mười lăm năm giải phóng, dân Việt Nam ở Miền Bắc
còn thèm miếng cơm trắng còn dân Miền Nam thì vượt biên ào ào . Đúng là một
ngày xã nghĩa bằng hai mươi năm tư bản.
Bạn đọc thân mến,
Có nhiều độc giả của Đường Đi Không Đến và Xương
Trắng Trường Sơn “than phiền”
rằng tại sao tác giả không ngăn chương mà cứ viết luôn một mạch 450 trang đọc
mệt quá mà không buông sách được vì “không có chỗ nghỉ xả hơi.”
Xin cảm ơn độc giả đã “than
phiền” nhưng kẻ cầm bút này cũng vẫn không ngăn chương gì hết ráo, vì cuộc sống
ở Trường Sơn chỉ có trạm, có đồi, có dốc, có suối , có đói, có chết, có bom
đạn, có kiết lỵ và thương hàn, có quáng manh và phù thủng,… mà những thứ này
thì nó giống nhau hết cả. Ngày nào cũng thấy cũng chịu bấy nhiêu đó thôi, cho
nên chương nào cũng giống chương nào, ngày sau giống ngày trước, ngày trước nữa
lại giống ngày chưa tới. Bạn đọc, đọc những quyển hồi ký Vượt Trường Sơn không
cần phải đọc từ trang đầu trang cuối, mà đọc từ trang cuối lộn ngược ra đầu
cũng được, hoặc giở đâu đọc đấy, nó cũng y chang như nhau và nó cũng cho bạn
một cảm giác kinh hoàng như nhau.
Một thằng bạn nối khố cửa tôi –
cũng thuộc loại chồng Bắc vợ Nam – trong một “bữa chiêu đãi sữa trâu” của Viện
Nông Lâm Súc ở Gia Lâm – hắn là Kỹ sư Nông Lâm Súc – (Chúng tôi gọi hắn là “Kỹ
sư súc vật”) trong buổi “tiệc” sữa trâu (bổ hơn sữa bò! Báo Nhân Dân bảo thế!),
nó đã nói với tôi một câu: “Muốn đất nước thống nhất thì chỉ có một cách. Đó
là: Bắt vợ con của Ban Chấp hành Trung ương đảng quăng vô Nam hết thảy…” Là một
tên độc thân nên tôi chưa lĩnh hội được ý tưởng cao siêu của hắn. Tôi hỏi:
- Nghĩa là sao ?
- Mấy chả không có đồ chơi, mấy
chả quýnh lên mấy chả tìm đủ mọi cách tiến hành. Còn như thế này mấy chả hưởng
lạc tì tì, cao hổ cốt tẩm gân, sâm Triều Tiên bổ thận, thống nhất hay không thì
cũng thế thôi ! “
Đúng là một câu đùa… y như
thật. Đảng, người nói: Lo
trước dân, hưởng sau dân. Mô Phật ! Tôi chưa bao giờ thấy câu này được
đảng – tức là từ bác Hồ trở xuống đảng viên quèn – thi hành. Ngược lại: Hưởng trên đầu cha dân, dân kêu
thây kệ mẹ ! Hai mươi, ba
mươi năm trước ở Hà Nội vẫn thế, bây giờ cũng cứ như thế và muôn đời sau, đảng
còn, còn thế mãi.
Hai mươi năm sống trong chế độ
“tư bổn bổn xứ Sài gòn đến chạy sang tư bổn kếch xù: Hoa Kỳ” tôi cũng có đau
khổ chứ không phải chỉ có hạnh phúc, nhưng đau khổ của hai mươi năm ấy chưa
bằng một góc tí tẹo của nàng Kiều Việt Nam. “Thanh lâu ba lượt, thanh y hai
lần”. Vậy, tự do độc lập hạnh phúc có nghĩa gì ? Ai cho ta các thứ ấy? Không
cần phải trả lời. Hãy nhìn bốn mươi ngàn dân “boat people” của Việt Nam xà
nghĩa đang ở Hồng Kông.
Đảng, tay phá hoại dân tộc lớn
nhất lịch sử . Với cái búa Cải Cách Ruộng Đất hằng triệu sinh mạng hi sinh vô
tội vạ, với cái liềm tập kết hằng mấy triệu gia đình ly tán, với cái đường mòn
Hồ Chí Minh lại hằng triệu bộ xương phơi. Rồi tới “Giải phóng Miền Nam” đảng đã
phá nát tan sự phồn thinh của một nửa đất nước và làm tan nát hằng chục triệu
gia đình. Sáu mươi năm có đảng, có bác trên cõi đời này, dân tộc Việt Nam điêu
linh cùng cực. Hãy nhìn, hãy nhìn thôi, hãy nhìn cũng đủ rồi, không cần phải
suy nghĩ.
Hai mươi lăm năm trước tôi nằm
trên dãy Trường Sơn mà đau hận cho dân tộc Việt Nam khôn cùng, bây giờ càng
hận. Viết lại những dòng này, tôi mệt lắm, không khỏe khoắn nhanh nhẹn như viết
bất cứ truyện nào khác. Vì sao? Vì tôi thấy lại tôi trên dốc, trên đồi, dưới
suối, trong bệnh tật, trong lê lết, trong bi thương. Tôi như võ sĩ tả xung hữu
đục giữa cái trùng vây đó. Tôi thấy tôi đang khát, đang sốt, đang run khi viết
lại tập hồi ký đã mất này. .
Tôi và Hoàng Việt cùng cô vũ nữ
ba-lê được phái đoàn ông Sáu Mặt Sắt giúp chừng ba bốn chặng đường. Rồi họ rẽ
sang lối khác. Có lẽ họ được xe hơi chở hay đi con đường nào đặc biệt khác
không biết được. Nhưng có một điều – không biết may mắn hay rủi ro cho tôi, cho
Thu! Đoàn ông Mặt Sắt cho Thu đi theo cùng với “anh Sáu.”
Trước đây có nhiều lúc tôi muốn
Thu quay ra Hà Nội với Hồng, em trai của Thu gặp ở mấy trạm trước cùng với
Thiếu tá Kim – Như vậy tôi sẽ nhẹ gánh dễ đi hơn. Nhưng bây giờ có người muốn
nhấc cái gánh đó khỏi vai tôi thì tôi lại thấy nao nao tấc lòng.
Sáng mai Thu sẽ xa tôi .
Đêm nay là đêm không ngủ của
hai đứa. Cơm chiều xong, Thu lên võng nằm, tóc nàng buông xõa xuống chiếc võng
lắc lư như nhịp theo bài hát buồn não nùng.
Trời thương đôi ta đây, còn cho
ta suốt đêm nay
Những ngày đôi lứa chia tay. nước mắt rưng rưng vì chua cay
Rồi mai đây xa nhau, ồ, em yêu dấu !
Anh khóc cho đêm này qua
Đêm nay là đêm cuối cùng của… đôi ta. …
Sao nàng chọn đúng bài hát và
đúng lúc để hát vậy? Đó là tâm tư của nàng và của tôi. Chúng tôi sắp xa nhau và
chỉ còn có đêm nay.
Tôi không thể ngồi yên nghe
tiếng hát cứa đứt từng mạch tim tôi nữa.
Tôi sang ngồi ở đầu võng nàng.
Mớ tóc đen huyền vẫn lắc tư phảng phất hương. Nàng vừa gội đầu dưới suối. Nàng
muốn nhờ gió hong tóc cho mau khô.
Tôi khẽ nói:
- Thu ! Mai em đi. Chúng ta xa
nhau rồi.
- Đành thế thôi !
- Em có giận anh chuyện gì
không?
- Có anh giận em thì có. –
Tiếng nàng rơm rớm nước mắt – Em đã nghĩ kỹ rồi. Em đi với anh thì chỉ khổ cho
anh thôi. Để em đi với đoàn ấy. Rồi vào trong kia cũng gặp nhau. Rồi lại khổ
nữa. Nhưng chừng đó em là kẻ đau khổ nhất giữa hai chúng ta. Em biết anh yêu
em, nhưng chúng ta sẽ chẳng đi đến đâu. Vậy nên buổi chia tay này tuy có gây
buồn cho anh lẫn em, nhưng sẽ vui về sau.
Tôi nâng tóc nàng lên tay tôi
và thổi từng hơi dài.
- Anh làm cho tóc em mau khô
nhé. Anh là gió đây !
- Không ? Anh là “Mưa” mà.
- Ừ thì mưa? Tôi ôm quàng cả
võng và người nàng vào tay tôi. Tôi nghiêng cả chiếc võng để áp mặt nàng vào
mặt tôi. Gương mặt trắng như một mảnh giấy chờ tôi đề lên những câu thơ.
- Thu ! Em đừng giận anh nghen
!
Nàng ôm chặt đầu tôi vào ngực
nàng, thổn thức khóc.
Trời tối hãi hùng. Rừng núi sâu
thăm thẳm. Chúng tôi như hai hạt bụi hoang gặp nhau ghép vào nhau trong một cơn
gió lạ. Tôi lên võng nàng, nhẹ tay buông màn. Không một hơi thở nào thoát ra
khỏi vòm trời riêng của hai đứa tôi. Bỗng nhiên tôi quay đầu lại ôm riết hai
ống chân mềm mại của nàng vào mặt tôi và đặt vào làn da mát rợi đó những chiếc
hôn nồng nàn và thầm thì. Vừa thầm thì vừa hôn như mưa. Cả chiếc lều như chực
đổ theo nhịp võng lắc lư.
- Thu! Thu! Chúc em chân cứng
đá mềm. Anh sẽ gặp em ở cuối đường này.
Nàng ôm lấy tôi và nấc lên:
- Anh yêu em đi. Và đây là lần
cuối !
—>Chương 12
- 12 -
Chúng tôi còn nằm lại trạm này:
Hoàng Việt và tôi, hai thằng “sĩ ” Nam kỳ trên đường về xứ. Đường lại kẹt. (Có lẽ vì kẹt đường cho nên giao
liên đặc biệt đến đưa đoàn ông kẹ đi lối khác).
Hoàng Việt mở bản đồ Quốc Văn
Giáo Khoa Thư ra coi để đoán mò. Nên nhớ rằng Miền Bắc không có xuất bản một
tấm bản đồ chi tiết sông rạch núi non nào mà chỉ dùng bản đồ Indochine
Française để giảng dạy ở các
trường. Những lần tôi đi công tác dưới tàu biển cũng không có hải đồ. Thuyền
trưởng chỉ dùng hải đồ kẽ lòng biển Việt Nam dọc bờ biển Việt Nam của một Thủy
Sư Đô Đốc người Anh vẽ đâu hồi thế kỷ mười chín. Cho nên cái bản đồ của Hoàng
Việt mò mẫm để tìm tọa độ của đoàn chỉ to bằng bàn tay, một chấm bằng đầu chân
nhang có thể là một dãy đất chúng tôi lội ba ngày không giáp và nguyên cả khu
Năm chỉ to bằng nửa cái lá rau thơm. Tuy vậy nhưng ông nhạc sĩ cũng tỏ ra thành
thạo trỏ tay vào bản đồ mà nói:
- Mình đang ở đây này !
- Nghĩa là đầu hay cuối khu Năm
vậy?
- Có lẽ quá nửa rồi. Chắc là
Quảng Nam quê con Phương của mày.
Trạm này khác với các trạm
trước. Ở tận trong sâu dọc theo đường dây chính, khắp một đoạn dài có những lều
trại cửa cán bộ khu Năm dựng ở đây lâu đời nên đã thành một loại buôn của người
thiểu số. Có nhiều láng giống như nhà. Có nhiều nhà đã trồng được rau cải. Có
vài nhà nuôi gà. Có cả một nhà nuôi được lợn. Người ở đây mặc quần áo thường
như ở đồng bằng. Sinh hoạt của họ khác hẳn chúng tôi, chỉ có nước da là giống
nhau thôi: vàng và bủn.
Tuy vậy chúng tôi cũng thở được
cái không khí bình thường. Cho nên Hoàng Việt gợi ý treo giò ở đây một thời
gian để dưỡng lão. Thấy tôi hơi miễn cưỡng, Hoàng đùa: “Đường K… kách mệng còn rài chú em chớ có rội nghe chưa… Cái bao tử rách của mày đâu
đã vá xong mà hăng hái ! “
Thế là chúng tôi tìm chỗ treo
võng giăng lều và ngụy trang thật kỹ để khỏi hạ xuống dựng lên hằng ngày nữa.
Tôi buồn lắm: Vắng Thu! Tôi đâm
ra nghĩ ngợi. Thu đã hết yêu mình. Đang đi chung, gặp ngả rẽ ngon lành là đi
ngay không hỏi ý kiến mình. Con gái đứa nào cũng thế. Cứ hễ thấy chỗ nào sướng,
khỏe là bỏ chỗ cực nhọc.
Nhưng rồi tôi tự vấn tôi: Còn mình
thì sao?? Nếu ông Mặt Sắt cho mình tháp tùng chưa chắc mình đã từ chối huống
chi đối với Thu ! Nhiều lúc mình coi Thu như một cái nợ đời, chẳng những trong
ý nghĩ của mình mà lộ cả ra ngoài Thu cũng nhận ra điều đó. Bằng chứng là khi
thằng Hồng và Thiếu tá Kim định quay về Hà Nội, Thu đòi đi theo mình không có
lấy một câu ngăn cản. Thì bây giờ Thu đi với người khác – (đi vào Nam, tốt hơn
trở ra nhiều) – cũng thế thôi. Mình rảnh nợ. Lòng ích kỷ muôn thuở của con
người là thế. Cho thì muốn cho ít, được thì muốn được nhiều.
Thấy tôi sầu tình lộ ra da,
Hoàng chọc:
- Nó ở lại với tụi mình, mày có
cõng được không?
Tôi hết đường trả lời. Câu hỏi
“duy vật” trăm phần trăm làm tôi tét mắt, sáng ra. Cố nhiên là chân ai nấy
bước. Thương nhau lắm cũng chỉ chờ dăm ba lần, vác ba-lô hộ một quãng, thế thôi
! Nhiều hơn nữa, nổi cáu. .!
Một buổi trưa nằm đong đưa trên
võng, tôi bỗng nghe một giọng quen quen. Tôi bèn ngóc dậy nhìn. Ngơ ngẩn một
lúc rồi kêu lên:
- À. . Thiệp! !
- À kia…
Chúng tôi nhìn nhau.
- Vợ mày đâu ?
- …
- Mấy đứa kia đâu? ..
Hoàng Việt đi đâu về cũng hỏi
tới tấp:
- Sao lại trở lên đây ? Bộ
đường xuống Bác Kế bị kẹt à?
Thiệp tuột ba-lô ném xuống đất
và ngồi phệt lên một cái rễ cây, rút nút bi-đông ngửa cổ uống một hơi dài, quệt
mồm, đậy nút bi-đông rồi lắc đầu, chẫm rãi nói:
- Hi sinh hết rồi !
- Trời đất ! – Tôi và Hoàng kêu
lên – Hả hả ? Mày nói gì Thiệp?
- Lớp chết, lớp bị bắt !
- Thiệt hả?
- Không thiệt thì bịa à? – Con
Phương cũng chết rồi .
Tôi chưa kịp hỏi thì Thiệp đã
nói. Tôi như bị một mũi tên xuyên tim.
- Chết rồi. Chết cả rồi, mày
nghe không?
Tôi ngồi trên võng trân trân.
Tôi cũng cảm thấy chết nửa thân người. Hoàng buông xụi con dao và mớ củi xuống
đất kêu lên:
- Bộ mày nói giỡn sao mầy?
Thiệp lặng thinh. Ba người nhìn
nhau lặng thinh. Trời đất xoay vần. Chẳng còn hiểu sao nữa.
Hoàng ngồi xuống gom củi dóm
bếp uống trà cho đỡ khổ. Chớ còn kêu la than thở gì bây giờ? Thiệp lột cái mũ
tai bèo xuống lau mồ hôi quanh cổ rồi quạt quạt. Mặt trời ác quá ! Giá đừng có
mặt trời thì chúng tôi dễ sống hơn.
Thiệp tựa lưng vào gốc cây.
Đoàn người cùng đi với Thiệp, kẻ thì ngồi gần đó, kẻ tản ra trong các láng, tìm
ngườl quen địa phương của họ
- Sao mà hi sinh dữ vậy ?
- Trên đường luồn về đồng bằng
bị phục kích !
- Còn con Phương?
- Nó bị một mảnh cà-nông bằng
ngón tay trúng ngay tim, chết liền. Tình hình ác quá. Mình chờn vờn hoài mà
không đi xuống được. Đến chừng quyết định đi thì bị phục kích.
- Đi đêm à?
- Thì đi đêm chứ đi ngày sao
lọt ! Đường sá đâu có biết chút nào. Giao liên dắt đi thì cứ đi. Vợ tao từ nhỏ
tới lớn chân giày chân dép. Lội về tới đây đã hết sức kiệt lực rồi. Tưởng đã
tới nơi. Ai dè đường đi xuống còn gian khổ gấp chục lần đường đi vào: Đi từng
chặng ngắn một, có chặng chỉ leo vài tiếng đồng hồ rồi không bò được nữa. Leo
núi còn tàn nhẫn hơn trên đường này. Lại phải chui trốn địch liền liền. Máy bay
nó biết lạch mình đi nên cứ bay rè rè quan sát. Rồi lại còn dân Thượng nữa.
Không biết được họ theo mình hay theo “tụi nó” nên cứ mỗi lần gặp dân Thượng là
phải chui trốn ngay. Ác lắm tụi bây ơi. Không được ngồi yên như ở đây đâu.
Ba-lô lúc nào cũng gọn gàng, hễ báo động là quơ chạy, hoặc lủi vô hang núi hoặc
chạy xa. Đâu có hầm hố gì. ….
- Đất ở đó không đào hầm được
à?
- Đâu có đất, chỉ toàn đá thôi
! Không thọc cuốc chỗ nào được hết. !
Hoàng rót trà cho Thiệp. Thiệp
bưng cái chén sắt tổ bố ực một hơi, chép miệng, buông cái chén như rụng xuống
đất:
- Chết cả đoàn rồi ! Thiệt !
Thiệt ! Không phải chiêm bao!
- Trời đất ! – Tôi kêu lên, vẫn
còn sững sờ, ngây dại.
- Nó phục kích, ban đêm, chạy
đường nào? Nó thuộc đường. Mình thì mò từng bước.
- Không lấy thây được à?
- Tao đoán là phải chết đến hai
phần ba. Còn lại thì bị bắt sống.
- Trời đất ! !
- Vợ tao đang đi trước tao, ngã
đánh huỵch một cái, chỉ kêu được một tiếng “anh ơi” rồi tắt luôn. Tao chạy thối
lui. Đạn bắn vét đỏ như tàn đuốc rát cả mặt. Máy quay phim không biết tao đã
liệng hồi nào. Khi chạy ra xa khỏi chỗ phục kích, tao ngã lăn không nghĩ là
mình còn sống !
- Còn những thằng kia đâu ?
- Đâu có biết thằng nào sống
sót thằng nào chết đâu. Tao chỉ biết có mình tao còn tại thế đây thôi.
- Còn giao liên?
- Giao liên đi đầu chắc lĩnh
nguyên băng trung liên rồi chớ gì !
- Bị phục kích hôm nào?
- Ba hôm trước – Thiệp tiếp –
Cái chỗ này là khúc eo. Từ trên núi đổ xuống thì có nhiều lối đi như rẽ quạt,
đường rộng, nhưng đến ngang đây thì nó thắt lại. Muốn xuống đồng bằng nhất
thiết phải qua cái Eo này. Tục gọi là Eo Máu. Qua được cái eo này thì mới luồn
vào đồng bằng được, nếu không thì ở trên núi tu luôn. Ngược lại những đoàn
người của mình ở đồng bằng chui lên núi thì có phần dễ dàng hơn. Chúng cũng
phục kích nhưng rất thưa, chỉ lấy lệ thôi.
- Tại sao? .
- Tao cũng không rõ. Nhưng theo
giao liên nói, thì chúng đó để mình thoát ra khỏi đồng bằng rồi “nhét nút”
không cho trở lại. Đóng đô trên này thì lúa gạo đâu mà sống?
- Sao tao thấy cả một làng ở
đây toàn dân Eo ?
- Thì ở dưới không còn đất
sống, một số phải chui lên đây, ăn gì ăn miễn sống thôi. Đó là một lối. Còn một
số thì lại cứ bám riết dưới đồng bằng, cái chết như nháy mắt, nhưng có cơm ăn,
được ở trong nhà hoặc núp ngoài vườn cây, khỏi phải trở thành cà khu. Hai loại
người, hai chủ trương. Loại người lên rừng “lập làng” đây tuy ngủ yên như lại
không có gì ăn . Lâu lâu vẫn phải mò về đồng bằng xin tiếp tế. Thì cũng phải bò
qua cái Eo Máu đó, năm ăn năm thua thôi. Giao liên bỏ trạm hết. Họ không dám
dắt khách đi đúng chuyến nữa. Cho nên những người ở vùng cao tự lực về đồng
bằng tiếp tế lấy. Người thì tới nơi nhưng khi trở lên tới Eo Máu thì bị bắn
chết với gùi ngô sống trên lưng, còn người khác về chưa tới đồng hằng đã ngã
gục với chiếc gùi không.
Tôi hỏi:
- Con Phương chết ở đâu?
- Chết lảng nhách ! Không ai
tưởng tượng được ! Chúng tao đang nấu cơm chiều ăn để chuẩn bị vượt Eo Máu. Nó
đang đứng bên bờ suối, bỗng một trái cà-nông nổ. Tụi tao chưa quen nên bò lăn
trên đất, nhưng giao liên cười bảo: “Ăn thua gì ! ” Vừa dứt lời thì nghe tiếng
kêu: ‘”Chết tôi !” Chúng tao nhìn lại thì thấy con Phương ngã xuống đất. Tao
chạy lại trước nhất. Tay nó bịt chặt ngực. Máu rỉ ra không nhiều. Nhưng nó đã tắt
hơi. Mảnh đạn có bằng đầu ngón tay, nhưng nó ác quá, lại ghim ngay tim. Con nhỏ
chết tươi không kịp trối trăn gì hết.
Thiệp ngồi lặng ngắt. Một chốc,
tiếp:
- Nó bảo sắp về tới quê nó rồi.
Ở đó nó còn ông nội, bà cô, cậu, dì đủ hết. Nó bảo về đến nơi sẽ thết đoàn một
con lợn! Nhưng không phải riêng nó mà thôi. Những thằng trong đoàn quảy đờn,
trống và áo mão định về quê làm một đoàn vừa hát bội vừa bài chòi đều thấy quê
nhà trước mắt. Bỗng vứt tất cả, xuôi tay.
Trưa nắng muốn điên đầu, lại
còn nghe một cái tin bể óc, thần kinh của tôi chắc phải dai như dây chão dây
thừng của hợp tác xã thì tôi mới khỏi ngất xỉu.
Thiệp nói tiếp:
- Thế nhưng con Phương còn may
mắn chán mày ạ. Vì nó được chôn cất tử tế.
- Như thế nào ?
- Ít nhất cũng được gói ghém kỹ
lưỡng bằng vải và ni lông. Ít nhất cũng có một cái huyệt để nằm cho ấm thân và
một nấm đất lè tè với một khúc gỗ đánh dấu. Còn vợ tao, đâu biết thân xác ra
sao !
- Mày chắc thế thật à?
- Đúng là trúng đạn. Tao nghe
tiếng kêu thì biết chắc. – Thiệp lắc đầu – Bình thường tiếng kêu không như thế.
… Tôi nhớ lại cả cái khung cảnh
trường đi B. Vui lắm. Tài tử giai nhân lớp lớp nói cười. Hầu hết các trái tài
gái sắc của các đoàn Văn công Trung ương đều được tuyển chọn để vào Nam tiếp
thu Sài Gòn và Đà Nắng giải phóng. Tiếp thu Sài Gòn thì có đoàn chúng tôi gồm
trên bốn mươi người; tiếp thu Đà Nẳng thì có đoàn khu Năm có trên ba mươi
người. Đoàn tiếp thu Sài Gòn thì chia làm nhiều cán bộ chuyên môn, trong đó có
nhạc sĩ sáng tác, nhạc sĩ cho quân nhạc (chúng tôi gọi là đám cai kèn), đông
nhất là các vũ nữ dân tộc và ba-lê, nhà quay phim tài liệu và phim truyện, nhà
văn, nhà báo, v.v… Riêng đoàn khu Năm thì trọng tâm là hát bội và bài chòi. Vợ
chồng Thiệp xin đi Ông Cụ nhưng ở trên lại cho đi Bác Kế. Ý định chéo ngoe,
nhưng phải bóp bụng mà đi. Đi, nhưng không phấn khởi. Người Bắc thích con người
và đất địa Nam Bộ hơn, trước đây cũng vậy mà bây giờ càng như vậy. .
Thiệp có cô vợ rất xinh – nhỏ
nhắn như búp bê, môi đỏ như son, mắt sắc như dao cau. Còn Thiệp thì khoẻ như
lực sĩ. Chúng tôi gọi đùa cô nàng là Hélène “tiểu thư nhỏ nhắn” như trong tiểu
thuyết “Chiến Tranh và Hoà
Bình” của Tolstoi. Cô nàng
không biết múa hát gì cả nhưng “chàng đi vì nước thiếp theo chàng.” Thiệp biết
chiến trường gian khổ, chết chóc, không muốn cho vợ theo. Nhưng nàng nhất định
xung phong “Vô đó, nấu cơm, quét nhà cũng được.” Thiệp khỏe như trâu, mang tất
cả đồ lề cho vợ. Cô nàng chỉ mang có cái bi-đông và cầm gậy chỏi đi, rất thảnh
thơi. Đã vậy những lúc qua suối, Thiệp sang bờ bên kia xong, trút cả ba-lô và
trở lại cõng vợ. Chúng tôi bảo: “Coi chừng mày ngã mày nhúng nước, vợ mày rã ra
như giấy đấy!” Tội nghiệp! Vậy mà vẫn đi với nhau tới ngả rẽ xuống Bác Kế. Ở
đầu ngả rẽ, thấy tôi bận bịu với Phương, Thiệp bảo:
- Tao sẽ giúp đỡ con Phương cho
! Đừng lo !
- Cảm ơn mày ! , . . Nhưng mày
đã mệt đừ với cô Hélène của mày rồi còn tay chân đâu nữa mà giúp !
- Tuy không giúp được nhưng nó
có vợ tao, hai đứa hủ hỉ với nhau!
Bây giờ cả hai đứa cùng hủ hỉ
dưới suối vàng.
Cách mạng nghĩ cũng kỳ. Tôi
không có duyên với cách mạng hay cách mạng không hấp dẫn được tôi không rõ nữa.
Nhưng đi theo cách mạng, hễ tôi yêu ai thì hỏng nấy ! Không sinh ly thì cũng tử
biệt. Cho đến lúc tôi leo núi hồi hương hôm nay đây, tôi đã có ba mối tình – có
thể gọi là Tình yêu – nhưng không đi đến đâu cả.
Với Phương tôi định sẽ nên vợ
nên chồng. Ngoài ba mươi rồi, chưa lập thân còn chờ gì nữa. Nhởn nhơ hoài mang
tiếng mang tai phóng túng, mình tự làm phiền mình không ít. Khi vào trường đi B
thì tôi đã gác lại một cách đàng hoàng các mối tơ Hà Nội ở ngoài vòng rào: “Em
đi đường em, anh đường anh!” Định vào đây “tu” ba tháng để về quê cho nó nhẹ
nhàng cái tấm thân nam nhi chi chí. Nhưng trời không cho trái tim tôi ở không.
Tôi gặp Phương, một vũ nữ ba-lê chói sáng trong những vũ nữ chói sáng của sân
khấu Hà Nội. Nàng có yêu một người nhạc trưởng (của đoàn nàng) trước khi gặp
tôi. Nhưng gia đình nàng, gốc người Quảng Nam, bố là nhà giáo, anh làm Trung
đoàn trưởng, tất cả đều nhất định không tán thành mối tình của hai người. Ông
bố nghiêm khắc bảo: “Bố không gả con cho người đó!” Chỉ có thế thôi. Chỉ có thế
mà nàng không vượt nổi. Và hai bên phải chia tay. Vào trường đi B lại gặp tôi.
Nước mắt tình cũ chưa khô lại thấy lố dạng tình mới. Chúng tôi yêu nhau dễ dàng
không ai dắt đường không ai nói ra nói vào cả. Coi như đó là một lẽ tự nhiên
trên đời: Hễ bị thương thì phải chữa chạy vết thương. Với đàn bà thì thuốc men
hữu hiệu nhất là đàn ông. Với đàn ông thì thuốc men hữu hiệu nhất là đàn bà.
Lấy đàn ông trị vết thương do đàn ông gây nên. Lấy đàn bà trị vết thương do đàn
bà gây nên. Lúc đó tôi hầu như không bị thương tích gì, nếu có thì cũng nhẹ.
Cái khổ của chúng tôi là kỷ
luật của trường đi B. Ở trên nói rõ toèn toẹc ra trước mặt ba quân rằng: “Vào
đây là để rèn luyện thể chất và tinh thần đi giải phóng miền Nam chứ không phải
để yêu đương. Những đồng chí đã yêu nhau thì hãy tốp lại, những đồng chí chưa
yêu nhau xin đừng tiến tới !”
Mặc dù giám thị răn đe hằng
ngày, chúng tôi vẫn có mánh lới để trao đổi tình cảm. Mỗi tối ngồi vào hội
trường nghe lên lớp, tôi chia hai cái lỗ tai cho giảng viên còn trái tim và
khối óc thì để dành viết thư cho Phương. Trong chín mươi ngày đêm ở trường, tôi
viết ít ra là chín mươi bức thư, nếu in ra chắc thành một tập Tình Thư. Viết
thì dễ nhưng gởi lại khó, khó lắm. Vì giám thị có tai mắt công khai, còn có cả
tụi “nội ứng.” Đó là bọn cùng đi B hoặc bọn được tổ chức cho khoác áo đi B sinh
hoạt lẫn lộn với đám đi B thứ thiệt để theo dõi mọi người.
Tôi nhờ một người rất thân tín.
Đó là họa sĩ Diệp Minh Châu, người cùng quê, biết nhau ở Nam Bộ. Anh Châu thuộc
tuổi nghề và tuổi đời đàn anh và là một loại người “ưu tiên” của trường đi B
này. Anh muốn tập thì tập muốn học thì học, không thì thôi, giám thị không dám
động tới. Cho nên mỗi buổi sáng anh qua phòng tôi giả bộ: “Ê mày còn hào cho
tao mưa thuốc hút!”. Thế là tôi đưa cho anh hoặc “hào bạc” hoặc “nửa bao thuốc
lá”. Riết rồi thành thói quen, không ai để ý nữa, ảnh bỏ túi, cười hề hề: “Ê,
thuốc ngon để ăn cơm rồi tao sẽ hút nghe mậy?” Thế là trong giờ xuống nhà ăn
anh tìm mâm cơm ngồi ăn chung với Phương hoặc sau khi ăn cơm anh chận đường
Phương mà thi hành nhiệm vụ liên lạc.
Dù thực hành công tác bí mật
còn hơn “Tỉnh ủy Bí mật” của bác dịch, nhưng tôi và Phương vẫn
bị gọi lên văn phòng cảnh cáo hai lần. Lần thứ ba lời cảnh cáo rất nghiêm khắc:
Nếu tái phạm sẽ ngưng vụ đi B. Nhưng sợ gì ? Tôi là thằng coi kỷ luật như trò
hề. Nó nghiêm chỉnh với người này nhưng lại dây thun với kẻ khác. Do đó tôi đổi
chiến thuật trao thơ. Tôi bảo anh Châu đọc sách. Thơ từ của tôi và của Phương
qua lại trong những trang sách. Nói tóm lại, khi yêu chỉ có trời níu được chân
và cấm được… thơ từ.
Dằng dai như thế, cho đến kỳ
nghỉ phép cuối cùng. Một tuần lễ. Ai nấy đều được về nhà ăn Tết với gia đình và
ngày mồng năm Tết, đúng sáu giờ phải có mặt tại trường để lãnh đồ trang bị sửa
soạn lên đường.
Trong bảy ngày đó, ngày nào tôi
cũng tới nhà Phương, một thứ nhà kho biến chế thành nhà ở, đường Bà Triệu gần
Tòa án Nhân Dân của ông Cựu Chủ tịch Ủy Ban Kháng chiến Miền Nam Việt Nam bây
giờ bị đá ra rìa một cách êm ái. Phương đòi giới thiệu tôi với bố mẹ và gia
đình. Tôi không muốn cái “lễ nghi” ấy, vì sợ ông già lại bảo “Bố không gả con
cho người này” nữa thì tôi chui đi đằng nào? Nhưng Phương cứ nằn nì giận lên
giận xuống mãi. Bảy ngày nghỉ phép hóa ra bảy ngày giận hờn không ngớt. Cuối
cùng tôi phải nhận lời. Cũng may, cả gia đình đều đồng ý. Ông già lại còn đưa
tôi đến nhà bà con để giới thiệu: “Đây là fiancé của con Phương!” Tôi mắc cỡ
tím cả người. Nhưng Phương liếc .. tôi lấy làm đắc chí: “Thấy không, em biết
mà. Đâu có ai ghét dân Nam kỳ… (cục) của anh đâu!” Người anh rể làm Trung đoàn
trưởng chạy đi tìm những đồ nhà binh như thắt lưng, vải bạt, vải dù để tăng
cường trang bị cho tôi.
Chúng tôi xem như đã hứa hôn
với nhau trước mặt gia đình rồi. Không có còn lăng nhăng nữa đấy nghe!- Phương
bảo tôi. (Cô nàng cũng ớn các
ông nhà văn lãng mạn chúng tôi lắm!)
Phương đưa cho tôi một chiếc
nhẫn vàng, một đôi giày trẻ sơ sinh màu trắng như tuyết và bảo: “Anh cất đi để
sau này cho con đeo!” Tôi không có gì để tặng nàng làm kỷ vật cả nên chạy đi
bán cái xe đạp mua cho nàng cái đồng hồ. Chỉ có thế.
Trở lại trường, chúng tôi bình
tĩnh coi nhau như bạn thường.
Khi vào đến Trường Sơn mới bắt
đầu ngửi thấy không khí chia ly trên thực địa.
Nghĩ cũng kỳ! Đang sum họp và
sắp thành vợ chồng bỗng chốc mà chia ly. Y như đùa. Tôi thì nhất định không đi
Bác Kế với nàng rồi. Nếu “ở trên” khôn ngoan mà thông cảm với hai chúng tôi thì
đã để cho Phương cùng đi Ông Cụ với tôi. Nhưng họ nhất định cứng rắn, không
thay đổi. Họ mất gì nếu để cho Phương đi Nam Bộ? Không mất gì cả, ngược lại còn
được, được rất nhiều.
Đó, cách mạng vô sản! Cũng là
vô lương, vô bổ. Tôi đá bỏ là phải lắm! Khi tôi hồi chánh, tôi có đi ra nói
chuyện ở Đà Nẵng một lần. Tôi có đi tìm gia đình và bà con của Phương, nhưng vì
tôi đánh mất địa chỉ nên không tìm được. Tôi có người bạn cũ cùng học trường
quận với nhau nay làm tới tướng. Anh ta ngỏ ý sẽ giúp cho trực thăng và lính đổ
bộ đi bốc xác người yêu về cải táng trong thành phố nhưng rừng núi điệp trùng,
biết người yêu vùi thây nơi nào mà tìm đến được? Hơn nữa Eo Máu không phải là
một địa danh có trên bản đồ. Do đó mà ý nguyện cuối cùng đối với Phương cũng
không thực hiện.
Đâu chừng ba, bốn năm sau…
Một buổi trưa, tôi đang ngồi
trong văn phòng Giám đốc Trung tâm Chiêu Hồi Trung ương ở Thị Nghè (tôi là Giám
Đốc) bỗng người tùy phái vào trao cho tôi một mẩu giấy con. Tôi cầm lấy đọc.
Thì ra có người quen cũ đến tìm. Tôi cho mời vào.
Đó là nhà đạo diễn Xưởng Phim
Truyện Hà Nội cũng là đạo diễn Đoàn Kịch Nói Trung ương. Anh ta đi vào một lượt
với tôi và rẽ xuống Bác Kế. Chính anh ta là một trong những người bị phục kích
ở Eo Máu trên đường luồn xuống đồng bằng! Tên anh ta có hằng chục. Nhưng anh
thích nhất chữ L. nên xin gọi anh ta là L.
Tôi đãi anh bạn chết hụt một chầu
la-de tại văn phòng. Anh ta nói:
- Tao được trao đổi tù binh ở
Xuyên Mộc mày à! – L. nói khi đã uống tới cha 33 thứ tám.- Địt mẹ! Tao mà còn
sống đây là nhờ Trời. Chỉ có Trời mới cứu tao khỏi chết thôi.
- Mày đâu có sốt rét trận nào.
Khoẻ như voi mà! Hì hì, con gái đứa nào cũng o mày cả để cho mày cộ đồ dùm
chúng nó.
- Không sốt rét nhưng cái vụ Eo
Máu đáng một ngàn cơn sốt!
- Những đứa nào sống sót với
mày?
- Một thằng đờn Bài Chòi, ba
thằng Hát Bội và mấy thằng địa phương. Còn bao nhiêu chết hết. Mày tưởng tượng
xem, thế này nhé! – L. xếp các chai và cốc thành một hàng dài và tiếp – Địa
hình hành quân của đoàn là thế đó. Đường đi độc đạo. Nó kê súng máy trước mặt.
Mình cứ đâm sầm đi tới. Mày nghĩ xem, sống sót sao được kia chứ! Hừ hừ.. vậy mà
tao lọt. Hừ hừ.. tao không hiểu là đạn mù hay tao có mắt.
- Rồi sao?
- Rồi nó xách óc đem bỏ tù chớ
sao nữa. Mấy thằng Bài Chòi và Hát Bội khóc rưng rức vì mấy cô đào thương chết
cả. Tao ngồi trong khám, dửng dưng. Hồn bất phụ thể năm sáu ngày liền. Ai kêu
tên cũng không lên tiếng. Con Phương của mày, nếu không bị đạn buổi chiều thì
tối hôm đó cũng không thoát. Tụi tao chôn nó chớ ai? … Trời đất!…Đ.m. Tao hết
biết nói sao!… Trong đêm lập loè ánh đèn pin, tao bị đẩy đi còn ngó ngoái xem
bao nhiêu thằng mình vừa gục.
- Rồi sao mày ra được vậy? –
Tôi hỏi.
- Còn sao mày ra được đây? – L.
hỏi vặn lại.
- Tao “dông” chứ còn sao.
- Tao có nghe trên đài. Lúc đó
tao được tự do nghe đài và coi báo! … Còn tao, không hiểu sao chúng nó bắt tao
ra làm đồ vật đổi chác! Khi ra đến địa điểm đổi tù, tao nói ngay: “Tôi không
lấy thân tôi đổi với ai cả. Và tôi cũng không muốn trở về với Miền Bắc. Tôi
muốn được một đặc ân của Chánh phủ Việt Nam Cộng Hoà. Cho tôi cải danh ‘tù
binh’ ra ‘hồi chánh’. Phía các ông Sàigòn ngạc nhiên. Còn tụi Hà Nội chúng nó
lõ mắt trợn nhìn tao như muốn nuốt sống tao. Tao nhìn lại thách thức: “Lõ
con cặc! Tao chào tụi bay luôn!” và
tao được làm hồi chánh viên khoẻ ru như cu bà bóng. Hà hà bây giờ Mỹ nó thuê
tao. Lương tháng xài thấy mẹ không hết… Ngặt một nỗi là vợ con ở cả ngoài Bắc,
mình ăn uống gì cũng không ngon! Thằng Burchett nói đúng. Đất nước chia đôi,
chia đôi đến một làng, một gia đình cả đến một vợ một chồng.
o O o
Thiệp ngồi giữa nắng chang
chang mà cơ hồ không hay biết. Trái tim của nó đã chín nhừ trong biển lửa mênh
mông.
Tôi hỏi:
- Bây giờ mày tính sao?
- Còn tính cái gì nữa chớ?
- Công tác thế nào?
- Tao đâu còn cái gì mà công
tác. Mà công tác ở đâu kia chứ?
- Vậy cơ sở của mày là ai?
- Là cậu giao liên mười sáu
tuổi dắt đường đêm trước. Cậu ta đi đầu. Chắc là lãnh nguyên băng súng máy rồi.
Khách chạy bạt mạng mạnh thằng nào thằng nấy chui. Đó, mấy đứa cùng đi với tao
lúc nãy đó! Họ là dân khu 5 chứ không phải người trong đoàn đi từ Hà Nội. Trong
đó có một ông Huyện ủy viên. Ông ta bảo ông ta chết hụt lần này là lần thứ mấy
chục rồi. Ổng tởn luôn rồi. Ổng bảo với tao là kỳ này chắc phải xoi đường khác
mới dám “hạ san”, nếu không xoi được có lẽ phải tu luôn trên núi.
- Rồi sao?
- Chẳng có sao cả! Thằng chả
đâu có trách nhiệm gì đối với tao. Mà tao cũng đâu có giấy tờ gì để trình ra.
Có cái giấy đi B con con, đóng cái mộc nâu nâu méo méo tròn tròn. Ừ thì biết là
dân đi B vậy thôi, chứ ở đây ai lại ách giữa đàng mà đem mang vào cổ. Khoai bắp
đâu cho ăn? Ở vùng này mày thấy đống cứt nào toàn lá cây, khoai, bắp còn nguyên
hột đó là có cán bộ ở gần đó.
Hoàng buột miệng:
- Đi mẹ nó vô Nam Bộ với tụi
tao cho rồi!!!
- Đi đâu cũng được nhưng bây
giờ tao phải nghỉ ít lâu cái đã.
- Nghỉ bao lâu mà không được.
- Chịp! Tao muốn mò trở lại gần
Eo Máu tìm vợ tao. Mày ơi …
Thiệp đang nói bỗng dứt ngang,
gục đầu xuống khóc như con nít.
Hoàng đứng dậy, đi tránh… Tôi
ngồi lặng ngắt. Nước mắt chảy ròng ròng nóng ran trên má. Tôi quệt ngang và bảo
Thiệp:
- Thôi, quên đi là xong.
- … Hu hu hu…
- Chớ còn làm gì được! Tao hỏi
mày!
- Hu hu hu…
- Để thong thả rồi tụi mình
tính, Thiệp à! Bây giờ hãy mắc võng nằm cái đã ! – May sao tôi cũng còn được
chút bình tĩnh. Tôi lục ba-lô của Thiệp, moi lấy võng mắc cho nó nằm. Nó lịm đi
trong đau đớn, trong quằn quại.
Những ngày dưỡng sức của chúng
tôi ở cái “buôn” này không mấy gì yên ổn với anh chàng mất vợ. Và tôi nữa, mỗi
lần Thiệp than thở thì tim tôi cũng động lây. Đồng bệnh tương lân là thế. Tôi
mất Phương như mất vợ. Một người con gái đã giới thiệu mình với gia đình và gia
đình cũng đã chấp nhận, thì trong tinh thần nàng đã là vợ của tôi rồi. Chỉ còn
gang tấc là mọi việc đã thành.
Bây giờ thì không có gì thành
cả. Tất cả thành mây khói.
Thiệp không lúc nào quên đi
được cô bé Hélène của nó. Chốc chốc Thiệp lại than: “Trời ơi, phải viên đạn đi
chệch qua một chút thì vợ tao đâu có sao!” Một chốc, lại chắc lưỡi: “Lúc chiều
giao liên bảo có triệu chứng bị phục kích, nên nó bàn với khách không nên đi,
để chờ dò xét cho kỹ rồi sẽ đi – Nhưng có lắm ông sốt ruột bảo “Không chết bữa
nay thì mai cũng chết! Chết trước được mồ được mả!” Thế là đi! Cho nên mới chết
hết! Có ai được mồ được mả đâu nào!”
Chập sau, Thiệp lại tự trách:
“Tại tôi không cương quyết. Tôi đã bảo với vợ tôi đừng có đi. Nhưng nó cãi lại:
Để em đi cho biết cách mạng ra sao! Ở Hà Nội nay “xây” mai “chống” em chán lắm!
Không đi B thì ở nhà em cũng lên Bắc Thái khai hoang chớ đâu có được yên thân.
Thế là đi. Và chết như thế đó!”
Chập nữa, Thiệp lại nói nhảm
một mình: “Bây giờ thì thân xác đã rã nát rồi! Có ai chôn cất gì đâu. Ở Hà Nội
yên thân, không chịu, vô đây cho diều tha quạ xớt! Người chết đã yên, người
sống lại khổ. Làm sao mà trở lại đó bây giờ.” Thiệp cứ lèm bèm không ngớt mồm.
Thiệp cứ nhắc cứ than, bất kể có ai nghe hay không có ai nghe.
Cái sướng độc nhất ở chặng
đường này là chúng tôi được lãnh gạo. Và gạo chỉ phát cho “dân” đi B, còn “dân”
địa phương thì không được dấm dớ.
Kẻ nào chìa cái thẻ con con ra
thì được lĩnh mười sáu kí gạo. Mèn đét ơi! Đó đâu phải chuyện giỡn chơi. Hạt
gạo giữa Trường Sơn phải hiểu ra là một ống B12.
Chiều hôm đó, ông Huyện ủy tới
lều tôi, tự giới thiệu và ngồi lại nói chuyện rất lâu như để tự bào chữa cho
chuyến đi đau đớn vừa rồi. Rằng việc đó thường xảy ra và không thể nào ngăn
ngừa được. Ông nói:
- Mình không có cơ sở đường dây
ở đồng bằng. Từ trên núi xuống cũng như đi mò, may nhờ, rủi chịu vậy. May thì
thoát, rủi thì chết. Không có ám hiệu gì từ đồng bằng như thời chống Pháp. Tụi
Ngụy bây giờ khôn gấp trăm lần thằng Pháp. Chúng nó lập vành đai trắng rộng mấy
cây số sát chân núi. Phải vượt vành đai đó mới xuống tới làng.
- Làng này tên gì, đồng chí? –
Tôi hỏi.
- Xin lỗi đồng chí! Chúng tôi
không được phép nói tên địa phương cho các đoàn đi B.
- Tại sao?
- Vì đã có trường hợp xảy ra
rồi…
- Trường hợp gì?
- Họ nghe tên một làng một quận
là họ có thể đoán ra hướng đi và … Tôi nói vậy đồng chí thông cảm! – Ông Huyện
ủy tiếp – Lắm khi qua lọt Eo Máu rồi vào xóm thì gặp tụi Bình Định, ớn lắm.
Chúng nó nằm trong dân. Một tiếng chó sủa khang khác cũng không lọt khỏi tai
chúng nó. Tôi từng kháng chiến chín năm chống Pháp. So với bây giờ, kháng chiến
chống Pháp chỉ là trò đi chợ Tết… Đồng chí ơi! Thiệt hại của mình vô kể. Không
còn chi bộ địa phương. Hầu hết các chi ủy đều bị bắt và tù Côn Đảo cả. Lứa trẻ
bây giờ không có kinh nghiệm và cũng không gan góc như cha anh chúng. Đã vậy
lại đụng với một đối tượng vừa có huấn luyện vừa đầy đủ kỹ thuật.
- Kỹ thuật gì? – Tôi hỏi.
- Tôi nói ví dụ như cái vụ hầm
bí mật. Ngày trước xuống hầm bí mật đem thức ăn thức uống xuống đó, tối ngày ăn
hút khoẻ lắm. Tối bò lên đi từng nhà rỉ tai chuyện nọ chuyện kia. Bây giờ xuống
hầm bí mật năm ăn năm thua. Chúng nó có chó. Trời đất, những con chó mang đâu
từ bên Mỹ sang đây. Con nào con ấy to bằng con bò con. Chỗ nào nó nghi, nó thả
chó đi tìm thì “bật nắp” hết. Chó đã đánh hơi thì không sót một hầm nào!
- Rồi mình hoạt động làm sao?
- Chưa biết. Hiện giờ cứ sống
cái đã. Kỳ rồi tôi định luồn về để phổ biến những nghị quyết quan trọng nhưng
không lọt.
- Đồng chí định công tác sắp
tới thế nào?
- Trước mắt là tổ chức đi lấy
xác.
- Đồng chí dám trở lại sao?
- Tụi này ác thì rất ác nhưng
nhân cũng rất nhân.
- Nghĩa là sao?
- Nghĩa là nó bắn ai chết, nếu
là người trong vùng mà nó biết thì nó cho gia đình hay để đến lấy xác. Còn nếu
nó không biết thì nó để cho năm ngày ai muốn đến lấy xác thì lấy, nó để yên,
không phục kích. Sau năm ngày không ai lấy xác thì tụi nó cho trực thăng tới
bốc đi, đem về chôn ở một bãi đất hoang. Bãi này ở rìa thành phố nghe dân đồn
rằng nay đã hết chỗ.
- Ủa, có chuyện đó nữa sao? –
Thiệp nhảy tưng lên.
- Bởi thế nên tôi muốn tổ chức
người trở lại lấy xác và tìm kiếm những đồng chí thất lạc của mình nhưng không
ai muốn đi hết. Riêng đồng chí thì thế nào? – Ông Huyện ủy hỏi Thiệp.
Thiệp đáp:
- Các đồng chí có đi thì tôi
mới theo được, chứ nếu các đồng chí không đi, tôi làm sao dám tới đó ?
- Để tôi thuyết phục các đồng
chí xem sao!
Chúng tôi nấu cơm với gạo (ở
vùng này nói là nấu cơm nhưng thực sự trong nồi chỉ có bắp, khoai) và mời ông
Huyện ủy ăn luôn cho vui. Chả là mới lãnh được gạo mà. Dân Nam Kỳ như thế đó. Nhà
có đám giỗ mời luôn cả xóm. Huống chi mình đang ở trong “đất” người ta. Biết
đâu sẽ còn nhờ vả.
Tội nghiệp, ông Huyện ủy ăn có
vẻ ngon miệng hơn chúng tôi. Ông thú thực:
- Lâu lâu mới ăn được bữa cơm
trắng các đồng chí ạ. Cơ quan ở đây phải tự túc tám mươi phần trăm, bộ đội năm
mươi phần trăm lương thực. Nhiều rẫy bắp sắp được ăn, chúng nó phá sạch.
Riêng Thiệp thì không ăn một
lượt với chúng tôi. Nhờ chìa ra cái thẻ chứng nhận đi B Thiệp cũng lãnh được
gạo trắng. (Sau vài tháng đồng hoá với địa phương thì phải ăn bắp hoặc lãnh lúa
về vọt lấy mà ăn như người Thượng).
Thiệp lui cui nấu nướng. Đợi
chúng tôi ăn xong, Thiệp mới lấy cái bàn bện bằng cây rừng của tôi để gác
ba-lô, trải ni-lông lên và bới cơm ra chén. Hỏi nó làm gì vậy? Nó móc túi lấy
một tấm hình cỡ 4×6 dựng bên chén cơm rồi bệu bạo nói:
- Tao cúng cơm vợ tao! – Rồi
Thiệp đứng trước bàn lâm râm khấn vái – Em
là Phạm Thị Xuân Anh đi công tác chẳng may bị nạn, hi sinh giữa đường, sống
khôn thác thiêng xin về phù hộ cho anh và các đồng chí đi đến nơi về đến chốn – Vái xong, xá xá, nước mắt ròng ròng
và khóc rống lên.
Tôi cũng cầm lòng không đậu.
Hoàng và ông Huyện ủy ngó ngang như không muốn nhìn cảnh bi thương diễn ra
trước mặt: Cái bàn thờ tang và ông cán bộ giải phóng khấn vái.
Tôi thấy lòng quặn đau như vò.
Lời van vái đơn sơ của Thiệp, chạm tới tâm can tôi. Ừ nhỉ! Mình cũng mang một
nỗi đau như nó, nhưng mình không biết làm như nó. Tại sao? Mười năm qua, tôi đã
sống trong những “cái nhà” không có bàn thờ, những cái nhà không có ông bà cha
mẹ, những cái nhà chỉ treo hình cụ Hồ và đám mặt mo, những tên lạ hoắc lạ huơ
mà phải gọi là ông nọ ông kia, gọi là tiên tổ. Sự thờ cúng đã vắng mất trong
đời sống của tôi một quãng thời gian mười năm. Gia đình và dòng họ tôi cũng như
gia đình và dòng họ những người Việt Nam hằng năm, đều có những lễ giỗ, những
dịp cúng tế. Tôi đã hít thở hương khói thiêng liêng quanh bàn thờ, đã sống và
lớn lên trong phong tục đó. Xã nghĩa văn minh đã gạt bỏ những phong tục “lạc
hậu”. Cho nên bây giờ tôi thấy Thiệp cúng vợ mà ngạc nhiên và tự xấu hổ thầm.
Không có một cọng nhang, một tờ giấy vàng mã nhưng chắc lời nó khấn sẽ bay lên
cao đến tai vợ nó.
- 13 -
Đang nằm toòng teng trên võng
bỗng nghe tiếng máy bay đến. Máy bay dọ thám. Có tiếng thét to cảnh giác mọi
người, vang lên đây đó:
- Đầm già! Dẹp quần áo vô!
- Tắt lửa!
Mọi người ngửa mặt lên nhìn:
Con “đầm già mang guốc” (loại
máy bay tuần thám, bay chậm rì, có hai bánh xe thòi ra như cặp chân mang guốc.
Bọn tôi chế diễu nó là “đầm già mang guốc”. Danh từ này có từ thời chống Pháp.
Sau này về Nam “đầm già” bay đen trời. Nó tới đâu là bom tới đó, khác hẳn với
thời chống Pháp, nhưng nó vẫn giữ nguyên tên: đầm già mang guốc.)
Con đầm già bay rè rè trên cao,
vòng quanh khu rừng, không có vẻ gì nguy hiểm cả. Nhưng ông Huyện ủy bảo:
- Thằng này khó chịu lắm đó,
các đồng chí phải đề phòng. Nó lên tới đây tức là nó đi tìm cái gì đó chứ chẳng
chơi đâu.
Mười năm ở Hà Nội, tôi không
còn nhớ các trận bom của đám “cồng cộc lửa” (spitfire) nay thấy máy bay thì
cũng hơi gờm. Chiếc đầm già chao qua liệng lại một chốc rồi từ trên không có
tiếng vang lên. Tiếng người nghe rõ từng câu một:
- Nghe đây! Anh em cán binh
Việt Cộng hãy nghe đây. Đoàn văn nghệ xâm nhập xuống đồng bằng gồm có cán bộ
Trung ương và cán bộ địa phương đã bị bắt đêm… Họ đã được đối xử tử tế và họ tự
nhận ra công việc làm của họ là phi nghĩa, cho nên họ có đôi lời nhắn nhủ cùng
đồng đội cũ của họ. Mời các bạn hãy lắng nghe những lời tâm tình của họ.
Chiếc máy bay bay chậm lại rồi
hạ thấp xuống.
Tôi bảo ông Huyện ủy :
- Mình có bộ đội sao không chơi
nó?
- Ấy chết! Ấy chết! Mình bắn
một phát là lạy ông tôi ở bụi này ngay!
Chiếc máy bay lừ lừ bay thật
chậm và tiếng nói lại phát ra:
- Cùng các bạn Hà Nội. Tôi là
nhà nhiếp ảnh Bùi Văn Ánh. Tôi là người đã từng chụp ảnh bác Hồ đăng trên báo
Nhân Dân, các bạn còn nhớ không? Trong chuyến đi vào đồng bằng đêm trước đây
tôi đã bị bắt sống trên đường đột nhập. Tôi được đối xử tử tế, được trị bịnh
sốt rét, hiện nay đã lành mạnh. Mỗi ngày tôi được ăn uống đầy đủ có cá thịt,
nước ngọt, la-de, muốn thứ gì có thứ đó. Các bạn, tôi đã suy nghĩ rất nhiều.
Chúng ta chiến đấu, hi sinh cho cái gì và cho ai? Nếu cho lý tưởng Thiên đàng
Cộng sản thì hiện tôi đang sống trên Thiên đàng Cộng Sản! Hà Nội luôn luôn
tuyên truyền rằng Miền Nam phồn vinh giả tạo, nhưng Miền Nam dưới mắt thật và
cả trong ống kính máy ảnh của tôi nữa là một miền trù phú giàu có thực sự…
Sau bài phát thanh của nhiếp
ảnh gia họ Bùi, có một bản nhạc. Trời đất! Bản “Kinh Cầu Nguyện” của Lưu Hữu
Phước, bản nhạc tôi hát đến mòn lưỡi:
“Trời mây u ám gió cuốn tả tơi
hoa cỏ
Thời xưa lưu dấu, âm vang nỉ non trong gió…”
Nghe nó, nhớ tổ tiên ông bà ông
vải gì đâu không biết nữa. Mấy cái bộ mặt móp méo nhìn nhau mà chán nhau đến
hết muốn thấy nhau nữa. Bỗng vang lên một giọng eo éo:
- Tôi là Phạm Thị Xuân Anh bị
bắt cùng với nhà nhiếp ảnh Bùi Văn Ánh trong chuyến đi đồng bằng. Tôi là người
Hà Nội, đi theo chồng là nhà quay phim Nguyễn Thiệp. Tôi không biết chồng tôi
hiện giờ ở đâu còn sống hay bị thương bò lết rồi gục trong hang đá nào … hu hu…
Tiếng khóc của người đàn bà
vang lên giữa trời xanh mà nắng lại chang chang như đổ lửa. Thiệp dựng đứng dậy
nép mình bên thân cây, ngước lên khoảng lá trống như để nhìn cho rõ chiếc máy
bay.
Phạm Thị Xuân Anh vẫn nói đi
nói lại mấy câu ấy… Cũng giọng ấy rồi lại khóc. Tiếng khóc như làm vỡ cả trời
đất.
Chập sau chiếc máy bay bay mất.
Thiệp còn đứng mặt ngơ ngác tay chân không cử động giữa rừng như một cái cây
khô. Ông Huyện ủy nói:
- Chúng nó bịp đấy, đừng có tin
!
- Mày nghe có phải giọng nói
của vợ mày không?
Thiệp ngồi phệch xuống lẩm bẩm:
- Nghe có lúc đúng có lúc
không!
- Nhưng sao nó biết tên vợ mày
và thằng Ánh nó nói trúng phông phốc cả vậy ?
Ông Huyện ủy gạt ngang:
- Nó có sở tâm lý chiến, nó biết
hết mà!
- Nhưng làm sao nó biết chồng
của bà Anh là Thiệp?
Ông Huyện ủy im vì không gạt
được nữa. Tôi nói với Thiệp:
- Vấn đề là mày có nghe ra
giọng của bả hay không thôi. Nó bịp cái gì thì bịp chớ giọng người thì không
bịp được.
Thiệp bứt đầu bứt tai:
- Nghe có lúc đúng lúc không!
Ông Huyện ủy nói ngay:
- Đàn bà con gái thì giọng hơi
giống nhau cả mà!
Vừa dứt lời thì chiếc đầm già
trở lại. Cũng vẫn lời tâm tình của nhiếp ảnh gia họ Bùi rồi đến trời mây u ám, xong, đến Phạm Thị Xuân Anh. Thiệp
ngước lên như hớp từng ngụm nước mưa vô hình. Phạm Thị Xuân Anh nói xong thì
khóc. Mọi sự đều y như lúc nãy.
- Tao nghe giống lắm – Tôi buột
miệng nói.
- Vâng, khúc đầu tôi nghe cũng
giống lắm. Tiếng khóc cũng giống. Chỉ có khúc giữa thì hơi khang khác – Thiệp
phụ hoạ – khang khác chứ không khác lắm!
Tôi từng làm ở Đài phát thanh
Hà Nội, nên có ít nhiều kinh nghiệm về công việc thu âm. Tôi nói:
- Có thể là đoạn đầu nó thu âm
trực tiếp, còn đoạn giữa là nó thu lại từ đoàn đầu nên âm thanh không hoàn toàn
trung thực. Với lại có thể là phát ra giữa tầng cao, âm thanh bị gió và sức
chuyển động của phi cơ làm méo mó đi nhiều.
Ông Huyện ủy lại gạt ngang một
cách vui vẻ.
- Tôi bảo đảm đó chỉ là trò
bịp. Chúng tôi đã bị nhiều lần rồi. Có cả một lần thằng “cán binh Việt Cộng
ngồi trên máy bay đang kêu gọi đồng đội cũ lại là thằng đang ngồi chong ngóc
dưới đất với chúng tôi”. Thằng đó lại chính là tôi. Hà.. hà… Các đồng chí biết
sao không? Nó giả giọng nói của tôi. Chả là tôi có bị chúng bắt một lần và trốn
thoát, nên nó có lời khai của tôi trong máy ghi âm. Nó chọn một người có giọng
gần giống giọng của tôi… Thế đó! Nó làm cả xã, cả huyện hoang mang, vợ con tôi
khóc hết nước mắt chứ phải chơi đâu!
Tôi gật gù miễn cưỡng. Hoàng
chêm vào:
- Cái bọn chơi ngón độc thật.
Lấy bạn gọi bạn, lấy vợ gọi chồng.
Tôi nói:
- Thì nó cũng “học” cái ngón
của mình thường dùng thời kháng chiến chống Pháp chớ sao! – Tôi vỗ vỗ đùi – Tôi
bị bốn vít cũng vì ham săn đề tài nội ứng để viết truyện cho chiến dịch trung
tâm công tác năm 1952 ở Cần Thơ đấy cha! Kỳ đó tưởng hốt trọn ổ, ai dè mình bị
phản thùng.
Còn đang cãi chuyện hư chuyện
thực thì một tờ giấy rơi đúng vào giữa cái bàn thờ tang của vợ Thiệp: Bà Phạm
Thị Xuân Anh. Cơm chưa nguội. Hồn Bà bay về hưởng của cúng!
Tôi thấy tấm giấy hình chữ nhật
to bằng bàn tay trắng toát mà nghĩ như vậy. Tôi không tưởng tượng ra được ở
giữa rừng laị có một mẩu giấy trắng đẹp đến thế. Ở đây cái gì cũng xù xì, thô
lỗ, bần tiện, khốn cùng, làm sao có một tấm giấy thế kia? Vì ngồi gần đấy, nên
tôi đưa tay cầm lấy. Tôi kêu lên:
- Trời đất! Vợ mày Thiệp!
Thiệp chụp lấy tờ giấy từ trên
tay tôi. Rồi ông Huyện ủy cướp lấy. Ông ngoẹo đầu:
- Thôi, thế bỏ mẹ rồi! Thiệt
rồi!
Tôi chẳng nói chẳng rằng gì
hết. Còn Thiệp thì giật lại tờ giấy nâng lên mắt. Tôi chẳng ngờ được một câu
chuyện như thế đã xảy ra kịch tính giống in như trong Shakespeare.
Đúng là vợ thằng Thiệp, bà Phạm
Thị Xuân Anh, tôi quen ở trường đi B mà. Một tấm ảnh của bà in bên góc trái,
còn bên góc phải là ảnh của hai vợ chồng chụp chung nguyên người. Thiệp kênh đồ
Tây, cà vạt hẳn hoi. Còn vợ thì áo dài tha thướt. Cả hai cùng cười hạnh phúc.
Thiệp lắc đầu:
- Ảnh này chụp trong ngày cưới.
Mỗi đứa bỏ ví một tấm đề phòng khi vô đây công tác xa nhau.
Chẳng còn ai nói thêm câu gì.
Cả đến ông Huyện ủy có thói quen gạt ngang hết mọi sự đời cũng im luôn. Ông ta
cứ chắc lưỡi như thằn lằn. Thiệp chỉ đọc đi đọc lại những dòng chữ trên giấy.
Cũng y như lời phát thanh. Chữ to, đậm ở phía dưới cùng lại có cả chữ ký tên
Phạm Thị Xuân Anh. Tôi hỏi:
- Mày xem có phải chữ ký của bả
không?
- Chứ còn của ai nữa!
Có lẽ sau một phút suy nghĩ,
ông Huyện ủy tìm ra được cái “chà gạt” mới, nên nói:
- Nhưng mà bà ấy bị ép buộc nên
phải làm thế thôi!
- Có ép buộc gì đâu. Mấy câu
của bà ấy chỉ cho biết bả bị bắt, cho biết tên chồng, cho biết gốc gác, công
tác của vợ chồng, thế thôi!
Ông Huyện ủy trở tờ giấy đọc
mặt bên kia.
- Đồng chí này cũng bị bắt
buộc. Ai bị bắt cũng nói y như vậy thôi!
Tuy miệng nói vậy nhưng mắt ông
vẫn đọc. Tôi theo dõi, liệu chừng ông đọc xong, tôi giật lấy.
Liếc sơ qua cũng thấy lời lẽ
phát thanh và chữ in trên giấy đều giống nhau. Còn ảnh của anh phó nháy thì
cũng in bên góc trái. Đúng là hắn rồi chứ không phải ảnh “mượn” được của ai mà
lại giống đến thế.
Cả mấy người đều ngơ ngẩn nhìn
nhau, chưa ai có đối sách như thế nào thì chiếc đầm già lại trở lại. Cũng phát
thanh những lời lẽ thống thiết như trước . Ông Huyện ủy lại xua tay:
- Kệ xác nó nói gì nó nói, mình
đừng thèm nghe.
(thiếu một trang vì nhà in sắp
nhầm. - Ghi chú của người đánh máy.
Lê Thy)
…ổn định dân của ông nên ông
chạy lại chỗ có tiếng ồn kia.
Tôi ngoái cổ nhìn theo thì thấy
một nhóm người đang túm tụm vào nhau giành giật lia lịa. Rồi mấy người chạy
thụt lùi về phía này. Tôi thấy trên tay mỗi người có mấy cái hộp vuông dẹp hoặc
hộp tròn bóng loáng.
- Hộp thịt! – Tôi nói với
Hoàng.
- Thịt gì?
- Thịt Mỹ. Loại mình đã từng
lượm được và ăn dọc đường ngoài kia!
Chập sau lại có tiếng kêu ở xa
xa.
Ông Huyện ủy trở lại ngồi xuống
và lắc đầu:
- Tụi nó chơi mình tới gáo!
- Cái gì vậy đồng chí ?
- Chúng nó ném thịt hộp, đồ Mỹ!
- Trời đất! Thiệt vậy sao?
- Thì càng khoái! Buồn ngủ lại
gặp chiếu manh! – Tôi nói – Để tôi đi kiếm một hộp về ăn cơm trắng coi! Loại
này tôi có ăn rồi! Béo lắm!
Ông Huyện ủy lại gạt ngang:
- Không được đâu! Ăn của nó là
“dính” nó đấy!
- Nó bỏ thuốc độc à?
- Không ?
- Vậy dính cái gì?
- Ăn của nó phải suy nghĩ về
nó. Rồi so sánh với mình. Rồi hoang mang. Hại lắm.
Hoàng Việt cười:
- Ăn thì ăn nhưng mình vẫn giữ
vững lập trường thì thôi chứ gì mà dính.
- Miếng thịt hộp nó có liên
quan với tư tưởng của mình chứ đồng chí !
- Vậy những người lượm kia thì
sao?
- Tôi không chặn kịp!
- Giá đồng chí chặn kịp thì
đồng chí sẽ giải thích thế nào?
- Ở đó mà giải thích! Tôi chỉ
ra lệnh: Không được ăn đồ của địch! Thế thôi!
- Hồi nào tới giờ đã xảy ra vụ
thả đồ ăn như thế này chưa?
- Có rồi chớ!
- Rồi đồng chí làm sao?
- Đâu có làm gì kịp họ. Họ lượm
rồi giấu đút ăn lén, hoặc đổi chác.
Tôi chíp trong bụng cái tiếng
“đổi chác” đó rồi. Mình đang cần, Mỹ lại tiếp tế! Câu chuyện bảng lảng rồi nhạt
phèo. Ông Huyện ủy tuy mồm nói rất cứng nhưng cặp mắt ông lại láo liên. “Tư
tưởng có vẻ không tập trung” Tôi nghĩ thầm: Xét ba-lô cha này nếu không có “đặc
sản” thì cạo đầu tôi bằng con dao găm Hàng Mã này. Tôi biết tỏng chúng nó hết
cả. Càng lớn đầu càng ăn vụng tợn. Lão Hồ thì thiệt tình tôi không biết, nhưng
từ Lê Duẫn tới tận thằng bí thư xã, tất cả, không có một thằng nào liêm chính
và yêu dân thực sự. Chúng nó toàn một loại đeo mặt nạ để lừa người. Và tôi cam
đoan lời nói của tôi không sai. Chuyện về chúng nó tôi viết mãn đời cũng chưa
hết.
Cái thằng cha Huyện ủy này nói
miệng tài thế nghĩa là trong ba-lô của hắn đã có vài hộp thịt của người ta lót,
biếu, hoặc đổi cho hắn rồi.
Mỗi người ai về lều nấy. Thiệp
thì nằm ngất ngư mặt ngó cái bàn thờ có tấm ảnh dựng bên chén cơm. Tôi thì quèo
Hoàng Việt:
- Ê, kiếm vài hộp thịt về ăn
cơm trắng uống trà khao quân một bữa cha nội.
- Ở đâu mà có?
- Ở đâu có thì thôi.
Thế là hai đứa làm một cuộc
phiêu lưu đi đổi đồ….ăn Mỹ!
Chúng tôi đi theo một con đường
mòn nhỏ. Càng đi xa con đường chính càng có thêm đường mòn và càng gặp chòi
trại, lều võng, núp, giăng lềnh khênh dưới những tàng cây. Một xã hội mới hình
thành nơi đây, có cả trẻ con 6,7 tuổi và có cả đàn bà chửa.
Như đã nói trên kia, lên núi
thì dễ, trở xuống đồng bằng thì khó. Chúng mở cổng Eo Máu cho đi lên, hầu như
thả lỏng không làm gì, nhưng bịt đường trở xuống.
Tôi lại tình cờ gặp anh bạn gì
mua đất trong Nam nhưng ký giấy và trả tiền ở Hà Nội. Và đã đổi cho tôi hộp
muối lấy bộ quần áo lụa đen. Ông cũng là một Huyện ủy viên ra Hà Nội bị phân
công làm đủ thứ việc táp nham, nay trở về quê, bỏ vợ con ở lại Hà Nội. Ông ta
mua đất của một đồng hương tên là Võ Văn Mịt. Ông Mịt có đất ở quê nhưng lại
không về quê bèn bán cho ông Huyện ủy và nhận tiền của ông này ở Hà Nội. Giấy
đã ký do ông Huyện ủy cầm tay. Khi về đến nơi trao giấy cho ông em là Võ Văn Mờ
đang cư ngụ trên mảnh đất đó, ông Mờ sẽ cắt một phần “giao” cho ông Huyện ủy ở
Hà Nội mới về.
Cuộc mua bán dự định sẽ diễn ra
như thế…
Trông thấy tôi, ông Huyện ủy
nhớ ra ngay, niềm nỡ như gặp lại cố tri:
- Mới tới đây thôi à?
- Tới đây là tài lắm rồi, còn
muốn gì nữa cha non. Con cha sao trồi lên đây?
Vừa nói tôi vừa bước vào lều
của ông bạn, còn Hoàng Việt thì xăm xăm đi theo đường mòn tìm kiếm như một nhà
thám hiểm đáy biển.
- Nó đánh ác lắm! Ngồi còn
không yên, nói chi chuyện mua đất mua đai.
- Vậy là đồng chí trở thành vô
sản hoàn toàn rồi đó! – Câu pha trò của tôi đâm ra vô duyên. Ông Huyện ủy không
vui lên chút nào. Tôi ngồi bệt xuống gốc cây.
Ông bạn trỏ quanh lều:
- Tài sản của tôi đó.
- Định chừng nào gặp bà con?
- Có gặp được đâu! Từ Eo Máu
này mà về tới chỗ tôi còn phải vượt mấy cái lộ mấy con sông máu nữa. Khu 5 rộng
lắm chứ đồng chí tưởng nhỏ à?
- Vậy trong bản đồ xem có bằng
lóng tay! – Tôi tiếp – Rồi định kế hoạch ra sao?
- Địch “móc” gia đình nhưng
chưa biết móc cách sao!
- “Móc” là thế nào? – Lần đầu
tiên tôi nghe cái tiếng này nên tôi hỏi.
- Theo địa phương thì “móc” có
nhiều cách. Một là móc để xin tiếp tế gạo muối quần áo, hai là móc người địa
phương lên lãnh mình về công tác.
- Rồi đồng chí định móc kiểu
nào?
- Kiểu nào cũng không móc được
cả! Tụi nó kiểm soát gắt lắm. Tôi đã lọt được Eo Máu, trầy vi tróc vảy, nhưng
vô đến làng đồng bào ở, đâu có ai dám chứa.
- Cơ sở hồi đánh Pháp không còn
à?
- Người ta đều làm ăn khá cả
nên không còn nhớ chuyện xưa nữa. – Ông bạn ngồi lên võng và tiếp – Tôi có nói
chuyện với một vài gia đình, họ có vẻ lơ là với cách mạng. Không giống như hồi
đánh Tây nữa. Họ nói là Tây đi, độc lập rồi, giải phóng rồi. Người mình cai trị
nước mình rồi. Còn nô lệ đâu nữa mà giải phóng. Do đó họ coi mình vô tích sự.
Và không chịu chứa. Nhưng họ không đi báo cho tụi chính quyền mà chỉ yêu cầu
mình đi nơi khác. Thế mới bỏ bố kia chứ!
- Đồng chí có cho bà con biết
đồng chí từ Hà Nội về không?
- Có chứ!… Tưởng mình xưng ra
như vậy họ niềm nỡ tiếp nhận mình, chẳng ngờ họ nói như tạt nước lã vô mặt –
Một ông tập kết mới về tới làng ra hồi chánh ngay và được tụi nó đối đãi tử tế
quá sức. Rồi anh ta đi nói chuyện khắp trong tỉnh. Thế đó. Cái uy tín mình
tưởng từ Hà Nội cõng về đây là ăn tiền lắm, nhưng ngược lại, người ta sợ mình
mất hồn!
- Sợ thế nào?
- Hễ ai chứa cán bộ Mùa Thu,
chúng bắt được chúng tịch biên gia sản và bỏ tù. Còn gia đình nào có chồng con
đi tập kết mà trở về kiểu đó thì thưởng to lắm. Tôi chưa thấy nhưng nghe người
ta nói thế. Đó chánh sách của tụi nó. Đồng chí có nghe máy bay nó la om trên
trời đó không? Nếu vợ con bè bạn mình ở trên trời gọi mình như thế mình nghĩ
thế nào? Mình chơi nó hết ga thì nó chơi lại mình cũng tới đáy. Mình có phép nó
cũng có bùa. Mình mấy nó mấy chớ nó có chịu xuôi tay cho mình nuốt à? – Ông
Huyện ủy tiếp – Còn cái bùa ác lắm ông bạn ơi!
- Bùa gì?
Ông Huyện ủy lấy thuốc ra quấn
bằng giấy nhựt trình đốt hút rồi chậm rãi tiếp:
- Tụi nó biết chồng tập kết thì
nó bắt vợ tái giá thấy mẹ hết.
- Vậy à?
- Ác lắm ông bạn ơi! Nó không
có bắt buộc gì nhưng nó tâm lý chiến. Nó dỗ dành nay một tiếng mai một tiếng.
Ngọt mật chết ruồi. Lửa gần rơm không tròm thì cũng trẹm. Đồng chí nghĩ coi
mười năm không thư từ, không tin tức. Bưu thiếp mình gởi từ Bắc qua Paris đâu
có vô thấu đây. Đàn bà có con hay không có con cũng vậy, không có đàn ông, sống
làm sao? Những người từ hai mươi đến ba mươi tuổi đi lấy chồng mới, có đến chín
mươi phần trăm.
Tôi lặng thinh. Ông Huyện ủy
tiếp:
- Ở ngoài đó mình tưởng tượng
tình hình một cách chủ quan, về đây đụng thực tế mới ngã ngửa ra cả đám.
Tôi nói:
- Trung ương đã nhận định tình
hình đúng chớ. Cho nên chúng mình đều được chuẩn bị chịu đựng gian khổ cả mà!
Ông Huyện ủy bặp bặp điếu thuốc
tắt queo. Tôi tưởng ông ném quách nó đi nhưng ông lại vói tay dán nó lên cọc
mắc võng – Để phòng khi ngặt có mà đốt cho thơm râu…
- Đồng chí ơi, cái gian khổ mà
Trung ương chuẩn bị cho mình là cái gian khổ vật chất. Tôi nói thật, tôi không
ngán ăn bờ ngủ bụi đâu! Tôi chỉ sợ mình vào nhà đồng bào, đồng bào “đuổi khéo” mình kìa! Đuổi khéo mình ra vườn. Còn
một cái gian khổ nữa, thiệt kêu trời không thấu.
- Không có hầm bí mật hả?
- Không! Cái khổ này là các
đồng chí mình không ưa mình.
- Đồng chí nào không ưa mình?
- Các đồng chí địa phương.
- Tại sao mình về tiếp tay với
các đồng chí mà các đồng chí lại không thích mình?
- Thế mới lạ! Ban đầu tôi cũng
không hiểu tại sao. Nhưng qua thái độ và lời nói của họ thì dần dần tôi hiểu ra
hết. Họ không phân công công tác cho mình. Ở ngoài Bắc, trước khi đi, Trung
ương có nói là các đồng chí ở cấp ủy nào, trước kia nếu không phạm kỷ luật
trong mười năm xây dựng xã hội chủ nghĩa thì về trong Nam sẽ giữa nguyên cấp
bậc cũ và góp sức củng cố cấp ủy địa phương. Nghĩa là nếu trước đây đồng chí là
tỉnh ủy viên thì về tỉnh cũ đồng chí bổ sung cho tỉnh uỷ tỉnh nhà, nếu là huyện
ủy viên thì bổ sung cho huyện ủy nhà…Tôi là huyện ủy lúc chúng nó chưa vô đảng
và có đứa do chính tôi kết nạp. Bây giờ tôi về có một đứa là huyện ủy viên. Gặp
tôi chúng nó không mừng lại có vẻ khinh khỉnh. Chúng nó bỏ tôi nằm lỳ không
tiếp xúc, không phân công công tác. Đường đi nước bước bây giờ khác hết, hớ một
tấc đường là chết ngay. Vậy nên mình đâu dám cục cựa.
Tôi băn khoăn hỏi:
- Tại sao họ lại có thái độ kỳ
lạ vậy?
- Họ cho tôi là thằng hưởng lạc
mười năm, lạc hậu nọ kia. Có lẽ vậy!
Là một người viết văn, làm báo,
đi kháng chiến chống Pháp, sống mười năm trên đất Bắc, tôi chưa hề nghĩ tới cái
tâm lý này. Cho nên khi nghe ông huyện ủy kể, tôi không khỏi ngạc nhiên. Ông ta
tiếp:
- Tôi ngót năm mươi rồi. Về
kinh nghiệm đời, tôi đâu có kém chúng nó và cắt đi mười năm “hưởng lạc” miền
Bắc, thành tích của tôi cũng chưa kém chúng nó mà. Còn tuổi đảng thì khỏi phải
nói rồi, thế thì tại sao chúng nó không xài tôi ? Tôi về đây đâu phải để nằm ỳ
ăn hút? Xa vợ, xa con, để làm gì kia chứ?
Có lẽ tâm sự của ông huyện ủy
lâu nay chất chứa trong lòng không xổ ra được với ai nên nay gặp tôi, một người
lạ, mà ông coi như một người thân.
Tôi còn biết khuyên bảo gì ? Vả
lại tôi trẻ hơn ông ta ít ra là mười lăm tuổi. Tôi đã từng biết cái tâm lý của
người Bắc cạnh tranh – và luôn luôn thắng thế- với người Nam kỳ. Tôi từng biết
sự bạc đãi của Trung ương đối với dân Nam kỳ. Cụ thể là những lãnh tụ kháng
chiến của Miền Nam Việt Nam và của Nam Bộ đều cho đứng xa khỏi những chức vụ
quan trọng của Trung ương. Như ông Phạm Văn Bạch và ông Phạm Ngọc Thuần hai nhà
đại trí thức (cả hai đều là luật sư danh tiếng ở Nam Bộ) là Chủ tịch và Phó Chủ
tịch ủy ban Kháng chiến kiêm Hành chánh Miền Nam Việt Nam, tức là, ngoài Nam Bộ
ra hai ông còn lãnh đạo luồn ra các tỉnh Cực Nam Trung Bộ. Chức Phó Thủ tướng
và Bộ trưởng (bất cứ Bộ nào) cũng xứng đáng cho hai ông cả. Nhưng hai ông chẳng
được xơ múi gì. Ông Bạch thì làm Chủ tịch Tòa án Tối cao nghĩa là không làm gì
hết. Còn ông Thuần thì bị gởi đi làm Đại sứ ở Đông Đức, một hình thức tù đày
sang trọng.
Cái tâm lý Bắc cai trị Nam kỳ,
Bắc kỳ nuốt sống dân Nam kỳ có trong tôi và trong toàn dân tập kết. Nó xảy ra
từ sau hòa bình. (Tôi tưởng
tôi sai lầm. Chẳng ngờ bây giờ sau ba mươi lăm năm, tôi thấy tôi nghĩ đúng
lắm).
Thế nhưng tôi chưa từng biết
tới vụ người địa phương chống người địa phương đi tập kết về. Và đây là lần đầu
tiên tôi được nghe cái tâm lý đó. Mẹ kiếp! Không khéo, mình về trong đó lại
cũng gặp cái rắc rối này nữa cho coi. (Đúng
thật, tôi thấy lời ông huyện ủy kể là một thực tế rất phổ biến mà có lẽ Trung
ương cũng “khơi” nốt)
—>Chương 14
- 14 -
Hoàng trở lại. Anh ta một tay
cầm hai hộp thịt, một tay cầm mớ giấy. Hoàng xòe giấy ra cho tôi:
- Ác quá mày ! Đọc coi !
Tôi đọc và kêu lên:
- Thế này thì chúng mình phải
cuốn gói đi ngay !
Ông huyện ủy giật mình hỏi:
- Gì thế đồng chí ?
- Chúng nó kể tên từng đứa một
trong đoàn chúng tôi.
- Ồ tưởng cái gì chớ cái vụ đó
thì ăn thua chi đâu. Chúng nó in tên các cấp tỉnh ủy huyện ủy xã ủy kể lai lịch
từng người một và kêu gọi hồi chánh mà. Chúng rải truyền đơn khắp nơi để dân
chúng biết mà tìm gọi mình nữa. Người dân nào đem được một cán bộ cỡ nào thì
được thưởng một số tiền bao nhiêu, còn cán bộ cỡ nào tự mình tìm đường về nộp
mạng thì được tặng bao nhiêu tiền.
- Làm vậy mà có kết quả à?
- Có mạnh chớ sao không !
- Thế à ?
- Ngày nào cũng có. Hễ có là
chúng cho loa tên tuổi người đó. chụp hình in kèm với lời kêu gọi rồi rải đi
khắp nơi ! Đồng chí nghĩ coi nó đánh mình thế đó, mình đành chịu thôi không đỡ
gạt nổi.
Tôi thấy ngồi lâu sẽ bi ông
Huyện ủy tuyên truyền về chánh sách hồi chánh rồi nhiễm mất (và tôi bị nhiễm
thiệt, nhưng chưa nhiễm ngay bây giờ mà mấy năm sau) nên nháy Hoàng đi về lều.
Vừa đi, tôi hỏi:
- Ở đâu mò ra vậy?
- Thiếu gì ! Hầu như ai cũng
được một vài hộp. .
- Tụi ngu bỏ mẹ ! Đáng lẽ chúng
nó để mình chết đói, lại ném thịt cá cho ăn !
- Nó khôn thấy bà !
- Khôn gì ! “Khôn liền” thì có
!
- Ăn hết hộp này nó không liệng
nữa đâu ! Mình thèm! Ăn quen nhịn không quen. Thế là bò về tìm thịt. Thế là nộp
thịt. Phải không?
Tôi cười :
- Anh học trường tâm lý chiến
của tụi nó hồi nào vậy ?
- Mới vừa rồi đó ! Cái ông đó
đã dạy mình một bài học tâm lý chiến khá chi tiết.
- Đổi với cái gì vậy?
- Cái áo thun ba lỗ.
- Mới cũ?
- Cũng còn mới ! Chỉ sợ không
còn đồ đổi thôi, chứ thịt thiếu gì !
- Bây giờ mà trở lại được trạm
1 quơ ba cái đồ mắc trên cây ném trên vách đá đem vô đây đổi thịt ăn hé !
- Bố tao bảo trở lại tao cũng
không trở. Xe tăng lôi tao cũng bứt xích chạy ngược lại.
Hoàng là người gương mẫu trong
trường đi B, nhưng đi qua khỏi ngọn sông Bến Hải anh mới bắt đầu hiện nguyên
hình: “bất mãn chúa, tấu nhạc toàn chói tai.”
Tôi nhớ lại lúc mới đi chặng
đầu tiên của con đường này. Vui vẻ, hào hứng, phấn khởi vô cùng. Mọi người coi
giải phóng Miền Nam như trở tay. Lấy đồ trong túi còn khó hơn. Trên trời không
có máy bay. Dưới chân tuy đồi dốc khá nhiều, nhưng sức lực còn dồi dào. Thanh
Niên Xung Phong vừa đi hằng đoàn vừa hát. Cơm ăn với muối nhưng rất ngon miệng.
Và tự cho mình đang nằm gai nếm mật cùng với nhân dân khi ngủ giữa trời dưới
một tấm tăng bằng cái… lá đa rách nát. Giản chính tư tưởng và giản chính những
thứ kềnh càng. Cuộc sống bị “giản chính” một cách không thương tiếc. Dọc theo
đường đi, nào áo len, nào mũ dạ, quần ga-bạc-đin, giày bố, khăn mặt, cặp da
v.v…. treo mắc như một cửa hàng chợ trời đầy màu sắc.
Người đi trước vứt bỏ, người đi
sau nhặt lấy hoặc đổi lấy cái tốt của người vừa bỏ vứt cái xấu của mình. Cứ
thế, cho đến vài trạm sau thì chẳng còn thấy món đồ nào treo mắc hai bên đường
nữa. Con người đã giản chính tối đa. Ở trạm 3, tôi thấy một anh chàng đập cây
ghi ta của mình ra mà nhóm lửa vì trời mưa to quá, củi ướt vả lại giữa ban đêm,
không còn cách nào khác hơn là hi sinh món nhạc cụ yêu quí đã từng được cõng từ
Hà Nội vào đây. .
Nghe Hoàng nói có lắm thịt hộp
thì tôi mê lắm nhưng biết chắc trong ba-lô không còn được bao nhiêu món có giá
trị để đổi chác. Ở đây thì đồ vật đổi chác phải là thứ thiệt chứ không thể đem
dây chuyền mạ, cà rá giả ra mà đổi lợn, gà như đối với đồng bào Thượng.
Đí “ruồng” thịt hộp và nói
chuyện khào, tâm thần sảng khoái. Về đến lều thấy Thiệp nằm gác tay lên trán
thở hắt ra mà rầu. Hoàng nói:
- Chắc cậu không còn giữ ý định
vô Nam kỳ quốc với tụi này nữa phải không?
- Tôi phải trụ hình ở lại đây
rồi anh ạ! Chờ xem tình thế thế nào !
- Đã rõ rồi, còn xem tới xem
lui cái gì nữa !
- Nhưng mà… Khổ quá anh ơi !
- Thôi, để nấu cơm ăn cho khoẻ
cái đã rồi sẽ tính tới – Tôi cắt ngang.
Đợi đến sẫm tối chúng tôi mới
bắt đầu nổi lửa nấu cơm. Lửa khói đốm đỏ đốm xanh khắp cả một dãy rừng. Tiếng
chí choé í ới nghe thiệt vui tai. Suốt ngày đói meo uống nước cầm hơi, ngồi
nhao nháo ngó lên trời không thấy trời, trông xuống đất chỉ thấy toàn sỏi đá
mong cho chóng tối để nấu cơm.
- Các anh ăn đi ! Tôi ăn không
vô đâu!
Chúng tôi biết Thiệp ngại không
muốn ăn chỗ thịt của Hoàng vừa đổi được. Không phải Thiệp sợ mất lập trường mà
“ăn của anh em rồi lấy gì trả lại. Ở đây một hạt muối cũng phải đổi chác mà ! ”
Tôi bèn nói :
- Tớ ăn cơm Miền Bắc mười năm,
nay cậu ăn lại miếng thịt mà gì dữ vậy?
Tôi nói cà rỡn cho nguôi buồn
thằng bạn đồng hành để nó ăn no chôn lấy nỗi buồn của nó, cũng là của tôi,
chẳng ngờ nó òa lên khóc.
- Các anh tốt bụng quá ! Xin
cảm ơn! Tôi tưởng các anh thành kiến với tụi tôi nặng lắm !
- Thành kiến với tụi lớn đầu
không nên nết kìa ! Chớ tụi tao đâu có thành kiến với cả đồng bào Miền Bắc. Mày
hiểu không? Chúng mình cùng là nạn nhân của những chánh sách lạ kỳ hết cả mà.
Hoàng Việt nói xong đi lấy tấm
hình vợ Thiệp:
- Dẹp bàn thờ được rồi chứ! –
Rồi đem mấy chén cúng trút vào gà mèn trộn cho đều.
- Ừ ừ tôi quên khuấy đi.
Chúng tôi ngồi dưới đất ăn cơm
trắng và thịt nghiền đóng thành bánh xắt lát mỏng.
- Thịt nạc Mỹ đây ! – Tôi vừa
gắp một miếng vừa nói – Kê vô mát cả răng!
Hoàng Việt tiếp tục khuyên lơn
Thiệp:
- Cậu cho là cô Anh đã hi sinh
rồi phải không? Thế mà bây giờ cô cấy còn sống. Đó là một cái may không ngờ
được. Cậu còn muốn gì nào? Chắc cậu muốn cổ được thả dù xuống đây chắc. Chuyện
đó thì không thể có. Vậy ta hãy vui với cái ta đang có là cô Anh còn sống. Đó
là phần cô Anh. Còn cậu, hãy so sánh với ông bạn nhà văn của chúng ta đây thì
sao? Cậu sung sướng hơn nhiều phải không? Nếu chẳng may cô Anh lâm vào trường
hợp cô Phương và chính tay cậu gói liệm, chôn người yêu như cậu đã liệm và chôn
cô Phương thì sao? Cô Phương vĩnh viễn nằm lại đó, mưa gió sẽ khỏa tan nấm đất.
Có ai còn biết tới nữa đâu. Trước khi chết không trối được một lời, chết rồi
không được người yêu nhìn xác.
Thiệp đang bưng chén cơm bỗng
đặt xuống, gục đầu xua tay:
- Thôi … thôi, anh đừng nói
nữa! Tôi hiểu vậy, nhưng tôi đau quá anh ạ ! – Rồi bỏ lên võng nằm – Tôi xin
lỗi các anh, tôi đã làm cho bữa cơm mất ngon.
Hôm sau, tiếp tục đi ruồng thịt
hộp tôi lại gặp quá nhiều người quen, toàn dân Nam Cờ. Đúng là khúc ruột…thừa
Miền Trung. Tất cả rác rến cặn cáu của dân Nam Bộ mang từ ngoài xứ xã nghĩa vào
đến đây đều xì bật ra .
Trong sáu người có ba người tôi
quen từ trong kháng chiến Nam Bộ. Còn ba người kia không quen nhưng cũng là dân
Thành Đồng. Tất cả đều là cán bộ trung cấp nghĩa là từ Tiểu đoàn phó lên tới
Trung đoàn phó. Ai nấy đều mang giò heo oai phương lấm lét. Quý, Tiểu đoàn
trưởng Tiểu đoàn 2 chuyên gia đào gốc lim ở nông trường Lam Sơn tóc bạc phếu
như bọt biển, Mật, Tiểu đoàn phó thuộc đội Công binh Sư đoàn 330 và Trữ, Tiểu
đoàn trưởng kiêm Tham mưu phó Trung đoàn 2 đóng ở Bãi Thượng nơi tôi từng tới
lui để tìm ngõ chui qua Lào về Nam mà không lọt. (Nếu lọt tôi đã không phải bị muỗi
đòn xóc tiêm cho thuốc bổ sốt rét rừng trên đường này).
Các tay tổ này cũng đang lùng
tìm thịt hộp. Tôi và Hoàng khoái tỷ vì đã gặp được bồ tèo. Dù thế nào cũng xin
tháp tùng với họ đi cho vững bụng. Khi tôi bày tỏ ý ấy ra thì Mật nói ngay:
- Ê, tụi này là một lũ tội nhơn
đây nghe ta ! Bộ muốn không còn chỗ đội nón hay sao mà dính vào ?
- Tại sao là tội ?
- Chuyện Tam Quốc ba mươi sáu
cuốn kể sao cho hết.
- Tóm tắt “Hồi thứ năm mươi”
nghe thử coi.
- Đại khái là ở trên phân công
tụi này về khu Sáu !
- Trời đất! Thiệt sao cha?
- Không thiệt thì bịa à?
Hoàng nói:
- Thì ở mấy trạm ngoài mình
cũng nghe một vụ tréo cẳng ngỗng như vậy mà.
Tôi lại hỏi Mật:
- Ông đã nếm mùi khu Sáu chưa?
- Mới nghe hin hỉn là đã chạy
sốt vó rồi, nếu phải nếm chắc ói tới mật xanh.
Hoàng Việt hỏi:
- Nói vậy đây là khu Sáu rồi
sao cha? Vậy gần qua ranh Nam Cờ mình rồi !
Mật xua tay:
- Chưa, chưa đến khu Sáu đâu mẹ
đĩ ! Nhưng khu Sáu không có đường xuống. Phải xuống “Khu Eo” rồi mới luồn vô
“khu Éo” (Có một số ngôn ngữ
sáng tạo trên đường dây như khu Eo, khu éo là khu Năm, khu Sáu). Đừng có mừng vội.
Đoàn người rẽ theo những đường
mòn khác nhau đi ruồng thịt hộp. Tôi và Mật cố tri nên bắt cặp với nhau đi
chung một đường. Tôi hỏi tiếp:
- Rồi các cha làm sao?
- Một số chống lệnh một số thỉ
hành lịnh.
- Họ không nói gì à?
- Nói chớ sao không nói ! Họ
bảo là phạm kỷ luật quân đội sẽ ra tòa án binh khu.
- Ớn vậy à?
- Chống lệnh cấp trên đâu phải
chuyện đùa ta! Chắc họ bảo sẽ cho các trạm phía trong bắt giữ chúng tớ lại.
Nhưng chưa thấy ai bắt cả.
- Nếu họ cho người bắt thì làm
sao?
- Làm sao thì mặc làm sao, dẫu
có bề nào cũng chẳng có ghê mà ! Tụi tôi về quê chiến đấu chứ có theo giặc đâu
mà sợ tội !
Tôi vẫn còn thắc mắc:
- Nhưng lệnh đâu lại có lệnh lạ
kỳ vậy hả?
- Người ra lệnh cứ việc ra còn
dưới này có thế nào cũng mặc. Cậu chưa rõ đầu đuôi, để tôi kể cho nghe. Số là ở
khu Sáu vừa lập một trung đoàn mới chỉ có lính, rất thiếu cán bộ cậu biết
không? Cho nên họ điện ra Hà Nội xin cán bộ. Sẵn dịp bọn này đang đi ngang qua
đây, thế là bộ Tổng ra lệnh cho chúng tôi xuống Bác Kế để nhận công tác, tức là
lắp vào cái trung đoàn mới đó và chỉ huy nó luôn.
- Sẵn ổ đẻ, sướng thấy bà, còn
đòi gì nữa!
- Ổ gì mà đẻ sướng, cha non !
Có sướng mấy tôi cũng không đẻ mà ! Ổ tôi phải lót ở trong Nam thì tôi mới đẻ.
Mà ở trong đó tôi có sắn ổ rồi. Tôi mong về tới đó. Tôi phải về trong đó cơ!
Sống chết cũng về mà! Chứ theo ông, ông bị phân công xuống khu này, ông có đi
không ông nội “Thành bùn Tổ cò?”
Câu hỏi như một đột biến trong
tâm tư tôi.
Ừ nhỉ. Đó là lương tâm con
người đối với Quê hương. Tôi có người yêu quê ở khu Năm đi về khu Năm. Sao tôi
không đi với nàng. Nếu tôi xin đi khu Năm thì chắc chắn được ngay. Vì khu Năm,
khu Sáu, ngoài người địa phương, không ai đi. Ngược lại người ở khu Năm mà được
đi Nam Bộ thì lấy làm sung sướng. Chao ôi ! Cũng thời là con cháu Thành đồng Tổ
quốc, nhưng đứa thì con cháu ruột, đứa lại ghẻ. (Cái Thành đồng Tổ quốc này có
một thời bị cà nanh dữ dội. Số là cái “thành” này già Hồ tặng cho Nam kỳ không
phải cho khu Năm khu Sáu. Đây là lời phỉnh vĩ đại nhất đối với dân Nam kỳ. Do
sự phỉnh này mà dân Nam kỳ mới đưa ngực ra đỡ đạn cà-nông trong mười năm trời
và lấy làm tự “hìu” so với các miền đất kháng chiến khác. “Tụi tao anh “rũng”
nên mới dược cái vinh dự to bằng bồ ấy.” Do đó khu Năm khu Sáu phân bì. “Miền
Nam đi trước về sau ! ” Cùng với Nam Bộ, khu Eo khu Éo cũng anh “rũn” nào có
kém ai ? Tại sao già Hồ không tặng gì hết. Già Hồ thấy hơi khó xử, nên lập lờ
nói tráo rằng: “Hồi đó tui tặng cái “thành” đó chung cho Miền Nôm” (từ vĩ tuyến
mười bảy trở dzô!! Ô hô hô!) Nhưng cái huy hiệu thành đồng nhỏ hơn hai ngón tay
tréo chỉ được phát không cho dân Nam kỳ chứ không phát cho dân khu Năm khu Sáu.
Nhưng dù được nhận mặc lòng, dân Nam kỳ cũng không có đứa nào thèm đeo trên
ngực vì cái ngực bằng xương thịt thì lổ chỗ dấu đạn mút-canh-tông và cà nông, còn
áo thì tả tơi nên không còn chỗ đeo. Còn một chỗ khả dĩ được cái huy hiệu đó
nhưng không thể đeo vì đeo ở đó, không ai nhòm thấy. Vinh quang cũng có lắm thứ
vinh quang, thứ vinh quang thiệt tình là ghế ngồi, đất đứng thì dân Nam Kỳ
không được cấp phát bao giờ. Còn vinh quang hàng mã thì được cấp phát nên không
nhận. Đại khái cái Thành Đồng nó như vậy đó, cho nên dân Nam Kỳ trên đường này
và trong thời kỳ chống Mỹ ở Nam Bộ có những danh từ nhại lại: Thành bùn Tổ
cuốc, Thành bùn Tổ cò).
Câu hỏi của Mật làm tôi chạnh
lòng, một sự chạnh lòng cho những bầy con cháu ghẻ mà tưởng mình là con cháu
ruột hằng mấy chục năm trời. Mật tiếp:
- Ông mần nghề văn chương, ông
không bị ai xỏ lá, chèn ép, bạc đãi, vùi dập khốn nạn như tụi tôi nên ông không
biết nỗi nhục của những người đeo cái tấm Thành Bùn trên lưng ông văn sĩ ạ. Bọn
này được người ta xài như cái nùi lau vậy. Khi cần lau chân, xách ra lau cho
chân, khi cần lau mặt cầm lên lau mặt, khi cần lau háng cứ lau háng một cách vô
tội vạ. Tôi đang đào gốc lim, ở trên bảo trở về làm Công binh, đang làm Công
binh ở trên bảo sang Lào, sang Lào về ở trên bảo dzề Nam, đi nửa đường vô Nam,
bảo xuống khu Sáu.
- Vinh quang thấy mẹ còn rên !
- Ừ vinh quang thấy ông cố nội,
nên tóc rụng gần hết vì đội các thứ vinh quang đó ! – Mật giở chiếc mũ tai bèo
– Gì đây ! Thấy vinh quang chưa ? Da tôi ngày nay có giống da Pha-thét không?
Đó lại là một thứ và vinh quang quốc tế đấy!
- Ủa, có sang đồng Chum nữa hả?
- Có chớ ? Chum, hũ, lu, mái gì
có đi hết cả. Trước khi đi được “hấp da” cho giống người anh em.
- Có vụ đó nữa sao ? Tôi nhìn
Mật trân trối – Vậy tôi tưởng đen này là do ông “rầu rãi ró sương” biến nước da tạch tạch xè (tiểu tư sản) ra nước da lãnh đạo chớ!
- Bây giờ có môn bắt nước sôi
mà cạo như cạo heo vậy mới mong lấy lại nước da Hồng Lạc ông ạ !
- Trời đất !
- Cho nên ai có bắn tôi thì
bắn, tôi cũng càn về xứ thôi ông ạ !
- Năm nay băm mấy cái xuân tình
rồi?
- Sao không hỏi bốn mấy!
- Ối mà lo gì, về trong đó cây
nhà lá vườn, các cô trừ cho mười tuổi mà. Ủa ! Tôi nói thiệt nghe cha ! Con gái
hơ hớ ở trong bây giờ chỉ chờ tụi mình về làm đám cưới tập thể thôi, Tui có đọc
thơ ở trong gởi ra tại Ban Thống Nhứt mà cha!
- Tôi lạy ông ! Con gái Nam Kỳ
không có lấy thằng mặt lọ như tôi đâu !
- Mặt lọ nhưng huy chương đỏ
ngực, lo gì không có đứa mê.
- Ông nội ơi ! ông lãng mạn
cách mạng dữ he! Tôi thì thực tế thôi. Nè, tôi kể cho ông nghe. Một lần nọ tôi
đến dinh Sư đoàn Bộ ở Thọ Xuân, tôi trông thấy một cảnh tôi chán tới bây giờ.
- Cảnh bộ đội mình rước ông Già
Rô mà tưởng Cụ Hồ phải không?
- Không đâu. Cảnh khác, nhưng
cũng ớn lắm. Một ông Trung tá mặt non bấm ra sữa đại điện Bộ Tổng tư lệnh vào
kiểm tra Sư đoàn mình. Ông Đại tá nhà mình đầu bạc trắng đứng nghiêm chào và
nhận huấn thị của ông Trung tá con nít đáng con !
- Cấp bậc quân đội thì phải vậy
chứ sao ! Người ta đại diện Bộ Tổng mà.
- Nhưng nó làm gì mà lên Trung
tá mau vậy kia chứ? Mười năm ông Đại tá nhà mình có lên đâu! Ổng là Đại đoàn
phó hồi năm 1947 kia mà. Còn tôi Tiểu đoàn trưởng, mười năm trên đất Bắc vẫn
còn nguyên!
- Xin lỗi nhé, cách mạng quên
đồng chí ! Ủa không! Cách mạng thử thách đồng chí đấy Hổng sao đâu! Về tới
trỏng thăng hai ba cấp một lúc.
- Này ông Bảo, Chính ủy Sư đoàn
được đi về làm Chính ủy Quân khu Sàigòng Chợ Lớn…
- Ủa, ổng dzô rồi sao ?
- Lâu rồi và đền xong nợ nước
cũng lâu rồi.
- Vậy hả. Trời đất! Ổng có cho
tôi ngồi ngồi xe jeep lên nông trường Lam Sơn một lần.
- Nhưng giấu kỹ nghe !
- Ừ thì giấu !
- Chết lãng nhách !
- Đánh với Mỹ chết là vinh
quang chứ sao lãng nhách?
Hai đứa nói chuyện khào cũng qua
hết nửa ngày. Khi đổi được thịt hộp chúng tôi quay lại. Tôi hỏi ngay:
- Chừng nào di cho hay để tôi
móc cái rờ-mọc của tôi theo với.
- Mai!
- Sớm vậy ?
- Hễ có chuyến thì đi chớ sớm
muộn gì. Cái “làng” khu Eo này bê bối lắm. Nằm lại một ngày teo… một ngày. Vừa
rồi máy bay phóng thanh có nghe không?
- Có !
- Nó kêu đích danh từng tiên
ông tiên bà trong bảng Phong Thần. Hình như có tên ông nữa đấy! Kêu xong, nó
cho ông ba bốn ngày để “về với chánh nghĩa” ông hiểu không? Nếu có người về thì
nó lại kêu tiếp, nếu không ai chịu về là nó chơi mạnh.
- Sao ông chắc vậy?
- Thì phải đoán bụng thằng địch
chứ. Ngồi chờ nó tới à? Nó không biết những cán bộ từ đồng bằng hết đất sống
chạy đi đâu à? Máy bay nó nghiêng cánh liếc thấy hết tất cả lều trại dưới này
ông nội ơi ! Nó chỉ ném cho ba trái bom napal thì rụi lẻng beng hết ráo thôi.
Liệu mà “cuốn vó chạy dài” đi thôi cha non.
Nghe ông quân sự Mật bàn như
thế, tôi về thuật lại cho Hoàng nghe Hoàng gạt phắt:
- Mấy tay đó trốn xâu lậu thuế
sợ bí nắm đầu nên phóng nhanh, cậu chớ có tin! Mình lợi dụng tình hình hòa bình
này bồi dưỡng và bỏ lưng một mớ lương thực nữa rồi sẽ đi. Đi một cuốc nữa phải
vô tới ranh Nam Bộ. Có chết cũng bò cho tới ranh rồi chết mới nhắm mắt.
- Tùy anh ! Tối thấy mấy chả
cũng có lý lắm .
- Không bao giờ có chân lý cho
mọi người, ai có chân lý nấy! Và cũng không có chân lý nào cố định. Chân lý
cũng như con kỳ nhông. Nó đổi thay theo hoàn cảnh. Mấy chả phải đi ngay vì ở
lâu sợ lậu sự, còn cậu Thiệp thì ban đầu định quất ngựa chuối vô Nam với mình
nhưng sau khi biết vợ còn sống thì ở lại đây muôn năm. Phải không? Còn mình thì
chừng nào đi được thì đi, muốn ở đến chừng nào thì ở. Riêng với mấy ông bà ở
đồng bằng thoát chết lên đây mắc võng căng lều ngủ ngon giấc thì đây là đất
sống, chỗ nào mắc võng căng lều được thì chỗ đó là Thánh địa ! – ông nhạc sĩ
chơi một hơi “andantino” làm tôi thối chí và hết muốn đi theo mấy nhà quân sự
lậu vé nữa.
- Ở thì ở! – Tôi nói xụi lơ,
rồi hỏi – Anh đổi được cái giống gì không?
- Không!
- Lấy gì “liên hoan” chiều nay?
- Ráng đào ba cái rễ cây vô nấu
cà-ri ăn đỡ rồi mai sẽ tính!
- Cha nội giỡn hoài? Đổi được
cái gì đưa ra coi.
- Có được một con cầy, nhưng nó
đòi mắc lắm. Tao phải về bàn kế hoạch với mày. Nếu được thì minh sẽ làm lương
khô bỏ theo lưng đắp dầu gối khỏe nhất!
- Còn ba cái xương “Tổ tiên”
nữa ông nội !
Hoàng vỗ đùi kêu:
- Thấy mẹ ! bỏ quên hỗm rày
trong ba lô chắc thành dòi hết cả rồi.
Vừa nói Hoàng vừa chạy lại moi
ba lô, lôi cái gói xương khỉ ra ném đánh bạch xuống đất rồi giở ra một cách cẩn
thận như sợ hơi bom nguyên tử xì.
- Thối rùm!
- Không, không thối chút nào !
Hoàng đem xuống suốì rửa ráy
rồi đem lên bỏ vô gà-mèn, nói:
- Tao nấu liền ba ngày ba đêm.
- Khoan đã !
- Sao?
- Để mai ăn thịt chó lấy xương
nấu luôn một mẻ!
- Ai bảo mày vậy ?
- Thì theo công thức quốc doanh
do anh phát hiện chớ ai !
- Cái thằng!
Cơm nước xong ai leo lên võng
nấy. Cơm no thật nhưng lại cảm thấy vẫn còn đói vì ăn với hộp ruốc mặn và uống
nước trà tráng miệng. Hoàng lại trở lại với mẻ cao khi tưởng tượng.
- Mày nhớ hồi thuở nhỏ đi học,
thầy giảng cho nghe vụ nấu sơn của Bernard Palissy không? Ông ta chụm hết củi
mà cũng chưa tìm ra sơn. Ông ta bèn lấy bàn ghế làm củi. Đốt hết bàn ghế cũng
vẫn chưa ra cái giống gì cả. Ông ta giở luôn cả nhà. Sau khi thiêu đến mảnh ván
cuối cùng của ngôi nhà ông ta tìm được chất sơn dầu.
- Ông muốn làm Palissy hay
“Palisse” – không “sy” ?
- Đừng giỡn mày! Nấu sơn thì
còn tìm công thức chứ nấu cao khỉ cứ già lửa là xương nó mềm ra, nó hóa thành
nước, thế là đạt yêu cầu.
- Ừ thì cứ nấu xem. Mẹ, đây rồi
khỉ, dọc, cà khu, lọ nồi trên đường này trốn mất hết đó anh Bảy! Vì chúng sợ
cái phát minh của anh.
Suốt ngày nói liền miệng, chân
đi không nghỉ, tay hoạt động không ngưng cho nên không nhớ không suy nghĩ gì
hết. Khi màn đêm buông xuống mới thấy rêm nhức từ thể chất đến tâm tư.
Thiệp nằm ngất ngư bên cạnh cứ
thở dài não nuột, mỗi một hơi thở của hắn có tác động làm tan hết cả khí phách
còn sót lại trong người tôi. Tôi nhớ Phương! Mới hôm nào, nay đã nằm rã mục
dưới đất giữa rừng.
Tôi nhớ những đêm vác gạch đi
trong khu vực nhà Phương. Chỉ có hai đứa. Chúng tôi đi sánh đôi nhau trên những
quãng đường khi thì lát gạch khi thì đầy cỏ đẫm sương. Tình yêu đến thật nhanh
và bất ngờ. Chúng tôi hình như đã cho đây là lần quyết định, không còn lần nào
khác nữa. Một gia đình con con đã vẽ ra trước mặt với một hài nhi oe oe trên
tay mẹ.
Phương đã có ý thức đó từ lúc
nào không biết, nhưng một hôm Phương đưa cho tôi đôi giày trắng tinh nhỏ tí xíu
và bảo tôi: “Anh giữ lấy nhé ! Mình sẽ mang cho con. Em mang một chân, anh mang
một chân!” Nàng hôn tôi mãnh liệt và nói: “Không có con, em không chịu được!”
Một đêm chúng tôi tập xong, vào
nhà; mẹ của Phương đã quay sẵn một con gà cho chúng tôi ăn. Phương cứ liếc nhìn
tôi như bảo: “Mẹ thương anh lắm đó. Em nhỏng nhẽo ghê cơ ! Mẹ lúc nào cũng chìu
em ! Em về là mẹ phải để dành cho em món gì cơ! Chị em cũng cưng em ghê lắm.”
Rồi Phương òa khóc: “Em không muốn xa mẹ và chị một ngày nào ! ”
Phương khóc suốt đọc đường. Chỉ
qua ba trạm đầu Phương đã rên rẩm.
Đoàn khu Năm của Phương cùng
với đoàn Nam Bộ của tôi hợp thành liên đoàn hành quân theo đội hình hàng dọc.
Một chiều, Phương đi lạc không một người nào chịu trở lại tìm dùm. Của đáng
tội, ai cũng mệt nhừ, mong tới nơi hạ trại để mắc võng nằm hoặc lo cơm nước ăn
rồi nghỉ, có ai thừa sức khỏe mà đi làm một công việc như vậy Chỉ có tôi. Tôi
ném ba lô và chạy, bò, leo ngược lại và tìm gặp Phương ngồi bên một bụi lau
đang gục đầu khóc. Tôi quảy ba lô cho Phương và kè nàng đi từng bước. Nàng nói
ngay:“Người ta đem con bỏ chợ!” Đó
là lời than thở đầu tiên tôi được nghe trên đường Trường Sơn. (Và tới nay, đã
hai mươi sáu năm qua, tôi như còn nghe văng vẳng bên tai khi tôi ngồi viết
những dòng này). Tôi hỏi: Nếu anh không trở lại, em làm sao? – Em cứ ngồi đây
chứ còn biết làm sao nữa. – Sao hồi theo kịp em không kêu lên? – Em vấp ngã, em
bi trặc chân. Em biết ngay vì em không đứng dậy được. Em có kêu, nhưng người đi
trước em quay lại vẫy vẫy tay quát: “Đi cố lên!” Rồi mấy người đi sau em đi
tới, người thì hỏi một câu, người thì sờ đầu, rồi đi qua luôn ! – Bộ họ không
biết em đau chân sao? – Họ biết chứ!
Chúng tôi về đến điểm hạ trại.
Tôi nấu cơm cho Phương ăn, nấu nước cho Phương ngâm chân. Tôi ở lại với Phương,
săn sóc nàng tới khuya. Nàng khóc không dứt nước mắt.
Từ trạm đó trở đi, tôi như kẻ tùy
tùng của nàng, lúc vác ba-lô lúc dìu nàng qua suối. Nàng rất tự hào về đôi chân
đẹp của nàng. Đôi chân nàng đẹp thật. Có lẽ vì biết thế, nên mỗi lần qua suối
nàng cố tình đi chậm lại và để cho “kẻ tùy tùng” lùi lại phía sau nàng. Nàng
xắn quần lên dò dẫm lội từng bước và chốc chốc ngoái lại lườm tôi: Anh nhìn gỉ
thế? – Anh xem em múa trên mặt nước!
Một đêm mưa, tôi đến tìm hơi ấm
ở nàng. Hai đứa nằm trên một chiếc võng, nước mưa đổ ngập cả lưng…
Một lần khác trời khô ráo, ai
nấy đều ngủ say. Nàng bảo:
- Giá mà bây giờ chúng mình đã
có với nhau một đứa con !- Rồi nàng bảo: Anh cho em một đứa con đi!… Bây giờ
này ! Rồi nàng khóc. Mấy hôm sau chúng tôi chia tay. .
Bây giờ này!
Bây giờ thì tất cả đều chấm
dứt. Chấm dứt không còn một thứ gì. Đôi giày con tôi vẫn còn cất trong ba lô.
Tấm hình nàng nằm trong ví nhưng tôi không dám dở ra xem từ khi Thiệp báo hung
tín. Tôi sợ nhìn thấy nàng. Tôi nhìn thấy tôi trong mắt nàng. Bức thư nàng viết
cho má tôi – tự nhận mình là con dâu trước khi làm lễ cưới – tôi vẫn còn giữ
chung với hình nàng, bọc trong giấy bóng. Sau bao nhiêu lẩn lội suối, dầm mưa,
tôi đã đem phơi nắng hoặc hơ lửa.
Tôi sợ tất cả những gì của nàng
còn lại trong tôi. Tôi như nghe lại lời than trách giữa buổi chiều lạc đường
“Người ta đem con bỏ chợ!” Lời ấy quả thật không quá đáng !
Tôi nằm trăn trở mãi cho tới
khuya. Thiệp cũng không ngủ. Đồng bệnh tương tri.
- Anh có định làm gì cho chị
Phương không?
- Tôi ấy à? Làm gì được bây
giờ? – Tôi giật mình trả lời như máy rồi hỏi lại – Còn cậu, cậu định làm gì cho
bà chị?
- Tôi hoàn toàn bí lối.
Sương khuya nặng hạt rơi đầm
đìa trên mái lều.
Sáng hôm sau, thức dậy thân thể
đau như dần, tâm thần nhẹ bông như vừa đầu thai kiếp khác. Giao liên đến ra
lệnh tập họp để chuẩn bi lên đường. Giao liên, đó lại là một chàng trai. Giao
liên toàn là người trẻ, hoặc từ Bắc vào hoặc từ Nam ra. Họ phải là những người
“giỏi gìò, mau chân” trước nhất. Họ là những cái máy biết đi và thuộc đường đi.
Họ không có tình cảm thương xót hoặc có mà không hề để lộ ra trước những cảnh
huống bi đát của khách đi đường. Cho nên giữa khách và giao liên không có cả
“chất nhờn xã giao.”
Trái hẳn với những buổi sáng
lên đường khác, anh giao liên này cho tập họp từng đoàn một và đứng thành một
hàng dọc, những ai chưa lên đường thì không được bén mảng tới. Khách lao nhao
phản đối. Anh ta cứ mặt lạnh như tiền đi tới đi lui la quát, chỉ chỏ khách thi
hành điều này điều nọ. Rồi cuối cùng đến từng đoàn một, yêu cầu trưởng đoàn cho
xem danh sách đoàn viên của đoàn mình .
Đoàn đầu tiên được anh ta chiếu
cố là đoàn cán bộ thuộc Bộ Công nghiệp nặng. Một người trong đoàn nói ngay:
- Trưởng đoàn nằm lại trạm
ngoài.
- Ai thay thế?
- Chẳng có ai thay thế cả!
- Các đồng chí có bao nhiêu
người ?
- Khởi đầu thì bốn mươi, bây
giờ còn hơn ba chục.
- Rụng bao nhiêu?
- Bảy, tám gì đó !
- Bảy hay tám nói rõ dùm cha
nội ?
- Bảy hay tám, tám hay chín,
chín hay mười, không rõ được. Muốn rõ đồng chí chịu khó đếm.
- Vậy mỗi người cầm giấy ra tay
cho tôi kiểm tra!
- Giấy gì?
- Giấy đi B chứ giấy gì.
- Nào, lấy giấy ra cho người ta
xét ! – Người kia bảo những kẻ cùng đoàn.
Tức thời có tiếng nhao nhao lên
khắp đoàn. Có người ném cả ba lô xuống đất.
- Giấy đầu còn mà xét!
- Còn bộ xương sườn đây có đếm
mấy cọng thì đếm!
- Cho đi vô thì đi, không cho
thì trở ra chẳng xét con mẹ gì cả.
Ở đằng sau, cũng có tiếng la ó.
- Làm gì lâu vậy? Sáng sớm đi
khỏe mà không cho đi bắt ngâm chân ở đây!
Anh giao liên cáu tức, quát
trả:
- Yêu cầu các đồng chí giữ dùm
kỷ luật chút !
Có tiếng đáp lại to hơn:
- Đồng chí xét cái gì mới được
chớ?
- Có người đi lậu vào Nam!
Mọi người cười rộ lên. Một
người nói:
- Vào Nam sung sướng quá nên có
người ham chúng bay ạ !
Anh giao liên bị chọc tức, nói
to:
- Có một số đồng chí được phân
công xuống Bác Kế lại không đi mà chuồn vào Ông Cụ đấy ! Ở trên bảo chặn họ
lại. Vậy đoàn nào có người lạ mặt không phải là đoàn viên của mình xin báo cáo
cho tôi biết ngay, nếu không, tôi sẽ xét giấy từng người một.
À ra thế! Tôi giật mình và lo
cho các ông bạn vàng của tôi. Tôi đảo mắt khắp các đoàn nhưng không thấy các
ngài thuộc đoàn nào và đứng ở đâu. Nếu xét gặp chắc rắc rối to. Các tay này
không phải là loại người dễ bị bắt nạt.
Một hồi lâu, tôi không thấy ai
báo cáo với giao liên cả Bỗng một người nói:
- Có cả chục đoàn, mỗi đoàn có
vài chục người, đồng chí hỏi khơi khơi như vậy làm sao moi ra dân đi lậu. Ít
nhất đồng chí cũng phải biết mặt mũi dấu riêng, vóc dáng và tên tuổi chứ đại
khái chủ nghĩa vậy ai biết ai là ai?
- Biết thế nào được mà biết. Ở
trên không cho biết gì hết !
- Thế thì chịu thôi .
- Ở trên bảo là: Mật, Trừ Trử
Trữ hay Trứ gì đó, còn một dọc năm, sáu ông nữa trong đó có tên Quỳ hay Quy Quý
gì đó tôi không nhớ.
- Vậy ai mách cho đồng chí
những cái tên ấy ?
- Trạm ngoài !
- Họ có nói thêm chi tiết nào
nữa không?
- Họ nói toàn là cán bộ trung
cấp.
Bỗng bật lên một tiếng cười:
- Bọn tôi là cán bộ trung cấp
đây ! Đồng chí lại xem có phải là dân đi lậu thì cứ bắt giữ lại.
Tôi nhìn ra Mật. Cái thằng cha
ba trợn thật. Nó moi không ra lại chường mặt tự giới thiệu. Nhưng anh giao liên
đi đến rồi xua tay:
- Đùa hoài !
- Giấy đây có xem thì xem — Mật
tiếp.
- Dân đi lậu không như các đồng
chí. Họ không thể nào đàng hoàng như các đồng chí vậy!
Mật nói:
- Vô Ông Cụ sướng ích gì mà họ
phải trốn chui trốn nhủi vậy?
- Các cha ấy nhớ nhà các cha ấy
không chịu đi khu Eo khu Éo. Tôi đoán thế!
Cả đoàn cười rần. Anh giao
liên, hơi ngượng, ra lệnh:
- Thôi, ta đi – Nhưng còn bực
tức – Trong khi đi đồng chí nào phát hiện được những ông ấy, báo cho tôi biết.
Mật cười:
- Họ đi mất đất rồi ở mà xét.
- Sao đồng chí biết?
- Đã đi lậu thì phải đi lén chứ
đứng ra tập họp để đồng chí nắm đầu à?
- Thôi, tất cả theo tôi ! – Anh
giao liên nói xong bước nhanh tới phía trước.
Tôi thở phào. Bất giác tôi nhảy
xuống đất chạy ra nắm tay Mật, rưng rưng:
- Ông về trước cho tôi gởi lời
thăm bà con nghe ông!
- Ừ ráng mà lết nghe ! Mật nắm
tay tôi thật chặt – Tôi nhắn dùm cho. Mà nhớ đừng chết dọc đường! Có tệ lắm
cũng ráng bò tới Bà Rịa nghe cha !
Tôi nhìn đoàn người lom khom đi
khuất ở ven rừng, nước mắt đổ trào không ngăn được. Tôi cảm thấy quê hương còn
xa quá! Mình tới đây mới được hơn phần ba đường. Rồi mai mình cũng đi về, nhưng
thấy người ta đi sao buồn vậy .
Tôi về võng nằm. Hoàng đã thức
dậy ló đầu ra gác trên mép võng hồi nào. .
- Các cha lậu đi lọt rồi hả?
- Làm đếch gì bắt được họ !
—>Chương 15
- 15 -
Một tiếng gà gáy. Trời đất! Gà
ở đâu mà gáy vậy? Một âm thanh làm tôi điếng người. Có một làng quê ở đâu đây
hay sao ? Trời đã trưa trờ rồi mà nó lại mới báo bình minh. Lâu nay mình không
nghe tiếng gà gáy tiếng chó sủa, không biết tới mái nhà, không biết sự êm ấm.
Toàn hóc búa, thô lỗ, hấp tấp, giành giật, chen lấn, bòn mót, liều mạng. Cuộc
sống mọi rợ hoàn toàn nảy lên giữa đám người tự khoe văn minh.
Tôi bỗng buột miệng hỏi:
- Anh biết thằng Quang không
anh Bảy?
- Con bà Mười “Thép” ủy viên Trun ươn?
- Nó chết rồi.
- Ừ, thằng Phẩm nói cho mày
biết chớ ai !
Im lặng một chốc, Hoàng lại
nói:
- Nó chưa tới số chết mà tại nó
muốn chết !
- Tội nghiệp !
Hoàng lặng thinh, một chốc:
- Tụi quí tộc đỏ hư hỏng hết.
Tao biết chúng nó rành hơn mày. Tao gặp tụi nó ở ngoại quốc cơ. Không có đứa
nào học hành nên thân hết. Toàn chơi bời phá phách, Đại sứ quán của mình lo trị
tụi này mệt hơn cả làm việc nước. Chúng nó phá nát kỷ cương của sinh viên du
học. Con ông cháu cha thời nào cũng vậy. Hễ cha làm thầy thì con bán sách. Có
thằng lấy con gái người ta có bầu. Con gái ở bên đó dễ “gà” lắm, không có phải
như con gái Hà Nội đâu. Gái Hà Nội mình nắm tay được cũng còn là khó huống nữa
là cái sự kia. Còn đám đó thì dễ thôi. Đá lông nheo vài phát là ăn thua rồi.
Nhưng bọn sinh viên thường, bậc trung có dấm dớ cũng phải kỹ lưỡng, mày hiểu
không? Nếu không kỹ để “lộ ra da” thì chết! – Hoàng bị khui trúng tủ, xổ như
liên thanh – Đại sứ quán kêu lên kiểm thảo rồi cho “về xứ trồng khoai lang”
ngay. Còn tụi quý tộc thì không nhằm gì. “Lập thành tích vĩ đại” ở Bungari xong
thì được thuyên chuyển qua Đông Đức, lại “lập thành tích vẻ vang” thì lại đưa
qua Liên Xô chạy tang!
- Thế là lai giống Tiên Rồng
thành quốc tế chớ sao?
- Cái thằng Quang này là thằng
đạo đức, đàng hoàng một cây. Tao chưa thấy thằng nào như nó.
- Dân Nam Kỳ mà không lang bang
à?
- Bậy hoài mậy! Bộ hễ dân Nam
Kỳ thì lang bang hay sao? Như tao nè, đạo đức số dzách! Hí … hí … hí … Để yên ,
tao kể chuyện thằng quý tộc cho mày nghe. Nó sang Liên Xô ba tháng học môn
chính trị xã hội gì đó. Nó chán! Nó đòi về. Bà Mười cho nó sang Tiệp. Ba tháng
nữa, lại đòi về.
- Không “lập thành tích” gì ráo
à?
- Không! Nó về vì nó chán! Nó
bảo học năm năm về cũng chả làm được cái gì hay ho ngoài cái bằng cấp phó tiến
sĩ giấy. Nó về nước hẳn chứ không đi nước nào nữa cả. Bà Mười chỉ có nó là con
trai. Bà chăm chút nó dữ lắm. Em nó là con Thư mày biết không ?
- Nghe nói!
- Coi cũng được lắm! Nhưng nó
lại mê thằng kép cải lương Nam Bộ. Thằng này đóng
vai Lữ Bố! Mày biết nó mà. Già khú rồi. Mặt nhăn như da ổi. Hổng biết nó mê
thằng nọ chỗ nào? Con nhỏ mê man tàng tịch, bà già rấy la không nổi!
- Mê cái chỗ đó chớ chỗ nào?
- Thằng nọ vợ con đùm đề rồi
chớ phải chân trơn hay sao mà nhảy vô? Hai đứa hẹn nhau ở hội sân khấu đường
Ngô Văn Sở. Nó mang tới đủ thứ đồ bổ. Tao gặp và được thằng Lữ Bố mời một lần.
Mẹ! Ăn rồi chạy rong khắp ba mươi lăm phố phường như chó điên, đụng ai cũng
muốn ngoạm.
- Thứ bổ gì mà dữ vậy cha?
- Đồ bổ của Kim Nhựt Thành tẩm
gân mày biết không?
- Sâm à?
- Củ nào của nấy bằng củ củ …
cải..ải vậy mày ơi! Mình cả đời không nếm được một lát còn nó đem hầm bồ câu
cho thằng Lữ Bố ăn.. để nó múa lang ba cây kích sắt!
- Ở đâu mà nó có nhiều vậy?
- Cái thằng! Nó lấy phiếu của
bà Mười vô Tôn Đản cái gì mà hổng có chớ! Muốn hốt bao nhiêu mà hổng được? Còn
nhiều thứ khác còn ác hơn nữa mày ơi!
- Thứ gì mà ác hơn nữa?
- Bòi, dái, cừu Mông Cổ!
- Trời đất! Có các thứ đó nữa
sao?
- Đại lãnh chúa mới có phiếu
mua các thứ này mày ơi! Nó đã vô hộp đặc biệt hết rồi dán nhãn đỏ chữ mạ vàng.
Ăn chưa hết đã lật màn làm tại mâm mà! Cho nên tới lui chẳng bao lâu, con nhỏ
mang cái bụng thè lè, cần cổ cao nhòng lên. Bà Mười rầy nó, nó vác mùng vác
chiếu lại ở luôn với thằng Bố…
- Vợ nó đâu?
- Dân Nam kỳ làm gì có tiêu
chuẩn mang vợ ngoại trừ mấy thằng xếp.
- Rồi ở luôn à?
- Bả tới bắt về. Nó tự vận bằng
dầu nóng. Đem vô nhà thương… giấu kín lắm, nhưng ai mà chẳng biết. Có một mình
mày không hay gì hết thôi.
Tôi cười:
- Cha nhầm rồi ! Con nhỏ không
phải mê thằng Lữ Bố. Nói vậy tội chết. Nó khoái thằng họa sĩ vẽ phông màn cải
lương vì thằng này có vẽ cho nó một bức chân dung. Vẽ xong anh chàng đề ngay
dưới bức ảnh một câu: “Người đẹp tôi tôn thờ suốt kiếp.” Do câu đó mà nàng cảm…
gió mạnh! Còn một chi tiết nữa ông kể cũng sai. Nàng không đem chăn màn tới ở chung
với thằng Bố. Cơ quan đâu có chỗ chứa. Hai đứa đi mướn nhà riêng hè hè… Còn
khúc sau thì đúng y vậy.
Hoàng tiếp:
- Thằng Quang đi nước ngoài về
nhà đụng ngay cái màn cải lương đó. Đã chán nước ngoài về “nước trong” lại càng
thêm ngấy. Bà Mười cũng rầu nhưng bà nghĩ tới tuổi già trên sáu mươi rồi không
có cháu bồng. Bà bèn chạy hỏi vợ cho nó. Bà tìm ra chỗ đồng chí cựu trào. Bà
mừng gặp được con giòng cháu “giống.” Bà làm đám cưới tức thì…
Hoàng đang kể hăng say thì có
tiếng la oai oái. Hai đứa nhìn về phía có tiếng kêu, thì ra máy bay tới. Người
ta kêu dập lửa và lấy quần áo dẹp vô trong lều.
Tôi và Hoàng ngồi im trên võng
nhìn mặt nhau, chờ xem loại máy bay nào. Thình lình trên không có tiếng phát ra
vang vang:
- Allô, allô nghe đây ! Tôi là
Trung tá Nguyễn Văn Hàm, Tham mưu trưởng Trung đoàn X3 bị bắt ở trên đường mòn
cách đây ba trạm về phía Nam. Đơn vị của tôi bị phục kích bất ngờ nên chống cự
không được. Trên năm mươi binh sĩ trong Trung đoàn bị thiệt mạng và trên hai
mươi binh sĩ bị bắt sống. Tôi mang theo ba thứ tiền Việt Miên Lào để mua thực
phẩm cho đơn vị. Tôi biết hiện giờ anh em còn trốn tránh trong rừng vậy nên tôi
đã ném trả lại số tiền đó để anh em chi dùng. Hiện giờ tôi có đầy đủ thức ăn
thức uống… Allô, allô! Anh em thân mến ! Có khi nào anh em tự hỏi mình chịu đói
chịu khát để ai hưởng không ? Có bao giờ anh em trông thấy một đứa con đứa cháu
nào của mấy ông to bà lớn đi trên con đường này không? Chúng nó đi giải phóng
Miền Nam bên Liên Xô, Tiệp, Đông Đức. Thậm chí có đứa sang tận Cu Ba để giải
phóng Miền Nam…
Hoàng nói ngang:
- Tụi này đểu thật ! Nó chơi
mình mười cú không sai một.
- Hôm trước một cú, đã xính
vính, nay bồi thêm cú nữa !
- Mặc mẹ nó, đừng có nghe nữa
uổng lỗ tai.
Chiếc máy bay vòng vòng phát
hết bài bản rồi rải giấy và biến đi.
Hoàng quơ lượm và nói:
- Thứ này mình đang cần đây.
Nhóm lửa là nhất !
Tuy nói vậy Hoàng vẫn đọc.
Tôi giục Hoàng:
- Mình đi ăn cơm rồi giải quyết
vụ con chó xem sao !
Cơm đã nấu hồi hừng sáng, để
tới bây giờ cứng quánh như đá nhưng ráng nuốt.
Hai đứa dặn Thiệp ở nhà coi
chừng đồ đạc cho kỹ rồi dắt nhau đi đến lều có con chó mà chủ nhà đã hứa đổi
cho hôm trước.
Dọc đường, Hoàng nhặt được thêm
vô số “thứ nhóm lửa tốt.” Hoàng chắc lưỡi:
- Mình bị “đẽo” hết nhát này
tới nhát khác.
- Đi đâu coi bộ cũng không
khỏi. Nó ở trên đầu mình nó bổ xuống mà.
Đến chỗ ông chủ nhà đổi chó,
chúng tôi chìa ra một cái đồng hồ và một cái blouson da. (Chiếc áo này Hoàng mua từ
nước ngoài, định đem về làm quà cho con trai). Chủ nhà là một người đàn
ông tóc hoa râm. Ông có cả một cái lều gần giống cái nhà lợp bằng lá rừng chớ
không phải căn lều ni-lông như tụi tôi, – một loại nhà đá nhà đạp nhưng khéo
léo và tươm tất hơn cái nhà của anh giao liên Phẩm. Bên cạnh ông ta cũng lại
một cái nhà khác to hơn nhưng xập xệ hơn trong đó ẩn nấp hai vợ chồng và một
đứa bé. Chồng đang chẻ củi. Vợ ôm con hát trên võng.
Ông chủ chó nói ngay:
- Tui thì tui muốn đổi nhưng
anh tê lại can. Anh với tui ở chung một thôn. Chạy lên đây có hai anh em. Lúc
chạy chị ấy có thai. Mới sanh được hơn một tháng. Anh ta nói để con chó lại cho
vui cửa vui nhà. Ở trong rừng có tiếng chó sủa nó ấm áp, cũng như thêm đứa con
nít vậy. Hôm qua tôi tính sai…
Nghĩ rằng ông ta chê cái đồng
hồ và chiếc áo chưa cân với con chó – của đáng tội, nó chỉ bằng bắp chân thôi –
tôi móc túi, định đưa thêm bửu bối, nhưng ông ta khoát tay:
- Không đâu, mấy tui cũng không
đổi! Tôi chạy lên đây, vợ con bỏ hết, ôm được nó theo làm bạn. Tưởng là vô dụng
nhưng khi lên đến đây rồi, thấy nó hữu ích lắm. Nhìn cây rừng tối ngày, thấy nó
cũng vui và đỡ nhớ nhà. Có chút gì ăn cũng chừa cho nó. Đi đâu nó cũng chạy
theo chân. Bây giờ vì miếng ăn mình lại bán nó ư. Ra mình ác quá !
Nếu ông ta đòi cò kè bớt một
thêm hai thì hai tên công tử bột này sẵn sàng phình bụng, mấy cũng đổi, miễn có
chút thịt bồi dưỡng, nhưng đây là vì lý do triết lý luân lý của một con người
ly hương, nên hai đứa tôi đành rút lui ý kiến. Hoàng hỏi:
- Đồng chí hoạt động ở xã à ?
- Tất cả các lều chung quanh
đây đều là xã ủy cả. Cái xã chúng tôi địa dư ác lắm. Trước mặt thì biển, sau
lưng là núi. Nó bịt hai đầu, nó ruồng khúc giữa là có môn bay lên trời thôi chứ
không còn lối nào thoát cả.
- Vậy làm sao đồng chí hoạt
động được ?
- Có hoạt động gì đâu. Sống
được đây đã là thắng lợi rồi. Bi bắt hết ráo, sót mình tôi. Lớp nào còn sống thì
dần dần ra đầu thú rồi xin giấy chứng nhận để làm ăn, mỗi ngày trình diện ấp
một lần, ba ngày trình diện xã một lần. Nó nêm mình khít rim như nêm cối không
cục cựa được.
- Các anh về Nam hả? – Ông ta
hỏi lại tôi.
- Vâng
- Không biết ở trong đó có dễ
thở hay không?
Đứng nói chuyện tình hình một
lúc, tôi hỏi:
- Đồng chí biết chung quanh đây
có ai đổi món gì không?
- Có cái đồng chí kia có con gà
trống, đâu các đồng chí đến hỏi xem.
Tôi nhìn con chó Vàng ốm nhom
nằm bên gốc cột. Mõm nó đen, bốn chưn cũng đen: Hình như nó hiểu lời chủ nó
phân trần với chúng tôi. Ở khóe mắt nó tôi thấy dường như có một ít nước mắt.
Tôi thấy tội nghiệp con vật. Chiến tranh làm cho người cả vật đều khổ. Tôi bật
ra câu hỏi bất ngờ:
- Mà làm sao đồng chí lại bế nó
theo được ?
Ông chủ lều nghẹo đầu sang bên
và nói:
- Cái số nó khổ ông ạ ! Tôi đi
trong đêm mù mịt, đâu có thấy gì. Qua một xóm nọ, giao liên bảo ngồi nghỉ ở mép
đường chờ cho đám nhân dân tự vệ đi qua rồi sẽ tiếp tục. Đang ngồi dẫu tai nghe
tiếng động thì lại nghe có tiếng rên rỉ và vật gì nhồn nhột bên chân. Tôi quờ
thì đụng nhầm nó. Tôi chẳng suy nghĩ gì cả. Tôi cởi khăn choàng ở cổ bọc nó
luôn, quảy bên nách và bảo thầm: Tao sống mày sống. Tao chết mày giữ mả cho
tao. – Ông trỏ con vật – Ba tháng rồi mà mới bây lớn đó. Có cái gì ăn mà lớn
được !
Hai đứa men tới chỗ chủ gà. Con
gà bi xiềng chân vào gốc cột. Mào đỏ chóe, lông xước xù xì. Chúng tôi ngỏ ý đổi
đồ nhưng người chủ, một ông già đầu .bạc trắng đáp:
- Để nó gáy cho ấm làng.
- Sao cụ lên đây vậy?
- Chúng nó treo giá đầu tôi một
trăm đấu thóc, không đi để nó bắt à?
- Cụ làm gì mà nó treo giải
thưởng vậy .
- Tôi chỉ huy ám sát tụi thôn
trưởng ác ôn nhưng thất bại. Mình giết người thì người giết lại. Tôi chẳng hận
gì cả. Chi có cái buồn. Buồn chết người đi được. Các anh về Nam hả.
- Vâng.
- Tôi là dân Ba Tơ của Nguyễn
Chánh đây các anh ạ. Ông ấy bỏ chúng tôi thế này cũng hơi khó coi. Ổng ra ngoái
đóng lon Trung tướng phải không?
- Đúng! Nhưng ổng đau nặng và
chết rồi !
- Thế à? Chúng tôi ở trong này
mắt mù, tai điếc, có biết gì đâu !
- Sao cụ già yếu rồi lại không
đi tập kết?
- Ông Chánh ổng bảo phải ở lại
giữ cơ sở. Cố chịu hai năm là tương lai rực rỡ. Mười năm còn chịu được. Hai năm
nữa là bao. Ở thì ở! Đến nay là mấy “hai năm” rồi ? Tôi không còn nhớ nữa. Hừ !
Cách mạng đang thắng lợi ngon như gỏi, bỗng nhiên chúng tôi ra thế này, thật
chẳng hiểu sao. – Lão già nổi nóng ngang – Các anh có ở trong này thì mới biết
nỗi khổ của thằng cán bộ. Sau khi tàu tập kết lui rồi, chúng nó tố Cộng ngay.
Đêm nào cũng tố. Không một ngoe nào lọt lưới. Anh nào không bị bắt thì ra đầu
thú. Không đầu thú không bị bắt thì mau mau lên rừng. Ở dưới đó sớm muộn gì
cũng bị nó thôi. Chúng tôi có tổ chức một chuyến ra Bắc bằng đường biển để báo
cáo tình hình nước sôi lửa bỏng ở trong này. Liều chết mà đi. Nhưng không biết
có ra tới không?
- Chắc đã tới rồi cụ ạ ! Vì thế
cho nên mới có con đường này. Hoàng nói.
- Người có về thật nhưng khó
xuống dưới đó lắm !
Không muốn vướng vào những thắc
mắc thâm căn của ông chiến sĩ Ba Tơ, tôi trỏ chú gà:
- Cụ nuôi nó lâu chưa vậy cụ ?
- Nó là gà rừng. Tôi đi kiếm
củi bắt được cái trứng khảy mỏ. Tôi đem về để gần bếp cho ấm. Nở ra nó đấy. Ba
tháng rồi chi to bằng ấy thôi. Tuy bé người nhưng tốt giọng và siêng gáy lắm.
Ban đêm nó gáy là cả làng này được nghe.
Tôi hôi:
- Bà con ở đây đông lắm sao cụ?
- Chừng hơn trăm. Ngày nào cũng
có người lên. Ở dưới mình mất hết. Mất người, mất đất. Có nhiều anh về nhà, vợ
đuổi kìa mà. Nói thế các anh biết là tình hình nguy ngập đến mức nào. Các anh
cố đi bươn về trong đó, nếu muộn, không cứu chữa được đâu. Cụ Hồ ngày xưa đang
hóa ra Cụ Ngô rồi đó! Có ca dao chạy trong dân rồi cơ mà ! – Ông già chớp chớp
mắt như để nhớ ra câu ca dao – À, nó như thế này:
Một mai mưa rã tan “hồ”
Lúa lên ngô tốt ăn “ngô ” no lòng. .
Tôi bấm Hoàng.
- Chào cụ ạ!
- Chúc các anh chân cứng đá mềm
nghe. Chớ già này thì hết mong thấy mặt bà con làng xóm rồi.
Đi kiếm ăn chẳng ngờ gặp toàn
chuyện rủn chí. Chẳng có hi vọng đổi được món gì, hai đứa đành trở về lều. Về
lều lại gặp cái cục bi quan nằm chình inh trên võng. Thiệp hỏi ngay:
- Các anh có nghe tên gì loa
trên máy bay không?
- Có ! Rồi sao ?
- Nhiều người lên máy bay kiểu
đó quá nhỉ !
- Bị nó bắt, nó bảo làm gì mà
không làm !
Hoàng săm soi mẻ cao khỉ. Đó là
hi vọng cuối cùng. Tôi bảo:
- Mai ta đi thôi, anh Bảy!
- Ừ đi quách. Tới đâu tới. Ở
đây mỗi ngày mình nghe như lún xuống với ba cái ông khu Eo này. Tập kết cả vợ
con nội ngoại láng giềng xa láng giềng gần mà cũng than . Vô đây, đụng mấy ổng,
lại nghe mấy ổng than.
- Thôi, nghỉ cho khỏe đi rồi
mai ta cùng nhau “xông pha lên đàng” quách !
- Nè cái ông chủ trại cưa Kim
Hữu chắc vô tới trỏng rồi hả?
- Tới lâu rồi! Ổng vô để sửa
soạn làm Bộ trưởng mà !
(Chủ trại cưa Kim Hữu là nhạc
sĩ Lưu Hữu Phước. Số là khi chúng tôi vô trường đi B thì gặp ông ở đây. Ông
cũng vác gạch tập quân sự ì ạch như bọn tôi. Riêng tôi thì ngủ chung một phòng
bốn người với ông. Ông có tật ngáy như sấm. Không đứa nào ngủ được. Lần lượt
chúng tôi chuồn đi hết, bỏ ông chiếm lãnh một mình. Do tiếng ngáy hùng hồn của
ông mà chúng tôi đặt cho ông là cái trại cưa. Còn Kim Hữu là cái tên lậu của họ
Lưu. Vô đây thằng nào cũng thay tên đổi họ.
Ông chủ trại cưa Kim Hữu được ở
trên chỉ định làm trưởng đoàn để dìu dắt ngót bốn mươi văn nghệ sĩ vào tận R
giao cho Hội Văn nghệ Giải phóng. Nhưng vào giờ phút cuối cùng, ngay trong đêm
xuất phát, ông nhạc sĩ lại “đau bụng”, ở trên bèn chỉ định một anh khác thay
thế ông chủ trại cưa. Chúng tôi thừa biết đó là một màn hài hước không ăn
khách. Ông chủ trại cưa đi máy bay vô Phnom Pênh và ra rừng bằng xe mô tô của
Khiêu Samphan) .
- Ngày mai lên đường? Demain on
partira hả !- Hoàng cười – Đừng có cái kiểu demain on mangera sans payer (mai ăn khỏi trả tiền) nghe!
- Tùy anh thôi! Anh đừng có bàn
ra nữa! Tôi nghe ớn ớn rồi.
- Lại sốt hả?
- Không phải? Nghe mấy ông quân
sự bàn về tình hình ở đây, tôi ớn lắm ! Máy bay nó liếc hằng ngày như vậy là nó
ra hiệu cho rồi đấy. Sớm muộn gì nó cúng tái sụn cái làng này thôi.
- Tụi nó đểu thật nhỉ! Nó mở
cửa cho đi, tưởng thoát, ai dè lại vô rọ.
- Nó đánh một phát là diệt hết
gốc rễ xã thôi.
- Thằng Núi thằng Ngữ không
biết đã đi chưa hay còn nằm đó?
- Tội nghiệp thằng Phẩm quá
nhỉ. Nó làm bạn với con khỉ con mồ côi.
- Mình ác quá! Bắn chết con khỉ
mẹ…
- Người mình bây giờ làm bạn
toàn với gà, chó, khỉ . Nay mai rồi họ cũng ăn thịt chúng nó thôi. Đói quá còn
kể gì tình nghĩa. Đến như tình đồng chí thiêng liêng thế mà còn choảng nhau bạt
mạng nữa là.
- Cái thằng! Mày đâm ra triết
lý rởm quá mậy!
- Thiệt chớ rởm. Đánh nhau bằng
sư đoàn có cả xe tăng để giành mấy tấc đất hoang mà là rởm à?
- Chậc . Đó là phe ta thử sức
mạnh cho đế quốc biết mặt mà ghê răng chơi thôi !
- Tôi nghi thằng Núi không đi
nổi quá anh ạ ! Tội nghiệp con bé ở Hà Nam !
- Mày lo tội nghiệp cho cái con
Phương của mày kia đi!
Hoàng nói chơi mà động thật.
Câu nói đã đâm vào tim của tôi lẫn Thiệp.
Nhưng tôi gượng nói lấp cho
qua:
- Thôi, cậu ở lại nhé Thiệp.
Cậu còn hi vọng hơn mình nhiều ! Người sống đống vàng cậu ạ! Tớ chỉ mong được
như cậu mà không được !
Thiệp lặng thinh. Hoàng lui cui
trút mớ xương tổ tiên gói bằng ni-lông bỏ vô ba-lô.
Đúng là khạc không ra, nuốt
không vào. Bỏ thì uổng mà ăn thì không ăn được.
Hai hôm sau sẽ có chuyến đi.
Chúng tôi phải chuẩn bị từ bây giờ. Số gạo mười sáu kí lô mà chúng tôi vừa lãnh
đã ăn hết độ một phần tư. Còn lại trên dưới mười kí. Mười kí lô trên đường
Trường Sơn nằm trên lưng một tên ốm đói, chán nản như tôi, như Hoàng Việt không
phải là chuyện đùa.
Người ta cho biết số gạo lãnh
kỳ này là để chi dụng trong một thời hạn vô định, nghĩa là không biết chừng nào
sẽ được lãnh nữa, vì từ đây vào trong thì bom đạn xảy ra thường trực, ngoài ra
còn biệt kích. Người đi đường phải luôn luôn ở trong tư thế chiến đấu chứ không
có thể lè phè lắc lư như từ trước nữa. Bằng chứng là viên tham mưu trưởng trung
đoàn gì đó bị bắt và lên máy bay tuyên truyền giở giọng xuống đất. Tôi sực nhớ
mấy câu chót của ông ta mà chợt thấy đúng quá! “Các con ông lớn đi giải
phóng Miền Nam ở bên Tiệp Khắc Liên Xô! Chỉ có chúng ta đi giải phóng Miền Nam
bằng con đường tử đạo này.”
Cách mạng này thành công nhờ
sức dân, nhưng dân ăn cám, ăn khoai, ăn củ chuối thấy mẹ còn các lãnh tụ thì
tha hồ vì dân, ông thì vợ bé, ông thì chôm vợ người, ô-tô nhà lầu, lính gác
khít như răng, ông nào ông nấy mặt đỏ như gấc ngồi xe volga nặng sát nhíp.
Tôi buột miệng nói:
- Thằng Quang con bà Mười là
thằng kỳ cục, hả anh Bảy !
- Nó có cái lý của nó !
- Ở ngoài Hà Nội cưới vợ rồi
kiếm bậy chân giám đốc dễ như chơi mà không chịu để lăn thân vô đây làm giống
máu gì cho chết sốt rét?
Hoàng Việt ngẫm nghĩ hồi lâu
rồi nói:
- Mày nghĩ theo chủ quan của
mày còn nó có hoàn cảnh của nó.
Hoàng Việt kể tiếp câu chuyện
về Quang:
- Bà Mười tìm được con gái của
một ông đồng chí cựu trào. Bèn nhờ ông Hùng làm mối. Ông Hùng làm mối là chắc
như bắp rồi ! Hai nhà cách mạng kỳ cựu làm suôi gia với nhau môn đăng hộ đối
biết bao nhiêu, nhưng cái thằng công tử Quang lại vô phúc. Khi cưới xong con vợ
thì mới biết là cô nàng đã mang bầu với đồng chí ta… Nó không nói gì hết cứ bỏ
nhà đi.
- Bầu của ai vậy ?
- Cả Hà Nội biết mà mày lại
không à?
- Hà Nội có một ngàn lẻ một
trái bầu hoang chớ phải một hay sao ông?
- Bầu với ai không bầu lại bầu
với thằng lái xe của ông già tía nó.
- Thấy bà chưa ! Vậy mà tôi đâu
có biết. Tôi có đến chơi nhà đó hoài mà ! Ổng cũng là tay bán trời không mời
thiên lôi nên con ổng noi gương ổng chớ sao!
- Mày có “thêm chưn thêm tay”
gì không?
- Không! Tôi thề có thánh thần
làm chứng. Tôi đến là tôi nhắm vô con em thôi. Con em có vẻ nhu mì dễ thương
hơn. Con chị cũng đẹp nhưng là cái đẹp hỗn, beauté brutale, tôi có muốn cô ta
thật, nhưng tôi hơi sợ. Còn.cưới cô ta làm vợ thì tôi không bao giờ có ý nghĩ
đó. Tại bà Mười bả không biết coi tướng nên bả mới nhảy vô chỗ đó.
Hoàng Việt gạt phắt:
- Tướng tá cái khi meo. Tại bố
nó ăn hết lộc con. Bố nó già rồi mà còn “hoạt” mạnh lắm. Ổng quơ luôn một loạt
mấy bà góa của các cựu đồng chí nhà mình. Mấy trái dừa khô để lâu ngày mọc mọng
mày biết không? Cho nên gặp ổng xới đất trồng là rung rinh ngay.
- Đời cha ăn mặn đời con khát
nước ! Quả có đúng!
Hoàng Việt tiếp:
- Thằng Quang lên Ban Thống
Nhất xin về Nam. Lần này thì không có ai cản được nó nữa. Nó đi giải phóng Miền
Nam mà. Lấy lý do gì cản nó?
- Tội nghiệp, cái thằng chết mà
trong ba-lô đầy sâm và B12.
- Gặp sốt ác tính có thuốc tiên
cũng không chữa nổi !
- Tội nghiệp bà Mười. Vllla
rộng mênh mông mà không có con cháu gì ở chung hết, trong lúc bọn mình thì lại
không có cái ga-ra chui rúc.
Buổi sáng, giao liên lại làm
thủ tục trước khi dắt khách đi. Hắn nói:
- Mấy tay trung cấp không biết
đã lọt chưa? Các đồng chí để ý dùm. Ở trên đốc thúc tìm cho ra. Nhưng bố tôi
cũng không tìm được. Cứ nói đại khái như vậy thì lấy gì làm bằng chứng để xác
nhận từng người khách chớ!
Tôi từ giã Thiệp với những cảm
xúc nghẹn ngào. Tôi bắt tay Thiệp:
- Thôi cậu ở lại nhé. Phải bình
tĩnh giải quyết vấn đề. Chúng ta không có khả năng gì trước một thực tế như
vậy. Chỉ cầu mong sự may mắn xảy ra cho chúng ta thôi !
- Tôi thiệt tội nghiệp cô
Phương. Nếu tôi biết anh còn ở đây tôi sẽ lấy lại một vật gì cho anh giữ làm kỷ
niệm. – Thiệp rơm rớm nước mắt nói.
- Kỷ niệm cũng không thay đổi
được gì. Mang thêm kỷ niệm càng thêm nặng bước đi.
- Tôi ở lại đây vì không thể
đi, chứ ở lại làm gì chính tôi cũng không hiểu,
- Thiếu gì những chuyện mình
làm mà mình không hiểu gì hết. Phải không?
- Anh nghĩ rằng nó có thể đem
vợ tôi về Sài Gòn không?
Câu hỏi của Thiệp làm tôi chới
với. Có thể lắm chứ. Nó đi bằng máy bay mà. Nhưng dù ở Sài Gòn hay ở đây, nàng
vẫn xa cách chàng. Một ngàn cây số hay chỉ một bức tường con thì sự xa cách vẫn
là xa cách. Tôi hỏi lại :
- Nhưng nếu nó đưa cô ấy vào
Sài Gòn thì cậu sẽ làm gì nào?
- Tôi sẽ đi với anh vào trong
đó !
- Thì cũng thế thôi !
Thiệp lặng thinh.
Hoàng Việt xuất hiện như một
cứu tinh:
- Tôi biết sự đau khổ tận cùng
làm cậu quẩn trí. Bây giờ tôi đề nghị cậu dùng biện pháp của tôi là tốt nhất.
- Biện pháp gì anh?
- Cậu coi như cậu đi công tác
xa để vợ ở nhà. Đúng! Cũng như tôi vậy. Tôi đi kháng chiến hồi 46, không có hẹn
gì với vợ tôi cả. Tôi nói chừng nào hết kháng chiến thì về. Thế là đi. Mới ban
đầu vô chiến khu Đ. Vợ tôi còn ra vào tiếp tế nọ kia. Vài năm sau tình hình
găng quá, chạy xuống Tháp Mười, bả vẫn còn mò xuống đem cà phê, sữa, tẩm bổ cho
tôi và ở chơi vài ngày rồi về. Nhưng Tháp Mười bi càn nát bét, tôi chạy xuống
miền Tây, cũng còn móc ngoéo được vài chuyến. Thế nhưng sau khi tập kết thì dứt
đường tương chao. Bưu thiếp cũng không gởi được. Đến chừng tôi đi Bungari thì
mới gởi được thư từ qua đường Paris. Gần hai mươi năm trời. Bây giờ tôi mới
thấy le lói cái hi vọng gặp lại bả. – Hoàng Việt nói trôi chảy nhưng tôi biết
đó là một kiểu đau chân há miệng thôi chứ Thiệp không thể xài được cái biện
pháp của ông ấy. Vì hoàn cảnh của Hoàng Việt và của Thiệp khác hẳn nhau. Sống
trong lòng giặc và bi giặc bắt không thể coi là một hoàn cảnh.
- Tất cả lên đường! – Giao liên
ra lệnh.
Tôi bắt tay Thiệp không muốn
buông ra hay chính Thiệp không muốn buông tay tôi ra. Hai niềm đau cộng lại
thành ra một biển đau thương. Hai đứa nước mắt ròng ròng, nhưng không thể đứng
lâu hơn, tôi đành phải chia tay với Thiệp. Nếu dùng dằng tôi có thể ở lại và Hoàng
Việt sẽ tán thành không chút đắn đo.
Đường bắt đầu dốc và dốc cao.
Hoàng Việt la ngay:
- Mẹ nó, giết mình quách cho
xong!
Đoàn bây giờ vỏn vẹn chỉ còn có
hai đứa đi chung với nhau ở đây. Thằng Núi và thằng Ngữ còn ở trạm ngoài không
biết sống chết thế nào.
Trời lại bắt đầu đổ mưa. Đường
gồ ghề với những mô đá lẫn trong bùn, vừa đi vừa trợt. Mọi người đều lấy vải
ni-lông ra trùm từ đầu trở xuống không cho ba-lô ướt, vì nếu ướt thì nó sẽ trở
thành một quả núi đè trên lưng không thế nào đi nổi. Lưng người nào người ấy gồ
lên như những con lạc đà một bướu.
Người đi đằng trước tôi chuyền
lệnh:
- Đi khít nhau kẻo lạc đường.
Tôi quay lại để nói cho Hoàng
Việt thì không thấy anh nữa. Nhìn xuống phía dưới cũng không thấy anh mà toàn
là những người lạ. Nhưng tôi không thể dừng lại được vì nếu dừng lại sẽ đứt
đuôi và không biết đường đi. Tôi đành phải lội bươn tới cho kịp người đi trước.
Đã một lần tôi bị đứt đuôi ở tại một ngã ba. Đoàn người phía sau tôi đi tới
nhưng tôi không biết phải rẽ sang ngả nào. Nhiều người sừng sộ suýt đánh tôi.
Tôi nổi doá để cho họ đi trước và tôi bọc hậu cuối cùng. Như thế dù tôi có đứt,
thì cũng chỉ lạc mình tôi, không phương hại gì đến ai.
Trời mưa càng lúc càng to, nước
tuôn xối xả đến mức độ hai người chỉ cách nhau mươi thước là không còn trông
thấy nhau nữa. Nước từ trên trời đổ xuống như dội, vuốt mặt không kịp, nước từ
trên đỉnh dốc tuôn theo đường mòn xuống ào ào như một dòng suốì nhỏ chực cuốn
phăng những bàn chân run rẩy đang dấn bước lên. Tôi đang mò mẫm tìm một nơi
chắc chắn để đặt bàn chân thì bỗng một bàn tay nắm ống chân tôi lôi xuống.Tôi
trượt ngã và rơi lên đầu người ở phía dưới cuốn theo một loạt người nữa. Tất cả
đều lăn long lóc trên sườn núi như những quả bóng cho đến khi mỗi người có chỗ
bám lại mới thôi. Tôi quờ quạng bò lên, đứng dậy và vừa vuốt mặt vừa quát:
- Đồng chí nào chơi kỳ cục vậy.
Một người hỏi:
- Chơi gì mà kỳ cục.
Tôi nói:
- Tôi đang leo thì đồng chí nào
lôi chân tôi.
- Ai lôi đâu? Té trên đầu người
ta còn nói.
Tôi cố tìm xem thủ phạm là ai
nhưng vì ai cũng trùm ni-lông và ni-lông do chính phủ phát nên chỉ một màu xám.
Do đó không biết thủ phạm là ai.
Cuối cùng lại lóp ngóp bò lên
đi tiếp. Tôi đi mà cứ bị ám ảnh bởi một bàn tay ở phía dưới nắm chân mình. Tôi
biết họ không có bụng xấu nhưng vì họ suýt ngã nên chụp ẩu ống chân tôi để
gượng lại như níu một gốc cây, nhưng gốc cây lại tróc luôn theo người gượng.
Người giao liên cho cho cả đoàn
lên đến đỉnh dốc rồi bảo:
- Các đoàn kiểm điểm lại người
của mình, nghỉ một chút rồi đi xuống.
Chẳng có ông đoàn trưởng nào
kiểm điểm cả. Mà cũng chẳng còn ai là đoàn trưởng nữa. Mạnh ai nấy đi. Có khi
đoàn trưởng lại nằm ờ trạm ngoài kia. Và chẳng có ai lên thay đoàn trưởng. Cuộc
hành quân vô cùng hỗn tạp. Đặc biệt các đoàn dân chánh thì cứ như là loạn đến
nơi. Thằng nào khỏe thằng ấy sống. Tôi chờ mãi không thấy Hoàng Việt tới, bèn
nói với giao liên:
- Đoàn tôi có hai người. Tôi và
một đồng chí nữa. Bây giờ lạc mất một người.
- Đoàn gì kỳ cục vậy.
- Hai đứa tôi bi tụt hậu, còn
đại bộ phận thì đã đi trước.
- Rồi sao? – Anh giao liên gắt.
- Bây giờ chỉ có mình tôi. Còn
đồng chí kia đâu mất.
Anh giao liên nói một câu xanh
dờn:
- Tôi không có trách nhiệm gì
hết !
- Đồng chí nói vậy sao được ?
Anh giao liên nổi cáu ngay:
- Tôi đã bảo rồi. Ai đi nổi thì
đi, không đi nổi thì nằm lại. Ở đây không có trạm giữa đường, không có cứu
thương y tá gì hết. Nếu bị lạc thì tự tìm đường đi về trạm chớ nếu tôi bỏ đại
bộ phận ở đây để trở lại tìm một người thì không dân chủ. Thiểu số phải phục
tùng đa số.
Dân chủ !? Tôi không còn biết
nói gì. Cãi với họ thì càng mệt mà chẳng có ra ngô ra khoai gì. Nên khi anh ta
bắt đầu dẫn đoàn đi thì tôi đứng lại đi ở cuối hàng, vừa đi vừa ngóng lại phía
sau xem ông bạn vàng có tới không.
Trời tạnh mưa. Mặt trời hiện
lên như một ân huệ vĩ đại. Những con người khoác áo mưa lột tung cả ra như lột
vỏ.
Lên hết dốc, bắt đầu xuống dốc.
Lên cũng mệt mà xuống cũng mệt. Lại có phần nguy hiểm hơn.
Tôi nhìn sườn núi đổ hun hút mà
tê tái cả tâm can. Đi đứng gì kỳ cục quá vậy. Càng đi càng buồn nản vô cùng.
Như một trò chơi thí mạng con
người.
Đường trơn, chuyện đó đã đành,
nhưng đá lởm chởm và hố sâu vực thẳm, không phải suông sẻ. Tôi đã từng trông
thấy hai anh bộ đội khiêng pháo ban đêm đổ dốc. Vì không có đèn nên anh đi đầu
bước hụt chân xuống hố lới theo anh đi sau. Cả hai lăn xuống hố với khẩu pháo
đè. Tiếng kêu từ dưới hố vọng lên nghe rợn tóc gáy. Mọi người dửng dưng đi qua,
nhưng luôn luôn bị câu hỏi sau đây ám ảnh tôi: “Làm sao lôi hai anh ấy lên?” Có
quân đội nào hành quân kỳ cục vậy không?
Lần này tuy trời chưa tối nhưng
đường trơn. Cái ba-lô ướt trên lưng đè xuống mà ven đường không có tay vịn để
giảm sức lao của khối nặng toàn thân. Có lúc phải chạy ào xuống đến lúc ngã thì
đó là lúc dừng lại, ngoài ra, mỗi một người là một chiếc xe không “phanh” thả
dốc một cách mạo hiểm.
Đi được một vài chặng thì nảy
ra kinh nghiệm. Người ta ngồi xuống và lết. Như vậy không bi ngã, nghĩa là
tránh được mọi thứ tai nạn. Ở những chặng có bùn sền sệt thì người ta đi patin,
tuột một hơi đến chỗ nào không tuột được nữa thì đứng dậy đi từng bước.
Tội nghiệp mấy người đàn bà con
gái không thể đi được, mà chơi kiểu phiêu lưu patin thì không dám. Nhiều cô
nhiều bà đứng khóc ròng.
Nhiều chặng không có bùn nhưng
dốc rất ác. Đi thì nhất định phải ngã và mất rất nhiều thì giờ. Nhiều người
chơi trò mạo hiểm. Nhìn thấy cái cây ở dưới kia cách chừng ba bốn tầm đất, ngắm
cho kỹ, chuẩn bị dép cho chắc, rồi lao đầu một hơi xuống ôm chặt lấy gốc cây để
đứng lại. Nếu ai bám được gốc cây thì sẽ đứng lại, còn nếu ôm hụt hoặc vuột ta
sẽ lao luôn hoặc ngã lăn toành, toé máu là cái chắc.
Cái cách này đã được nhiều
người còn sức khoẻ khá áp dụng và thành công chớp nhoáng nhưng cũng đã xảy ra
lắm tai nạn. Có kẻ gãy rằng, có người tét trán. Nhiều ruột tuợng gạo vỡ tung,
gạo bay, đổ xuống bùn như gieo.
Số đông chỉ dòm như coi hát
xiệc rồi áp dụng phương pháp của Lê-nin: “Kiên nhẫn, kiên nhẫn, kiên nhẫn nữa.”
Tuy có mất thì giờ nhưng không mất máu. Chưa đánh giặc mà máu đã đổ, kể ra
không hợp lý lắm!
Ở một chặng trò xiếc này được
biểu diễn một cách ngoạn mục. Số là ở phía dưới có một cái cây nhỏ bằng cổ
chân. Cả chục người lần lượt lao xuống và ôm vào đó một cách mỹ mãn. Đến một
anh hơi to béo lao xuống và ôm vào cây thì cây trốc gốc. Cả người và cây đổ
sầm. Cũng may anh chàng chỉ rác toạc áo và xước ba sườn. Từ đó về sau, mỗi lần
trượt dốc kiểu đó, người ta bảo chàng béo:
- Ê, cậu xung phong trước đi,
nếu cây còn đứng vững thì những thằng ròm ôm mới bảo đảm.
Khi đến chân dốc thì trời đã về
chiều hẳn. Tưởng mình vừa đầu thai kiếp khác. Quần áo người nào người nấy rách
cả, mặt mũi quần áo bê bết bùn như vừa bắt hôi đìa. Chưa bao giờ bờ suối vui
nhộn như hôm nay: Tắm tập thể! Cả trăm con người ta ùa xuống suối một lúc. Vừa
tắm vừa giặt, giặt quần áo, giặt ba-lô. Tất cả đang khô ráo bỗng trở thành lấm
và ướt. Cả một khúc suối dợn sóng ba đào, nước suối đục lên như nước trong ao
có một bầy vịt quậy mò cá, nhưng sự ồn ào thì lại làm cho người ta có cảm tưởng
chợ đang họp phiên lớn.
Riêng phái nữ thì rất đáng tội
nghiệp. Họ luôn luôn bị động. Biết thân không thể sống chung với bầy “sói đói”,
những con thỏ con tìm một quãng cách xa ở phía trên nguồn, nhưng bọn đàn ông
lại ré lên phản đối:
- Xui lắm, xui lắm!
- Tắm dưới nguồn rụng tóc hết!
- Tắm dưới nguồn mất đầu thai
luôn đó tụi bây!
Thế là đám đực rựa ào ào vác đồ
đạc chạy lên phía trên nguồn để khỏi bị mất đầu thai. Nhưng cũng có số đông
chống lại một cách vui vẻ:
- Ở dưới này mới đi đầu thai
mau hơn.
- Nước này mới bổ chớ ạ! Mấy
thằng đầu bạc gội thử coi, sáng mai tóc xanh lại. Khỏi cần uống Hà thủ ô của
Cuốc Roanh Rượt Phẩm!
Tiếng cươì, tiếng chế diễu râm
ran cả lòng suối. Một tiếng nói oang oang dội lên:
- Đàn ông thì phải ở trên,chứ ở
dưới rồi làm sao mần ăn?
- Ở dưới thì phải ngoi lên.. hà
hà…!
- Các ông cứ ngoi lên thử coi
nào? – Một người trong phái yếu đáp lời sông núi – Tắm dưới các ông tụi tui
cũng rụng tóc, cũng mất đầu thai vậy! Bộ mấy ông là tiên hả?
- Tiên không tiên thì tục chớ
gì các bà ơi!
- Mà các bà muốn tiên hay tục?
Nè, tôi cho hay, tiên chỉ biết đánh phép, biết bay thôi chớ chẳng có được cái
tích sự gì đâu! Đừng có ham!
- Bây giờ mà có được một ông
tiên ở đây thì tôi ưng ngay.
- Để làm cái gì ba cái thứ đó?
- Để tôi bắt cõng tôi và vác
ba-lô tôi bay cho mau vô tới trỏng.
- Tui cõng được không? – Một
ông đứng gần đó ra miệng – Tui cõng có lợi hơn tiên. Há há há !
- Thôi chị ơi, đừng có đấu khẩu
với mấy ông đó.
- Bộ sợ hả?
- Sợ gì mà sợ ?
- Không sợ thì đấu thử một trận
coi ! Hà hà….
Một bà sồn sồn nguýt và nói to:
- Đuổi ruồi còn không nổi kia,
đòi đấu.
- Đuổi ruồi không nổi chứ đấu
thì hăng lắm ! Không tin thì cứ làm giao kèo. Hễ tôi thua thì tôi cõng đằng ấy
và vác luôn ba-lô vô tới Bà-Rịa, còn nếu đằng ấy thua thì tính lẽ nào?
- Thôi mấy cha ơi, đừng có nói
xầy, về tới trong Nam gặp bả rồi tha hồ đấu. Tôi sợ e chừng đó lại than xin xỏ
đầu hàng chớ!
Mấy nàng trẻ cúi gầm giặt giũ
nhưng tai thì dường như lắng nghe. Đói khát, nhưng ai cũng thích những chuyện
trần tục đó cả. Nhờ vậy mà buổi tắm tập thể có vẻ lạc quan yêu đời và rất “biện
chứng nói bá láp”.
Mấy chàng trai thì vừa tắm vừa
liếc những cặp đùi trắng lộ ra dưới nước, những bộ ngực vun lên sau làn áo ướt,
những làn cong được phô diễn rất đầy đủ và những “ưu” điểm những “khuyết” điểm
cũng được trông thấy lồ lộ hơn. Để che mắt sói đói, những cô những bà quây
phòng thay quần áo bằng những tấm ni-lông. Vì không có trụ cột nên bốn người
căng bốn tấm ni-lông đứng bốn phía cho một bà chui vào. Khi bà xong xuôi thì
trở ra làm nhiệm vụ dừng vách cho mỹ nhân khác vào thay xiêm y.
Cứ thế cho đến hết một nhóm.
Sáng kiến này được áp dụng cho phía nữ một cách mỹ mãn.
Bọn nam giới ngó lom lom nhưng
mắt đâu có xuyên được ni-lông. Mặc dù vậy vẫn cứ ngó cho đỡ ghiền. Ngó và tưởng
tượng. Mười năm ở Miền Bắc chẳng hoạt động gì được nên rất khao khát của trời.
Mong thấy mặt “cụ Đề” được chút tí thôi thì cũng bằng uống một củ sâm Triều
Tiên.
Bỗng có tiếng cười ré lên.
Mỗi người mỗi giọng, mỗi kiểu,
mỗi tình cảm.
Số là một cô đang cầm ni-lông
căng ra bỗng vuột tay. Tấm ni-lông bị rơi xuống một góc. Bà hoàng hậu ở trong
cung bị phô bày trọi lỏi từ đầu đến chân không thiếu chỗ nào. Bà hoảng hốt la
ré lên. Mấy cô kia yếu bóng vía nghe tiếng la thì tưởng là rắn rết hay có
chuyện gì nguy hiểm bèn nhảy cà tưng, cô thì buông ni-lông, cô thì chạy vọt qua
tránh né. Bà hoàng hậu đứng giữa bốn bức tường sụp đổ bị cả chục cặp mắt xoi
mói từ bốn phía. Bà hoàng chạy loạn như đạp lửa và giật một tấm ni-lông quấn
quanh mình.
Đáng lẽ thẹn thùng trước cái
tai nạn hiếm có đó, bà hoàng lại vui vẻ và cười như nắc nẻ, đấm vào lưng mấy cô
bạn thùm thụp:
- Bây hại tao ! Bây hại tao !
- Cho người ta coi chút, mất
màu sao mà sợ.
- Ừ tới phiên bây, tao tốc màn
lên cho thiên hạ xem
- Tốc màn lên thì phải bán vé.
Hay cho coi khôngl’- Một người đàn ông lên tiếng.
Cả bọn cười rộ lên. Một người
đàn bà gắt: .
- Các ông lúc nào cũng như cọp
đói rình mồi ấy. Chờ người ta sơ hở một chút là chọc ghẹo.
- Chọc thì chọc thẳng vô chớ ai
có ghẹo mần chi cho mất công!
Từ đó tới mãn cuộc, bọn đàn ông
không có gặp cơ hội may mắn nào để xem “u khuyết” của đối phương nữa.
Tắm xong, tôi mang tất cả đồ lề
lên tìm chỗ mắc tăng giăng võng. Vì không có Hoàng Việt nên tôi không hợp tác
xã với ai được. Nếu để ba-lô xí phần giành chỗ như người ta giành chỗ ở chợ
trời, thì đi tắm lên, cái ba-lô sẽ không còn ở chỗ đó nữa. Chủ nghĩa Mác Lê
không có chương mục nào dạy thuỗn đồ đạc của đồng chí nhưng vì thiếu thốn quá
nên tay chân sanh ra quơ quào.
Khi tôi lên bờ tìm chỗ mắc võng
thì rừng đã kín đặc. Những đoàn vô trước, đến đây thì ùn lại không đi vô được
nữa. Đang bực mình thì người ở ngoài lại đùn vào. Họ đang bực lại càng thêm
bực. Sự ứ đọng này có lẽ do trận phục kích mà hậu quả là ông tham mưu trung
đoàn ngồi trên máy bay loa ong ỏng xuống đất hôm nọ.
Loay hoay một hồi rồi tôi cũng
tìm được một chỗ. Tuy không như ý lắm nhưng phải chấp nhận, cũng như mười năm
qua ở Miền Bắc không có một người Nam Bộ nào như ý về bất cứ vấn đề gì, nhưng
họ vẫn phải chấp nhận để sống chờ ngày về nước.
Vấn đề lớn nhất của mọi người
trong chuyến này là gạo ướt. Ở trạm vừa rồi, những người đi Ông Cụ như chúng
tôi được lãnh mười sáu kí lô. Chúng tôi ăn xài đổi chác cũng hết một số kha
khá. Còn lại thì cộ theo mình. Bây giờ ướt hết vì mưa. Không biết làm sao ăn
cho hết cả chục kí gạo còn lại kia. Nhưng nếu để cách đêm thì nó sẽ thối ra
không ăn được nữa. Đang thừa mứa bỗng nhiên thiếu thốn. Tôi bèn trải ni-lông và
trút cả chỗ gạo ra, banh mỏng để cho nó mau khô.
Vô lý thật. Mới ở chặng rồi,
nghe ông Mặt Sắt khiển trách ông Tư lệnh Khu 4 không bảo vệ nổi hai tàu gạo để
phản lực Mỹ đánh chìm. Cho không cũng chẳng ma nào dám lặn mò. Ở đây chẳng ai
cần lặn mò nhưng vẫn có thừa gạo mà không biết làm sao tiêu thụ. Dưới sự lãnh
đạo anh minh của bác đảng, xảy ra toàn những sự vô lý.
Mắc võng qua loa xong tôi bèn
bày ra nấu cơm. Tôi thấy cô đơn chết người đi được. Chưa bao giờ tôi phải sống
một mình, chung quanh không có bè bạn, như thế này. Nói chuyện với một người
bạn là một nhu cầu không thể thiếu, nhất là trên đường này. Mỗi buổi chiều hạ
trại, chúng tôi đều đấu mép, pha trò, chọc ghẹo nhau vang trời. Như thế cũng đỡ
mệt.
Chiều nay người bạn cuối cùng
của đoàn cũng đã rời tôi . Tôi nhóm lửa mà bụng cứ nhớ Hoàng Việt. Không biết
ông bạn nhạc sĩ bây giờ ở đâu. Đang đi patin hay làm trò xiếc ôm gốc cây trên
dốc xuống?
Không còn một thứ gì còn khô
trong ba-lô. Sau khi soạn tất cả đồ đạc ra tôi phát rầu. Bao nhiêu hình ảnh kỷ
niệm, mặc dù đã gói hai ba lớp cất trong ba-lô cũng ướt, nói chi đến những vật
cất trong bóp bỏ ở túi quần. Lết rách cả đáy quần thì hình ảnh nào còn được .
Sau bao nhiêu trận mưa và lần lấy thủy làm bộ, các tấm hình đã chớm tróc. Đến
phen này thì gỡ đến đâu rách đến đó. Tất cả chỉ còn là những tấm giấy trắng
loang lỗ bông hoa trắng trắng đen đen không còn rõ ai là ai nữa.
Trong một cái gói khác, tôi moi
ra đôi giày trẻ con nhỏ xíu như hai đóa hoa huệ.
Bất giác tôi kêu thầm một
tiếng, không biết tiếng gì, nhưng là tiếng đau đớn nhất. Vết thương quá sâu bây
giờ mới bắt đầu chảy máu, máu từ tim tôi tóe ra.
- Phương!
Quần áo ướt, võng chăn ướt, gạo
ướt, bây giờ đến lượt tâm hồn ướt và nát ra từng mảnh vụn như chiếc bánh tráng
bị nghiến dưới sức bóp của một bàn tay thô bạo. Một cái thằng Tôi như thế đó !
- Phương !
Đây là đôi giày trẻ thơ, nàng
đã trao cho tôi và thầm thì: “Em muốn có với anh một đứa con ! Giày của con
mình đấy!”
Tôi cất từ bấy đến nay không
lần nào giở ra xem lại, kể cả những lần đồ đạc ướt hết tôi cũng chỉ phơi rồi
ngó phớt qua chứ không cầm lên săm soi như những món đồ thân yêu khác trong
ba-lô. Ấy vậy mà đôi giày ấy lại là kỷ vật thân yêu quí giá nhất của tôi. Tôi
không dám nhìn nó là vì mỗi lần trông thấy nó tôi đau buốt tâm can, là vì tôi
thấy hi vọng của chúng tôi như tan vỡ hoàn toàn kể từ khi nàng gục đầu vào cội
cây ở ngả rẽ xuống Bác Kế mà khóc như rung chuyển cả đất trời.
Bây giờ thì cái hi vọng ấy mới
thật tan vỡ hoàn toàn: Phương đã nằm dưới bao lớp đất. Một người con gái xinh
đẹp mơn mởn đào tơ duyên dáng và tài hoa như vậy bỗng nhiên vùi xác giữa rừng
không cho cái gì cả, chỉ vì một sự ngông cuồng của những thằng điên. Bao nhiêu
mộng tưởng, bao nhiêu lời âu yếm trong tim nàng chưa thốt ra cho tôi đều đã
chôn chật dưới kia rồi.
- Phương!
Bên cạnh đôi giày, còn có một
xấp thư của nàng gởi lén cho tôi lúc ở nhà trường. Chúng đã bị nhúng nước bao
nhiêu lần, chữ đã nhòe, giấy đã rách, tôi vẫn giữ nguyên, dù không có gì để
nhóm bếp. Tôi đã đốt cả bản thảo của tôi – bản thảo của tôi có đốt thì tôi viết
cái khác – còn chữ của nàng đốt đi ai viết lại được, cho nên tôi cứ giữ hoài,
những dòng chữ đã mất hẳn trên mặt giấy nhưng còn in mãi trong đầu tôi, trong
tim tôi. “Anh ơi ! Em cảm thấy như đời em thuộc về anh hoàn toàn. Anh đi đâu
thì em đi đấy. Nhưng không hiểu tại sao người ta chia rẽ chúng ta. Đất nước ta
bị quân thù chia cắt còn chúng ta yêu nhau, sao ai nỡ tách làm đôi …! Người ta
ký lệnh cho anh đi một nơi, em một ngả…”
- Phương !
Em chẳng bao giờ còn nói được
tiếng nào nữa. Em chẳng bao giờ còn viết được chữ nào nữa mà sao tai anh vẫn cứ
như nghe em nói, mắt anh vẫn cứ như đọc chữ em viết.
Nước mắt ràn rụa. Tôi không còn
thiết đến gà-mèn cơm đang sôi sùng sục trên bếp nữa. Tôi leo lên võng nằm.
—>Chương 16
- 16 -
Trời ơi! Tôi mới biết cái lạnh
ở đây là cái lạnh gì. Quần áo ướt, chăn võng ướt và tâm hồn lạnh cứng. Tôi liệm
tâm hồn và thể xác tôi vào cõi băng giá mênh mông.
Con đường này không những là
con đường đau ốm bệnh tật đói khát nhọc nhằn mà còn là con đường dày vò, khổ ải
, tinh thần rẽ phân, ly tán. Nó chưa xóa được những giọt nước mắt chia ly của
tập kết giờ nó gây ra những vĩnh biệt ác độc hơn.
Người với người là đồng loại
cũng như thú vật với thú vật là đồng loại.
Người cùng một dân tộc là đồng
bào. Người cùng đảng phái là đồng chí.
Nhưng khi người nắm được quyền
bính trong tay thì người quên mọi điều cao cả, người quay trở lại ăn thịt đồng
loại, đồng bào và đồng chí của người. Chữ “người” này có lẽ phải viết hoa.
Tôi giật mình thức dậy không
biết do mùi cơm khét hay do chiếc võng bị lắc. Có lẽ cả hai.
- Mơ tiên dữ hả mậy?
Tôi mở mắt và nhận ra Cao, anh
bạn nhạc sĩ trong đoàn Văn Công phục vụ đường dây tôi gặp hôm trước.
- Mày đã vô đây rồi à? – Tôi
hỏi.
- Hai ba ngày rồi.
- Đi đường nào, sao tao không
thấy?
- Tao cũng không biết đường
nào, người ta biểu đi thì đi, biểu đứng thì đứng, biểu hát thì hát, biểu đừng
hát thì giữ miệng câm. Biết cái gì là cái gì đâu !
- Hát xướng gì ở đây chưa?
- Không dám hát. – Cao nhìn tôi
rồi tiếp – ướt hết hả?
- Nhúng trong nước, khô sao
được..
- Để tao về lấy quần áo khô cho
thay, mặc đồ ướt cảm chết.
- Biết chừng nào giao liên cho
đi mà cho mượn!
- Còn lâu ! Cứ tin tao đi ! Tụi
nó nhét nút bịt kín rồi , đường đâu mà đi ! – Nói vậy rồi Cao quay đi nhanh.
Chập sau trở lại với quần áo
trên tay và… một ông bạn.
- Mày biết thằng nào đây không?
Tôi nhìn thằng người kia một
thoáng mới nhớ ra.
- Mày cũng đi nữa à? – Tôi gắt
yêu.
- Cả hai vợ chồng ! Thế mới độc
đáo !
Anh chàng kia là dược sĩ. Anh
ta làm ở Quân y viện Cần Thơ hồi kháng chiến chống Pháp. Tôi và Cao thỉnh
thoảng ghé qua được nó bê cho một chai nhau ngâm mật ong để tẩm bổ hoặc khi có
cấy Phì-la-tốp (là nhau khô,
rạch da, cấy vào, nghe nói tăng “sức bật” dữ lắm nhưng tôi ớn quá không cấy lần
nào. Ông nhà văn Sơn Nam có viết một bài tuyên truyền cho môn thuốc này tựa là
“Rủ nhau đi cấy” đăng ở báo Kháng Địch khu 9) thì cho hay để đến cấy.
Tên nó là Vân, nhưng tên khai
sanh của nó là Quách Tích Hích. Bọn tôi gọi nó là Chệt lai, bi phê bình mất
đoàn kết Hoa Việt, vì nó là cháu bác Mao lẫn bác Hồ.
Cao bảo:
- Thôi dẹp ba cái chòi trại của
mày, quảy tất cả lại đằng lều họ Quách, ta liên hoan đồng hương một bữa !
Cao vừa nói vừa quơ quào mọi
thứ đồ đạc và lôi tôi đi mau mau.
Vừa đi, Cao nói:
- Mày có tưởng tượng rằng nó
“vào” rồi lại trở ra cõng vợ nó vào luôn không?
- Trời đất ! – Tôi kêu lên và
quay lại nhìn Vân.
- Tao không có sáng tác đâu ! –
Cao tiếp – Nó đi trước mày mà. Rồi trở ra Hà Nội rước vợ vào đấy. Không tin mày
lại đằng đó coi có bà Phụng hay không.
Chúng tôi tới gần lều thì Quách
kêu:
- Phụng ơi, Phụng, có người
quen tới nè!
Một người đàn bà từ trong chiếc
lều “kín cổng cao tường” ló mặt ra hỏi:
- Ai đó?
- Không nhìn ra ai hả chị ?
Phụng chớp chớp mắt giây lâu
rồi kêu lên:
- Anh Xuân Vũ hả ?
- Chớ còn gì nữa! – Vân nói –
Nó đi lạc đường em ạ!
Cả ba cùng vào lều, một cái lều
khác hắn lều Trường Sơn. Nó có vách che bốn bên nhưng cũng đều bằng ni-lông.
Tuy bằng ni-lông vẫn còn hơn trống rỗng trống lơ như lều của bọn này, nằm trong
lều mà tưởng nằm giữa trời.
Tôi buông đại đồ đạc gạo thóc
ba-lô xuống đất. Cao bảo:
- Đi thay quần áo đi cái đã !
- Nó có sốt không? – Vân hỏi-
Có sốt tao cho uống thuốc ngay cắt cử cái một.
Tôi như người té dưới sông vừa
được vớt lên. Tôi xách bộ đồ quân sự của Cao ra rừng thay rồi vào nhanh. Tôi
ngó quanh quất cái lều rồi nói:
- Bộ muốn trụ hình ở đây luôn
sao mà làm nhà kỹ vậy.
- Ở đây có hai tuần lễ rồi !
Đường kẹt nặng. Đơn vị đi trước mình bi phục kích. Nghe nói ông trung đoàn phó
hay tham mưu trưởng gì đó bị bắt.
- Tao có nghe máy bay loa! –
Tôi cứ nhìn ngó chiếc lều hoài – ấm quá!
- Nó có kinh nghiệm lần vô
trước nên kỳ này nó cải tiến cái lều bảnh quá mày thấy chưa? Có vách hẳn hoi.
Mưa gió đâu có tạt. Ngủ như trong nhà.
Tôi chưa từng biết ai khỏe
mạnh, siêng năng, tĩ mỉ và cưng vợ như cái thằng dược sĩ này. Hồi ở trong Nam,
nó có chiếc ghe tam bản nhỏ có hai tấm rèm dựng lên xếp xuống. Đó là cả cái
giang san của nó. Nó không khi nào ăn cơm cơ quan. Bao giờ cũng ăn riêng hai vợ
chồng hoặc trên nhà dân hoặc dưới ghe. Cơm kháng chiến đạm bạc nhưng rất tươm
tất. Thỉnh thoảng đi ngang qua Y viện của nó ở Vườn Cò, bọn tôi thường tắp lại
ghe của nó để ăn cơm. Không có gì, ăn cũng ngon nhờ nước mắm tỏi ớt, củ cải
muối hoặc tương nếp do chị Phụng sáng tạo. Ăn xong nấu trà uống, nói dóc một
hồi cho tiêu cơm rồi đi.
Mỗi khi cơ quan di chuyển, nó ở
trần trùi trụi vác hết thùng đồ này tới thùng đồ khác chèo ghe chất đầy đồ đạc
của Viện tới địa điểm mới rồi trở lại rước vợ. Không bao giờ nó để vợ chèo một
phút. Con hai đứa, đứa gởi về ngoại nuôi, đứa giao cho nội giữ. Hai vợ chồng đi
kháng chiến một cách thong dong và hồn nhiên.
Bây giờ gặp lại nhau ở giữa
rừng núi này quả là hạnh ngộ. Tôi nói với chị Phụng về tình trạng gạo của tôi.
Chị Phụng đưa sáng kiến ngay:
- Lỡ xuống nước rồi, anh có
phơi cũng không ăn được trừ khi anh nấu liền nó mới không hôi. Chỉ có một cách
là ngâm luôn rồi xay bột.
- Nhưng lấy gì mà xay?
Đang bàn việc xay gạo bỗng Cao
kêu lên:
- Ông Hoàng Cò đâu rồi ?
- Tụt hậu hồi ở nửa đường!
- Rồi sao? Không ai vớt ông hết
à?
- Tao đang đi bỗng quay lại thì
không thấy ảnh nữa. Mấy người đi phía sau bươn lên nói là ảnh tuột biệt đằng
sau. Trời mưa tầm tã. Tao đâu có sức mà trở lại tìm, còn nếu ngồi lại chờ thì
sợ lạc đường ma dắt vô bụi cho ăn đất sét bỏ mạng!
- Mày không báo cáo với giao
liên à? – Cao gặn hỏi.
- Báo làm mẹ gì. Chân thằng nào
thằng ấy đi. Nó có dư chân cho mình đâu mà báo cáo.
- Hoàng Cò là ai ? – Vân hỏi.
Tên gì lạ hoắc vậy.
- Hoàng Việt đó! Tụi tao nói
“cò” cũng như “diệc,” kêu bằng Hoàng Cò nghe vui hơn. ..
Vân kêu lên:
- Hoàng Việt hả? Trời đất ! Ổng
ốm yếu vậy mà cũng lội vô đây à?
- Ốm cũng đi. Xa bà xã đã hai
chục năm rồi đó mày .
Vân đưa tay vẹt tấm vách ni
lông ngó trời rồi nói:
- Bây giờ còn sớm, để tao đi
rước thằng chả coi. Bỏ “chả” dọc đường cọp tha uổng cái “Lá Xanh” chớ tụi bây!
- Lá xanh ăn nhằm gì, Đại hòa
tấu Giao hưởng kia đấy !
- Thôi, tụi bây ở nhà lo cơm
nước, tao đi chút coi.
- Cứ đi theo dấu bùn nát nhừ là
gặp ổng thôi. Bây giờ ổng giỏi lắm là đã lên tới đỉnh dốc. Mày mang ba-lô dùm
cho ổng thì ổng bay nhẹ thôi.
Vân nai nịt gọn gàng, lưng đeo
súng lục đi nhanh như chạy.
Tôi và Cao đứa đi “túm” nước về
ngâm gạo, đứa đi tìm củi nấu cơm. Trong khi chị Phụng soạn thức ăn. Cao lo nấu
cơm còn tôi bỏ gạo vào bọc ni lông nước buộc túm lại và để vào một hốc đá, một
kiểu ngâm gạo mới phát minh.
Tôi bỗng nhớ lại tất cả cái
sinh hoạt kháng chiến của chúng tôi. Vô tình hôm nay là buổi họp của những cựu
học sinh đi kháng chiến cùng một lúc.
Tôi buột miệng hỏi:
- Chị có cho thằng “kỹ sư súc
vật” hay trước khi đi không chị ?
(Lối xưng hô của chúng tôi hơi
kỳ cục, gọi chồng thì bằng thằng mà gọi vợ lại bằng chị)
Chị Phụng nói:
- Trước khi đi anh Vân có cho
ảnh biết, để ảnh tiếp thu “tài sản” của chúng tôi.
- Coi bộ cái “nghề chăn bò” của
nó không khá lắm. Có lần nó mời tôi sang uống sữa trâu của sở nó, ý nó muốn tôi
viết bài tuyên truyền sữa trâu ngon và bổ hơn sữa bò Hòa Lan.
- Sao tôi không thấy bài đó
trên báo?
- Tôi có viết đâu mà chị thấy
được. Nó pha cho tôi một cốc tôi hớp một hớp ngậm hồi lâu mới trợn trắng lên mà
nuốt. Tanh bỏ mẹ. Vì tình bạn, nếu không tôi phun ra ngay!
Chị Phụng nói:
- Ảnh có đem cho anh Vân một
bình để nhờ anh Vân phân chất.
- Ông dược sĩ phân chất thấy
chất gì trong đó ?
- Tôi không nghe kết quả, nhưng
chắc không khả quan lắm nên ảnh im luôn.
- Hắn đi tập kết bỏ vợ ba con ở
lại. Vào lứa tuổi tôi ai cũng vợ con đùm đề, chỉ mình tôi là còn độc thân. Khi
ra Hà Nội, gặp tôi, hắn mới tỏ ra ân hận chị ạ!
- Ảnh sang tôi chơi lần nào ảnh
cũng than. Ảnh nói với anh Vân một câu, tới bây giờ tôi còn nhớ: “Muốn mau thống nhất bắt vợ con
mấy thằng trung ương đem vứt vô Sàigòn hết cả thì có kết quả ngay!” Anh Vân hỏi tại sao vậy, ảnh nói: “Có thế thì chúng nó mới điên tiết
lên! Chứ còn để chúng bữa nào cũng ăn ngon rồi vợ sẵn bên đó, còn “thống” cái
giống gì kia chứ. Muối xát lòng ai nấy xót. Phải không ? ”
Tôi hỏi:
- Không biết nó có xin về nước
không?
- Vợ ảnh ra được rồi.
- Trời đất! Làm sao mà ra?
- Ảnh có đưa mấy đứa nhỏ và chị
ấy sang thăm vợ chồng tôi. Chị thuật lại chuyện đi gian nan lắm. Trước nhất
phải lén đi lên Cao Miên, ở Cao Miên đi làm thuê làm mướn hai ba năm rồi mua
giấy căn cước sao đó, lẹo tẹo ớn lắm mới đi từ Cao Miên ra Hà Nội.
Cao nói:
- Bây giờ thì nó cũng hết cần
thống nhất rồi. Vì nó đã “thống nhất với vợ nó” rồi. – Cao tiếp- Nè, ông bác sĩ
Cư nhà mình ra Hà Nội rồi đâu biệt tăm chị Phụng?
- Ông Trung, ông Thành, ông
Nghiệp còn lặn mất tiêu, ông Cư ăn nhằm gì ! Ông Thành thì đi học Liên Xô, ông
Trung thì làm bác sĩ ở tỉnh nào đó, còn ông Nghiệp thì làm Ủy viên trung ương
đảng Xã hội, anh không biết à?
- Có biết chớ! Tôi có gặp ổng
xếp hàng đi ăn cơm ở hợp tác xã sau lưng Mậu dịch Quốc doanh ăn số 1 ở Tràng
Tiền.
Chị Phụng lắc đầu khe khẽ:
- Mấy ông lớn trong mình ra
ngoài này lu mờ quá!
- Lu mờ gì. Tiêu tùng hết ráo.
– Tôi xen vào – Hồi kháng chiến, ông Nghiệp từ Bắc vô Nam với chức Tổng Thanh
tra Quân y Toàn quốc, oai như trời, đi đâu tiền hô hậu ủng rầm rầm. Ổng mở lớp
đào tạo y tá sáu tháng ở tại nhà tôi chớ đâu. Tôi ghét nghề thầy thuốc nên
không học.
- Anh Vân đã từng làm ở quân y
hồi các ông Bờ ông Thầm cưa tay chân thương binh bằng cưa thợ mộc. Công của ảnh
đóng góp cho nghề biết bao nhiêu, thế mà ra Bắc cũng chỉ lãnh chức Phó. Ảnh
chán ảnh mới ghi tên xung phong về xứ. Ảnh nói về trong mình kháng chiến như
hồi trước vậy mà vui hơn. Ra Bắc bon chen ganh tị ti tiện qua. Cục muối chia
hai, cục đường nuốt hết. Biết vầy ai có mong kháng chiến thành công làm gì để
đi tập kết ly hương.
Kể đến đây, chị Phụng lại hỏi
tôi: .
- Anh Hoàng Lưu bệnh sao mà
chết ác vậy anh ?
- Nó đau gan lâu rồi. Vì ở
riêng và bị chảy máu nội tạng không ai hay.
- Ảnh có con chưa ?
- Lúc tập kết thì vợ có thai.
- Vậy mà cũng đi !
- Hai năm về mà chị! Không nhớ
mình giơ hai ngón tay lên để từ giã đồng bào ở bến Chắc Băng à?
- Trong lúc tụi Tây ngồi trên
mui tàu há mồm thì xòe hai tay và giơ cả hai cẳng. Nghĩa là hai chục năm !- Cao
tiếp – Tụi đế quốc nói ẩu vậy mà hổng chừng đúng đó ! Mười năm rồi! Mười năm
nữa là tiêu tùng hết ráo! Mại dô!
Tôi thở dài:
- Tội nghiệp chị Kim Minh vợ
thằng Hoàng Lưu! Có lẽ bây giờ chị cũng chưa biết chồng chết. Chậc ! Gia đình
nó có một mình nó. Lúc bà già nó vô cưới vợ cho nó, tôi có gặp bả. Đám cưới nó
ở Phú Hữu, tôi có dự.
Ba người im lặng một hồi như để
cho dĩ vãng tươi đẹp hiện lên rõ hơn.
Bỗng chị Phụng nói:
- Còn anh, tính sao?
- Tính sao gì, chị ?
- Ai cũng vợ con cả rồi. Anh từ
Nam ra Bắc, từ Bắc về Nam vẫn cứ chân không hoài à?
- Ngán ngẩm lắm chị ơi ?
- Người ta còn đợi anh kia kìa!
Tôi quay sang chuyện khác. Tôi
hỏi Cao:
- Sao mày biết tao vô đây mà
tìm, hay mày chỉ đi hờ cơ rồi gặp tao?
- Mấy cha quân sự đi lậu mách
cho tao. Họ quen mặt tụi tao quá mà. Ông Trữ, ông Mật và ông Quý đóng quân ở
vùng Thọ Xuân Bái Thượng chớ đâu. Các chả nói có gặp mày nằm ở trạm ngoài. Tao
chắc thế nào mày cũng vô đây. Hễ có đoàn vô thì tao rảo đi kiếm.
- Vậy hả? Mấy chả đâu hết rồi ?
- Cũng lẩn quẩn đâu đây thôi.
- Các chả đi lậu đó nghe !
- Nhiều thằng được gọi tên đập
bệnh để ở lại, mấy chả đi lậu là sao?
- Mấy chả bị phân công xuống
Bác Kế!
- Thế à? – Cao nhảy dựng lên –
Cái gì quái gỡ vậy?
- Mấy chả không xuống đó mà đi
thẳng. Trạm có xét giấy sơ sơ… ăn thua gì. Chẳng thằng nào vuốt nhớt được mấy
chả hết.
Chị Phụng trở lại chuyện lúc
nãy:
- Anh Cao chờ đón anh ở trạm
này rất có ý nghĩa đấy.
- Thì để nói chuyện khào chơi
cho đỡ buồn. Ngoài ra nó còn nhờ tôi đem thư và hình về cho… con nó ở Cần Thơ
- Hình cho con chứ không cho
chị Tuyết Hoa à?
Cao nháy tôi. Tôi nhanh miệng
đáp:
- Hồi chưa có con thì nhớ vợ.
Có con rồi thì nhớ con. Cho con cũng là cho vợ chứ gì, chị!
- Anh Cao có con chín mười tuổi
rồi, còn anh, anh không lo cha già con muộn hay sao ?
- Đã muộn rồi, cho muộn luôn.
- Ai nói như anh vậy. Phải vớt
vát lại chứ. Ông già bà già mong có cháu bồng. Bộ anh bị dính gốc rau muống rồi
hay sao?
- Tôi tuốt bỏ hết cả không có
dính rau dính cà gì hết. Đi là đi, nhẹ như không!
- Nếu có người ta chờ anh thì
sao?
- Ai mà chờ tôi ?
- Vậy mà có mới lạ chứ!
Lúc nãy khi chị vừa gợi ý thì
tôi đã ngửi thấy vấn đề nên đánh trống lảng ngay, bây giờ tôi nói thẳng:
- Chuyện đó hãy quên đi cho rồi
chi ạ !
- Anh có quên thật không kia
chớ!
- Chị có nhắc thì tôi mới nhớ!
Nếu không tôi đã quên, quên lâu rồi.
- Anh quên nhưng người ta không
quên.
Tôi biết là chị muốn nối tôi và
Nguyệt lại với nhau. Chắc là Cao gặp chi ở đây đã thuật lại đầu đuôi sự phản
ứng cửa tôi ở trạm ngoài. Hắn nhờ chị tiếp tay. Nguyệt cũng là người cùng cơ
quan Y viện của chị. Lúc đó tôi theo bộ đội tìm đề tài “trong máu lửa” nên bị
thương. Vào y viện mổ lấy đạn. Nguyệt và tôi quen nhau vào dịp đó. Chị là xếp
của Nguyệt. Chị đã tạo cơ hội cho chúng tôi gặp nhau. Ra Bắc khi nghe chúng tôi
tan vỡ, chị có rầy Nguyệt, nhưng lúc đó vấn đề lập trường giai cấp và tự ái cá
nhân là tối thượng. Tôi chẳng chịu xuống nước năn ni còn Nguyệt thì tự ti về
thành phần bóc lột. Do đó chân ai nấy bước.
- Bây giờ nó ăn năn rồi anh ạ,
anh cũng nên thấy sự tiến bộ của nó chứ.
Cao vọt miệng:
- Tóm lại là nó còn yêu mày !
Nó muốn gặp mày để nói cho mày nghe mọi chuyện. Mày không nên quá khắt khe!
Trời tối mịt hồi nào không hay.
Mải mê ôn lại chuyện cũ mà quên cả bước đi của thời gian.
- Chắc anh Vân đã tìm được anh
Hoàng Việt rồi – Vừa nói, chị Phụng vừa khoác tấm ni lông nhìn ra rồi lấy đèn
pin xẹt ra ngoài.
Thì đúng y như thần linh độ
mạng. Có tiếng kêu to:
- Tụi mày ơi ! Hoàng Việt đây
này !
Chị Phụng đưa đèn cho Cao.
Chúng tôi chạy ra. Trong vệt sáng xanh lét tôi thấy một cây cột bùn đang di
động về phía chúng tôi.
- Tôi kêu lên “Anh Bảy” – rồi
chạy nhào tới ôm lấy Hoàng Việt.
Vân nói:
- Tao thối chí muốn trở về rồi,
may sao tao còn ráng đi thêm một chặng nữa…
Cái lều trở nên nhộn nhịp rối
rít tiếng người nhưng không chật chội.
Hoàng Việt ngồi phệt xuống đất,
hai chân duỗi thẳng. Vân bảo như ra lệnh:
- Nhúng khăn ướt lau sơ thay
quần áo, rồi cho ảnh lên võng nằm đắp chăn nghỉ trước đã. Không cho ăn gì bây
giờ cả. Không ai hỏi han gì. Để cho ảnh ngủ một giấc. Thức dậy sẽ tính tới. –
Vân vừa nói xong thì chị Phụng cũng vừa đưa bộ quần áo khô cho Hoàng Việt.
Hoàng Việt ra ngoài thay rồi
trở vào. Vân trỏ chiếc võng của chị Phụng vừa mắc xong:
- Anh lên võng ngủ đì. Bất cần
đời nghe !
Hoàng Việt ngã đánh vật lên
võng, chỉ nói một câu:
- Tao đã định ngủ lại giữa
đường rồi tụi mày ạ !- rồi lịm luôn. ..
- Mấy thằng giao liên ác thiệt
! – Cao buột miệng nói – Bỏ con người ta như thế à?
Tôi nói:
- Chớ mày bảo nó làm gì bây
giờ? Có nó dắt tới nơi là quí lắm đó.
- Ở đâu cũng thế hay sao ?
- Khác thế nào được. Ác là cái
thằng nào tổ chức con đường này này! Đến nỗi anh Sáu còn bật ngửa ra. Chính ảnh
cũng không ngờ đường đi lại tệ hại như thế này mà.
- Ủa, con nhỏ gì đi với mày ở
trạm ngoài đâu rồi ?
- Ông Mặt Sắt cho theo đoàn của
ổng rồi.
- Sao không thấy đi chung với
tụi tao?
- Có thể họ đi con đường nào
khác mày không biết. Tao nghe nói có nhiều đường lắm !
- Đường nào tao không biết chứ
con đường tụi tao đi diễn thì chết vô số kể. .
- Ai chết? Khách à?
- Lính công binh chứ khách gì !
- Đánh chát gì với ai mà chết?
- Đánh núi, đánh cây nên núi
đánh cây đánh lại. Một bãi chôn đặc những mả.
- Mày có hỏi thử dân Nam Kỳ
mình có nằm ở đó không?
- Toàn dân mình chớ dân nào
nữa. Ra đi bằng tàu, mở đường về bằng mìn. Ra tàu Liên Xô, về cỡi mìn cũng Liên
Xô. Ra an toàn, về tan xác. – Cao nói giọng chua chát – Bọn Nam Kỳ mình tưới
nước mắt ngập bến tập kết, bây giờ rắc máu xương mở đường về trên mỗi tấc đất
Trường Sơn . Đi trước về sau ! Vinh quang quá cỡ ! Đi cũng vinh quang mà ở cũng
vinh quang! Địt mẹ vinh quang một phát đi !
Tôi biết Cao trong mười năm
kháng chiến. Vợ con Cao toàn sống nhờ bên nhà vợ. Áo rách, xuồng nát, chèo gãy
mà đời vẫn như bay. Chưa bao giờ phàn nàn về nỗi nghèo đói.
- Thôi mày ơi! Mày có muốn về
thì trốn về, chớ cằn nhằn mẹ gì ! – Tôi nói.
Vân bật lên:
- Ừ đó, về với tụi tao đi ! Cái
thằng Xuân Vũ luôn luôn là vô kỷ luật. Nổi tiếng Hà Nội. Nhưng sự vô kỷ luật
của nó hình như đúng cả. Đấy, ý kiến của nó hay lắm. Hễ mày đồng ý, tao lo
trang bị cho. Thế là đi luôn với tụi tao!
- Trang bị gì ? Tôi hỏi .
- Thuốc men, đao búa. Tao có
sẵn cả. Nếu cần thì mầy lấy hết trang bị của vợ tao. Vợ tao với tao “hùn vốn”
xài chung. “Cùng chia sớt khi
cùng đói lòng, từng miếng khô từng vắt cơm” (*) mà mậy
(*) Một câu trong bài hát “Niềm
Thương Mến” của Xuân Vũ và Phan Vân, giải nhất Cửu Long 1950 trong Kháng chiến
Nam Bộ.
Tôi nói:
- Nó đi công tác trên đường này
thì trang bị cũng đủ hết cả, phải không Cao?
- Ngoài tăng võng ra thì thêm
một gói thuốc gồm có quinine, thuốc đỏ, thuốc rắn và một hộp muối ruốc chớ có
cái gì quí giá đâu!
- Tụi tao cũng chỉ có thế, thêm
một con dao trành bằm chớ có gì khác !
Vân nói:
- Vậy là đủ rồi. Ngoài ra tao
còn mười “em ngái” thồ cả tủ thuốc đi theo tao kia. Bảo đảm cho tụi bây không
chết vì sốt rét dọc đường.
- Đó là một ưu tiên “rỉ đại”
duy nhất đúng rồi, còn đòi gì nữa ?
Vân tiếp:
- Không tin tao kêu các em lại
đây trình diện cho chúng mày xem. Tao về trong đó làm xếp phòng dược của quân y
Nam Kỳ quốc mà ta.
- Ủa, leo lên được chức trưởng
rồi hả?
- Vô Nam khói lửa, Bắc kỳ nó
đùn cho mình, nên nó mới phong cho mình chức trưởng, chứ nếu còn ở ngoài đó thì
ôm cái phó cối muôn năm, đâu có leo lên nổi.
- Nói vậy sẵn “ổ” trong đó rồi
hả? Về cái là “đẻ” phải không?
- Tao lo đủ hết các thứ rồi. Hễ
về là… đẻ – Vân vừa nói vừa liếc vợ – Hả bà?
Phụng nói:
- Bỏ hai đứa nhỏ ngoài Hà Nội
em phát rầu đây nè!
- Thì chúng nó ở với cậu nó chớ
ai mà bà rầu. Lớn lên đứa đi Liên Xô đứa đi Đông Đức như con anh Hai Hùng anh
Ba Khiêm vậy. Tụi nó về làm thủ tướng bộ trưởng, con mình làm bậy phó phòng vệ
sinh trưởng ban ủ phân xanh thôi !
Tôi hỏi:
- Mấy đứa ở trong Nam lớn đại
hết rồi hả chị Phụng?
- Đứa mười bốn đứa mười sáu !
Con gái lớn, con trai thứ ba.
- Nhờ cậy được cả rồi ! À mà
ngoéo tay làm suôi với thằng Cao đi !
Cao không vui, nhưng cố gượng:
- Con trai tao còn nhỏ hơn.
- Thì kết bạn với con trai của
thằng Vân.
- Anh không lo cho anh đi! Về
riết để người ta cưới hết con gái ở trỏng – Chị Phụng nói – Hay là còn tơ vương
Hà Nội ? Anh mà khỏi, tôi thua luôn !
Bữa cơm ăn dưới đất nhưng trong
lều kín, ngon miệng vô cùng. Vân chơi sang treo ngược chiếc đèn pin. Ánh sáng
vòng tròn chụp xuống vừa đủ soi sáng mâm cơm.
- Không món gì có xương đâu mà
sợ – Vân nói – Ăn khô ăn hạn tạm bữa nay đi, sáng mai vợ tao nấu canh cho mà
húp!
- Còn ba cái gạo ngâm kia thì
làm sao ?
- Mày lo ba cái vụ sáng tác đi,
tao xay cho mà coi !
- Trên mười ký gạo đó nghe mày
! Trạm ngoài cho mỗi thằng lãnh mười sáu kí lô một phát.
- Ấy chết! Vậy vạch ba-lô của
Hoàng Việt ra coi có gạo không. Hay là ổng vứt rồi.
- Không dám vứt đâu! Ảnh bảo là
không biết chừng nào mới tới kho gạo, phải ăn tiết kiệm ! Vậy hồi cậu ngang
trạm đó, nó phát bao nhiêu?
- Mười hai ký.
- Mà nó có dặn ăn nhín không?
- Không dặn cúng phải nhín.
- Gạo không có cho lính, nhưng
chúng nó dư cho lợn. .
- Hả?
- Bác Mao bảo quản lý ba năm
đem chặt đầu. Quản kho ở Trường Sơn ba tuần đem treo cổ. Tôi nói – Tụi bây
không biết gì hết đâu. Tao đã từng đi ăn cướp gạo kia đấy.
- Ăn cướp ở đâu?
- Cách đây chừng vài trạm. Bộ
đội bị cúp gạo kéo đến kho bắt trói quản kho, khai kho cho lính lấy tha hồ.Tụi
mày biết không, chúng nó lấy gạo nuôi lợn và đổi chác các thứ với đồng bào
thiểu số.
- Có chuyện đó nữa à?
- Ôi thôi chỗ nào có cơ quan
chỗ đó có tham ô. Mày không nhớ vụ Cao Xà Lá à?
- Cái tụi ghê gớm thật.
- Tụi nào mà chẳng ghê gớm! Hễ
có quyền chức trong tay là ghê gớm cả. Ghê gớm nhất là cái bọn tham ô mà chẳng
ai dám nói năng gì, chẳng ai dám kiểm soát, cái bọn ăn xương uống máu cửa dân
mà lúc nào cũng bô bô cái miệng: của dân, vì dân, do dân.
Vân bỗng ngoặt ngang hỏi Cao và
chị Phụng:
- Ở nhà nãy giờ mày và vợ tao
có nói cái vụ con Nguyệt chưa ?
- Em nói rồi ! – Chị Phụng đáp.
Không đợi ai thêm câu nào, tôi
cười:
- Thôi được, gặp thì gặp nhưng
tao không hứa gì trước cả.
Cao cười. Vân và chị Phụng cũng
cười. Cao nói:
- Hội nghị Giơ-ne giải quyết
vấn đề chính ở ngoài hành lang với bộ râu của Mandes France mal rasée mày hiểu
không?
- Tao không hiểu gì cả? Nhưng
mày cứ kèo nèo hoài, biết đâu…
- … lại chẳng tốt cho mày! –
Vân tiếp.
- Ừ, anh đi gặp nó đi. Con nhỏ
đó dữ và khó tính lắm… Hồi nó ở chung Y viện với tôi, mấy cô phơi quần áo cùng
một sào với nó rồi hốt vô chung, nó lấy của nó ra sông giặt lại và phơi riêng
đó. Nó mà còn yêu anh và xuống nước như vậy là chuyện không hèn.
Để Hoàng Việt ngủ trong lều của
vợ chồng Vân, tôi đi theo Cao. Cao cầm cái đèn pin của Vân rọi đường cho tôi đi
Chị Phụng vén màn nói với theo:
- Ông mai ráng ăn cho được cái
đầu heo nghe !
- Đầu heo rừng chắc gặm rách
mép !
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét