TRẦN DẦN (1926-1997)
40 năm sau Nhân Văn, Trần Dần đã chỉ thấy những hòm bản thảo của
mình: 2/3 bị tiêu tán, mục nát, 1/3 còn lại bị kết án chung thân trong trạng
thái nằm. Vậy mà vẫn viết. Viết đều. Bởi ông cho rằng viết
hay ghi là phương pháp duy nhất nói chuyện với mình khi không thể nói
được với ai.
Từ 1958, "ghi trở nên một hình phạt", người
thanh niên 32 tuổi ấy đã bị"đòn ngấm quá cuống tim rồi".
Tác phẩm chịu chung số phận với người: gần 30 tập thơ, 3 cuốn tiểu
thuyết, và không biết bao nhiêu bản thảo đã bị mối mọt.
Trần Dần tên thật Trần Văn Dzần, sinh ngày 23/8/1926 tại Nam Định
trong một gia đình giàu có. Mất ngày 7/1/1997 tại Hà Nội. Đậu Thành Chung ở Nam
Định, lên Hà Nội học, đậu Tú Tài.
Tháng 11/1946, cùng với Đinh Hùng, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch[1]xuất
bản tạp chí Dạ Đài. Trên Dạ Đài số 1 ra ngày 16/11/46, công bố bản "Tuyên
ngôn tượng trưng" ký tên Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch.
Nhưng Đinh Hùng mới thực là "chủ soái", bởi thơ của cả nhóm: Trần Dần,
Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch, Nguyễn Văn Tậu, đều chịu ảnh hưởng Đinh Hùng.
Bài Về nẻo thanh tuyền của Trần Dần là một ví dụ, những
câu thơ mở đầu, đậm mầu sắc Mê hồn ca[2]:
Đời bỏ ta nằm dưới Thủy Cung
Mờ đi! ơi ánh nguyệt vô cùng
Hồn ta qua xứ ma làm loạn
Nên thác trong đường trận hỏa công [3]
Năm 1947, Trần Dần về Nam Định theo kháng chiến, ngành thông tin
tuyên truyền, và được kết nạp vào đảng ngày 19/8/1948[4].
Năm 1951, sau khi dự lớp Chỉnh huấn "có kết quả", Trần
Dần được giao việc huấn luyện đoàn Văn công quân đội. Nhưng vì "đả
kích cán bộ sáng tác" nên bị kỷ luật và bị chuyển về Tuyên huấn, làm
việc đến 1953[5].
Năm 1954 tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, viết tiểu thuyết Người
người lớp lớp[6]. Theo
Hoàng Cầm, đây là một ký sự được viết dưới dạng tiểu thuyết, có nhân vật binh
nhì tên là No, và nhân vật chính ủy chính là Trần Độ.
10/10/54 được cử viết thuyết minh cho phim Điện Biên Phủ, đi
Trung Quốc thu thanh. Bị chính trị viên Hoàng Xuân Tuỳ kiểm soát gắt gao. Bỏ về.
10/12/54 trở về Hà Nội.
24/12/ 54 bắt đầu tổ chức thảo luận đòi thay đổi chính sách văn
nghệ quân đội.
Tháng 2/55, Trần Dần viết bản Đề nghị Chính sách Văn nghệ.
Trong tháng 3 và 4/55, Trần Dần, Tử Phác tổ chức phê bình tiểu
thuyết Vượt Côn Đảo của Phùng Quán và tập thơ Việt Bắc của
Tố Hữu.
Tháng 4/55: Bản Đề nghị Chính sách Văn nghệ không
được Tuyên huấn thông qua.
23/4/55: Trần Dần quyết định viết đơn xin ra khỏi quân đội, và dự
định, đường cùng sẽ ra đảng, kết hôn với cô Bùi Thị Ngọc Khuê, bất chấp quân kỷ[7].
Tháng 4/55, Hoàng Cầm làm đơn xin ra khỏi quân đội.
16/5/1955: Trần Dần gửi đơn xin giải ngũ, ra Đảng. Hoàng Tích
Linh cũng xin giải ngũ[8].
13/6/1955: Tất cả các tổ Đảng ở Cục Tuyên huấn phê phán lá thư
xin ra Đảng và xin giải ngũ của Trần Dần là chống đối, phá hoại tổ chức Đảng[9].
13/6 đến 13/9 Trần Dần và Tử Phác bị cấm trại 3 tháng. Trần Dần
ghi trong nhật ký "Ba tháng bị giữ lại kiểm thảo", "Nọc bệnh:
anarchiste" "Khi xưa phản đối xã hội cũ bằng
symbolisme", "Bây giờ phản đối những cái sai trong lãnh đạo văn
nghệ bằng loạn ẩu". Trong thời gian bị cấm trại, sáng tác Nhất định
thắng, đưa cho Lê Đạt giữ[10].
21/6/1955: Trong vòng một tuần, chi bộ khai trừ Trần Dần và Nguyễn
Anh Chấn (Tử Phác). Riêng Tử Phác, bị đình chỉ công tác và sinh hoạt Đảng để kiểm
điểm[11].
Từ 3/11/55 đến giữa tháng 2/56 Trần Dần, Tử Phác phải
đi "tham quan Cải cách ruộng đất đợt 5" ở Yên Viên (Bắc
Ninh). Ông ghi lại bi kịch Cải cách ruộng đất trong nhật ký, với những
chi tiết, những con số, những màn đấu tố, những cảnh giết người.
Khi biên tập cuốn Trần Dần ghi, Phạm Thị Hoài cho biết,
chị chỉ mới đưa được một phần, phần còn lại sẽ dành cho cuốn sách riêng về Cải
cách ruộng đất. Nhưng cho tới nay, vẫn chưa thấy tác phẩm về Cải cách ruộng
đất của Trần Dần ra đời.
Cùng trong thời gian này, Hoàng Cầm và Lê Đạt tổ chức Giai
Phẩm Mùa Xuân, lên Yên Viên bàn với Trần Dần đưa bài thơ Nhất định thắng ra
in, Trần Dần đồng ý[12].
Cuối tháng 1/56 Giai Phẩm Mùa Xuân ra đời, bị tịch thu
ngay. Tháng 2/56 Lê Đạt bị Tố Hữu gọi tên tuyên huấn khiểm thảo 15 ngày. Tố Hữu
tổ chức đại hội Tuyên Huấn phê phán Giai Phẩm Mùa Xuân; ra lệnh bắt Trần Dần.
Trần Dần, Tử Phác bị bắt ở Yên Viên. Bị giam kín. Sợ bị thủ tiêu, Trần Dần lập
kế dùng dao cạo cắt cổ, được đưa vào bệnh viện. Ngày 21/2/56, Trần Dần viết lá
thư dài 15 trang, trần tình với tướng Nguyễn Chí Thanh[13].
Hội Văn Nghệ tổ chức phê bình Nhất định thắng.
Ngày 7/3/56 Bắt đầu chiến dịch đánh Trần Dần trên báo với bài của
Hoài Thanh.
Ngày 5/5/56, Trần Dần được thả với điều kiện phải viết "một
bản kế hoạch sửa chữa sai lầm sáu tháng cuối năm". Sau đó được chuyển
sang Hội Văn Nghệ[14].
Từ tháng 8/56, tham gia NVGP và bị kỷ luật cùng điều kiện với Lê Đạt.
● Tác phẩm:
1946: Bài thơ Về nẻo thanh tuyền và Bản tuyên
ngôn Dạ đài.
Phạm Thị Hoài trong Trần Dần: cuộc đời, tác phẩm, thời đại[15] liệt
kê những tác phẩm sau đây:
1954: Anh đã thấy, Tiếng trống tương lai (trường ca).
1955: Cách mạng tháng Tám, Nhất định thắng (bản Hoàng
Văn Chí, in trongTrần Dần thơ, Nhã Nam, Đà Nẵng, 2007).
1957: Hãy đi mãi, Đi! Bài thơ Việt Bắc (trường
ca), (Hội Nhà Văn, 1991).
1959: Sắc lệnh 59 (thơ), Con tàu xã hội (thơ), 17
tình ca (thơ).
1959-1960: Cổng tỉnh (thơ), (Hội Nhà Văn, 1994).
1961: Đêm núm sen (tiểu thuyết).
1963: Jờ Joạc (thơ) (Trần Dần thơ, 2007).
1964: Mùa sạch (Văn Học, 1997), Những ngã
tư và những cột đèn (tiểu thuyết).
1965: Một ngày Cẩm Phả (tiểu thuyết).
1967: Con trắng (thơ văn xuôi) (Trần Dần thơ, 2007).
1968: 177 cảnh (hùng ca lụa).
1974: Động đất tâm thần (nhật ký thơ).
1978: Thơ không lời - Mây không lời (thơ - họa).
1979: Bộ ba: Thiên Thanh - 77 - Ngày ngày.
1980: Bộ ba: 36 - Thở dài - Tư Mã dâng sao.
1987: Thơ Mini (in trong Trần Dần thơ).
Nhưng bản kê khai trên đây chưa phải là tất cả, vì trong tuyển tập Trần
Dần thơ do Vũ Văn Kha biên tập, cho biết: "phần lớn di cảo thơ Trần Dần
vẫn tiếp tục số phận nằm".
Tuyển tập Trần Dần thơ (Nhã Nam, Đà Nẵng, 2007) tập hợp
các trường ca truyền thống như Bài thơ Việt Bắc, Cổng Tỉnh, vá các
tác phẩm rất mới như: Mùa sạch (thử nghiệm thơ độc âm), Con
OEE (biến tấu âm) và Con I (thơ bè), cả ba đều khá cường điệu và
nệ hình thức, hoặc lập dị như Jờ Joạcx. Ngược lại, hai tậpSổ bụi và thơ
Mini, thực sự thành công, xác định sự độc đáo của của Trần Dần, khác với Đặng
Đình Hưng và Lê Đạt. Vậy lần công bố này, tầm quan trọng và sự độc đáo nằm
trong Sổ bụi, và thơ Mini.
Sổ bụi tập hợp lối ghi chép đặc biệt Trần Dần: đó là những
bài thơ văn xuôi cô đọng, mới, đầy biến ảnh, thể hiện mỹ học khổ
đau một cách toàn diện. Thơ Mini, là những bài triết luận thu gọn
đến cạn kiệt. Một Trần Dần đi từ thực tại thi nhân để đến với tâm linh hiền triết.
● Từ kháng chiến đến Nhân Văn Giai Phẩm
Dạ Đài số 1 ra đời 16/11/46, số 2 vừa xong
thì chiến tranh bùng nổ[16],
Trần Dần đi theo kháng chiến. Đạo diễn Trần Vũ thuật lại: Ban đầu, Trần Dần
làm công tác tuyên truyền cùng Vũ Khiêu và Vũ Hoàng Ðịch. 1948, khi thành lập
khu 14 ở Tây Bắc, Trần Dần cùng Vũ Khiêu, Vũ Hoàng Ðịch lên Tây Bắc. Một thời
gian sau, khu 14 bị giải thể. Trần Dần vào quân đội, nhận công tác địch vận của
trung đoàn Sơn La từ 1948 đến 1950[17].
Hồ Phương kể lại: Trong nhóm văn nghệ Tây Bắc, có Trần Thứ (Trần
Vũ), Trần Dần và Hoài Niệm... làm tờ báo Sông Đà, trình bầy đẹp, chuyên về thơ
văn."Hồi ấy Trần Dần hay làm thơ leo thang, bài thơ thường được trình bày
khá kiểu cách. Dòng thì in chữ nhỏ, dòng lại in chữ to, thiên về hạng theo mốt"[18].
Vũ Tú Nam viết: "Trần Dần làm thơ bí hiểm, vẽ theo lối
lập thể, bị quần chúng bộ đội phản đối". Và 1951, sau khi dự "một
lớp Chỉnh huấn có kết quả",Trần Dần được điều về phụ trách đoàn Văn công
quân đội[19].
Hoàng Cầm cũng xác định: "Tới trại hè năm 1951, các đoàn văn công nỗ
lực tập luyện để phục vụ một chiến dịch lớn. Trần Dần phụ trách huấn luyện cho
mấy trăm anh chị em: sáng tác đạo diễn và diễn viên"[20].
Nhưng Vũ Tú Nam bình luận: vì "có ít nhiều thành
tích" trong việc luyện tập Văn công, Trần Dần "đâm ra chủ quan độc
đoán, đả kích cán bộ sáng tác", "bị thi hành kỷ luật rồi điều về
cục Tuyên huấn công tác, bất mãn ngấm ngầm"[21].Vậy
việc về Cục tuyên huấn, là một hình phạt.
Đầu 1954, Trần Dần đi chiến dịch Điện Biên Phủ cùng với Đỗ Nhuận.
Họa sĩ Tô Ngọc Vân chết trong chiến dịch này. Người người lớp lớp được
sáng tác ở Điện Biên Phủ, hoàn thành cuối tháng 9/54.
Tháng 10/54, Trần Dần được cử viết thuyết minh cho phim Chiến
thắng Ðiện Biên Phủ, và đi Trung Quốc để thực hiện. Ngày 10/10/54 khởi
hành. Ngày 14/10, đến Nam Ninh. 20/10, đến Bắc Kinh, hoàn thành tập thơ Tiếng
trống tương lai. Ngày 10/12/54 trở lại Hà Nội.
Hoàng Cầm viết: "Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Trần Dần
thức thâu đêm suốt sáng để viết bản thảo lần thứ ba cuốn truyện về những người
đã tạo ra chiến thắng lịch sử lớn lao đó. "Nhưng cái hướng chính của tôi
không phải là tiểu thuyết. Hướng đi của tôi là thơ. Tôi sẽ tìm tòi trong thơ và
cố gắng tạo ra một lối diễn tả riêng biệt -không phải lập dị- nhưng độc đáo. Trần
Dần đã nói với tôi như vậy sau khi anh viết xong "Người người lớp lớp".
Hồi đó, anh có đưa tôi xem tập thơ làm đã lâu: "Tiếng trống tương
lai"[22].
Trong nhật ký, Trần Dần chỉ ghi sơ lược về chuyến đi này, nhưng
ông đã kể cho Hoàng Cầm và Hoàng Cầm thuật lại trong bài Con người Trần Dần:
"Viết xong Người người lớp lớp, Trần Dần được phân công viết
thuyết minh cho cuốn phim Chiến thắng Điện Biên Phủ và anh được cử sang Trung
Quốc làm nhiệm vụ đó. Nhưng đi kèm bên cạnh anh là một cán bộ chính trị có quyền
tối hậu quyết định. Anh cán bộ này, đáng lẽ phạm vi công tác là góp ý kiến vào
nội dung bản thuyết minh và bảo đảm cho nó không phạm những sai lầm về đường lối
chính sách của Đảng trong chiến dịch Điện Biên Phủ, thì đã lợi dụng uy quyền của
mình đi quá xa vào phạm vi văn học, bắt Trần Dần phải viết như ý mình, từng câu
từng chữ, lạm dụng danh từ chính trị khô khan rỗng tuếch để nhét cho kỳ được
vào bản thuyết minh. Đầu tiên, Trần Dần rất phục tùng người cán bộ chính trị
khi dự thảo thuyết minh, và hoàn toàn theo sát những vấn đề chính trị sẽ đặt ra
khi thuyết minh. Đến khi thấy anh cán ấy "lên gân" và thọc bàn tay cứng
lạnh vào phạm vi viết văn thì Trần Dần bắt đầu có phản ứng. Nhưng anh vẫn bình
tĩnh, đề nghị cấp trên xét lại vấn đề. Đến khi "anh cán bộ vẫn là tối hậu
quyết định cả từng câu chữ" thì Trần Dần thôi không làm công việc đó nữa,
nhường cả phần "văn chương" cho đồng chí cán bộ.
Sau việc này sự mâu thuẫn giữa văn nghệ sĩ và cán bộ chính trị bắt
đầu phát triển khá mạnh trong con người Trần Dần. Anh vẫn cố dẹp đi, nhiều lúc
anh thẫn thờ ít cười ít nói nhưng vốn là con người chân thực – cái chân thực
nhiều khi đến thô lỗ - lắm khi anh đã cục cằn, thốt ra những lời gay gắt thiếu
lịch sự. (...)
Trong bài Con người Trần Dần, Hoàng Cầm đã phải giữ ý khi
viết, nhưng trong băng ghi âm sau này, ông nói thẳng hơn:
"Ban Tuyên Huấn cử Trần Dần viết thuyết minh cho phim
của Karmen về chiến thắng Điện Biên Phủ. Trần Dần được cử sang Trung Quốc. Theo
lời Trần Dần kể, thì bản thảo thuyết minh đã viết xong ở nhà, ông Lê Quang Đạo
đã duyệt rồi. Sang Bắc Kinh Trần Dần làm việc với ban kỹ thuật, về việc lắp
ráp, thu thanh, lồng tiếng... Nhưng ít lâu sau, thì Hoàng Xuân Tuỳ sang, Hoàng
Xuân Tuỳ là chính ủy trung đoàn, làm việc ở Tuyên Huấn, được gửi sang với nhiệm
vụ kiểm soát mọi việc.
Vừa xem bản thuyết minh của Trần Dần, anh ta phát biểu
ngay: "Cái này anh viết hỏng, không hay mà lại hỏng". Gặp
ai chứ gặp phải Trần Dần, tính khí ngang tàng, làm sao chịu được: "Thế
nào là hỏng? Thế nào là không hay, anh chỉ cho tôi biết?" Hoàng Xuân
Tùy là một tay chính trị viên giáo điều, làm sao tranh luận được với Trần Dần.
Nhất là cái bản thảo đã được ông Lê Quang Đạo thông qua trước khi đi. Thế là
Hoàng Xuân Tuỳ ra lệnh: "Anh phải viết lại". Trần Dần dằn từng
tíếng một: "Tôi- không- viết- lại". Không ai chịu ai.
Cuối cùng Trần Dần quyết định: "Thôi thế để anh làm
nhá, anh tự viết, tự kiểm duyệt, tôi về nước". - "Cái đó tuỳ
anh". Trần Dần xếp vali về nước, thuật lại chuyện với ông Lê Quang Đạo,
thì tất nhiên ông ấy phải đứng về phía Hoàng Xuân Tuỳ, vì hắn là đảng viên cao
cấp. Ông nói: "Thôi để anh Hoàng Xuân Tuỳ làm cũng được, anh về đây
phụ trách tạp chí Văn (thực ra là tạp chí Sinh Hoạt Văn Nghệ)"[23].
Vậy sự chống đối của Trần Dần sau khi đi Trung Quốc về,
không vì Hồ Phong, như trong các bản cáo trạng buộc tội ông, mà trực tiếp đến từ
sự kiểm duyệt của Hoàng Xuân Tùy.
Cung cách giáo điều của cán bộ này đã khiến Trần Dần, khi bỏ Bắc
Kinh, về bắt tay ngay vào việc tổ chức đấu tranh trong quân đội một cách quy mô
và quyết liệt.
Chính sách áp chế tư tưởng và sự can thiệp vào đời sống tình cảm
con người đã thúc đẩy Trần Dần, Tử Phác, Hoàng Cầm, Đỗ Nhuận, Trúc Lâm, Hoàng
Tích Linh, và rất đông anh em công tác văn nghệ dự thảo ra bản "Đề
nghị cải tổ chính sách văn nghệ" gửi lên cấp trên, đòi bãi bỏ vai trò của
chính trị viên trong quân đội.
● Tranh đấu trong quân đội, đầu năm 1955
Từ Bắc Kinh trở về Hà Nội, Trần Dần ghi tình hình trong nhật ký
ngày 20/12/54:
"Về Hà Nội được đúng 10 ngày (...) Cơ quan văn nghệ chưa có
gì thay đổi.(...) Vẫn những chính sách gò bó, mệnh lệnh và máy móc "quân sự
hoá văn nghệ". Đời tôi chìm chết trong chính sách này, cũng như những anh
em khác. Khó lắm. Nhưng tôi nghe nhiều tiếng cất lên. Phản đối. Bàn cãi. Mỉa
mai. Và cả chửi bới. Cái đó có nghiã là tiếng trống báo tử của những tư tưởng
và chính sách áp chế văn nghệ bộ đội. Những ngày gần đây sao mà tôi buồn. Buốt
óc lắm. Và bực tức. Cơ quan và chính sách. Hội văn nghệ đánh mất bản thảo Người
người lớp lớp (phần 4 và 5). Món nợ chính phủ, những kỷ niệm ngày bé, chua chát
và mãnh liệt, những uất ức của 9 năm chiến tranh. Thơ tôi người ta không chê
nhưng cũng không sốt sắng in. Những dự định khó thực hiện vì chính sách gò bó:
tích lũy cuộc sống mới thì phải được tự do, v.v... Tôi bị bao vây. Chặt quá. Ép
quá (...) Tôi muốn những gì?
- Một chính sách văn nghệ mở rộng ra, cho nó đúng đắn.
- Một cuộc sống sáng tạo. Cái cũ thì trút ra. (...)
24/12: Đêm Noël (...) Bước quanh Bờ Hồ. Trời tôi tối. Còn vẳng
tiếng hát micro nhà thờ buông trầm trầm. Hai thằng đi. Tôi và Lê Đạt. Buồn quá.
Đây là những lúc người tôi hẫng lắm. Rỗng lắm. Tôi còn đầy dư vị những câu chuyện
trao đổi đêm nay về chính sách văn nghệ.
Dư vị chua, đắng, nhạt thếch"[24].
Như vậy, những cuộc thảo luận đổi mới văn nghệ đã xẩy ra từ Noël
1955, trong không khí chán nản, "dư vị chua, đắng, nhạt thếch" như
lời Trần Dần.
Không khí này được Từ Bích Hoàng mô tả trong bài buộc tội Trần Dần,
như sau:
"Từ Trung Quốc về, Trần Dần còn mang theo một bài thơ
dài "Tiếng trống tương lai" trong đó Trần Dần gọi cán bộ chính trị là
"người bệnh", "người ròi"[giòi], "người ụ".
Đó chỉ có thể là cách nhìn của bọn thù địch đối với cán bộ của Đảng. Đủ biết sự
hằn học của Dần lúc bấy giờ đã nặng đến thế nào! Không ngạc nhiên khi thấy Dần
mới bước về Phòng Văn nghệ Quân đội đã đả kích luôn lãnh đạo, rồi nhân một số
thắc mắc của anh em về công tác, Dần lợi dụng phát động từng người và biến
thành một cuộc đấu tranh đối lập với lãnh đạo, lấy "áp lực quần
chúng" hòng buộc lãnh đạo phải chấp nhận những yêu sách thoát ly chính trị,
thoát ly quân đội như ta đã biết. Chính Trần Dần đã thú nhận tính chất hoạt động
này của họ.
Cục Tuyên Huấn bảo anh em nghiên cứu lại bản đề nghị, Dần không
chịu, bỏ mặc và phá phách ngày một dữ hơn. Dần lôi kéo được một số phá phách
theo mình. Trần Công quá khích ăn nói lung tung: "Sống trong vòng K.50 (ý
nói trong doanh trại, bên ngoài có bộ đội gác) nghẹt thở quá!" Những luận
điệu vô kỷ luật này rất phù hợp với chủ trương "phải phá mà ra" của
Trần Dần và mở đường cho bọn Dần càng đi sâu vào cạm bẫy của tư sản"[25].
● Trần Dần, Người-phá, Anarchiste
Ngày 10/3/55 Trần Dần ghi trong nhật ký:
"Chính sách tính lại thử xem có những gì? - Vài cái bàn.
Vài cái đèn điện lạnh và vàng. Thêm một bàn hành chính. Tờ báo ra nhưng khổ và
tên SHVN[26]cũ.
Người ta sợ đổi khổ là tính chiến đấu của nó [cũng đổi đi]. Có vậy
thôi. Tôi không nói ngoa. Người ta quan niệm chính sách là như vậy. Đấy. Cái
thông minh của người lãnh đạo năm 1955 tới cái mức ấy. Vậy là quá đáng lắm rồi.
Còn đòi hỏi cái gì? Văn nghệ được thế là "chiếu cố", là "châm
chước" tột độ rồi. Đáng lẽ chúng mày không có bàn, có điện, có báo nữa.
Đáng lẽ chúng mày không được thức khuya hơn 9 giờ. Không được ra ngoài trại. Đằng
này còn cho đi lại một chút. Vậy là rộng rãi lắm rồi còn gì!
Nhưng tôi nghĩ, những ông Cương[27] ông
Thanh[28] gì
đó không đáng trách (...) Đáng trách là cả một cái HỆ THỐNG! Nó nặng như núi...
Nó ở trên có, ở dưới có. Ở ngang có. Đằng trước, đằng sau đều có nó. Hệ thống
gì? Đó là hổ lốn: sợ hãi cúi đầu, làm thân con sên, con tầm gửi, -hò hét mệnh lệnh,
làm ông sấm, ông sét. Đảng ở đâu? (...) Tôi nghĩ và tôi làm: Đảng ở tôi. Tôi
phá HỆ THỐNG. Làm sao tới Hội Nghị Văn Thơ tôi phải làm được một số việc: vượt
khỏi các ước lệ, điều lệ, thành kiến mà làm bằng được. (...) Độ này có hai chiến
trường khá sôi sục:
1) Vượt Côn Đảo
2) Thơ Tố Hữu
Tôi thích những cuộc tranh luận này. Không phải vì bản thân những
quyển sách và những tác giả ấy. Mà vì ý nghiã nó rộng ra nhiều mặt khác. Phát
huy phê bình tự do (...) Tại sao bọn giả mạo được tin hơn người thực thà? Tại
sao loài bò sát lại được dùng nhiều. Tại sao chúng nó có mặt ở thời đại này? Ở
trong Đảng? Ở cách mạng?- Lạ lùng nhất là tại sao không vạch mặt chúng ra? Văn
thơ tôi sẽ balayer bọn ấy. Quét! Quét! (...) Tất cả những cái gì, nguyên tắc gì
trở ngại cho nguyên tắc lớn của tôi là tôi xoá hết! Mặc! Tôi chỉ còn một nguyên
tắc mà thôi! Sống và viết để đánh bọn giả mạo, bọn ỳ ạch, bọn mốc xì, bọn người-bệnh,
bọn người-dòi, bọn người-ụ. Anarchiste? Nếu vậy gọi là anarchiste thì tôi
rất muốn là anarchiste (...) Tôi không có khả năng công chức, khả năng người-ụ.
Khả năng tôi là khả năng người-phá."[29]
Chủ đích của Trần Dần rất rõ: Làm Người-phá, phá toàn bộ HỆ
THỐNG trói buộc văn nghệ sĩ. Trần Dần xác định mình là Anarchiste và
ông đã dịch chữAnarchiste rất tài tình thành Người-phá[30].
Văn nghệ sĩ thường hay có thái độanarchiste. Trần Dần thực hiện tinh thần Người-phá, phá
cái HỆ THỐNG, cái cơ chế toàn trị áp đặt lên Văn nghệ sĩ, qua ba "chiến
trường": Đề nghị cải tổ Chính sách Văn nghệ Quân đội. Phê bình tập truyện Vượt
Côn Đảo của Phùng Quán. Phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu.
Ba "mặt trận" này diễn ra song song, từ tháng 2 đến
tháng 5/55 trong quân đội, do Trần Dần và Tử Phác cầm đầu[31].
Từ Bích Hoàng viết: "Lúc đó, Tử Phác đang làm thư ký
toà soạn tờ Sinh Hoạt Văn Nghệ, Tử Phác đã lợi dụng tờ báo của quân đội để Dần
nổ ra hai cuộc phê bình Vượt Côn Đảo và tập thơ Việt Bắc, với một dụng ý rất xấu.
Trần Dần "bốc" thơ Hoàng Cầm lên để đẩy Cầm cùng mình và Lê Đạt đả tập
thơ Việt Bắc, thông qua tập thơ đó đả vào đồng chí Tố Hữu lãnh đạo văn nghệ,
"hạ thần tượng" như bọn Dần đã nói. (...) Suốt thời gian
này, Trần Dần, Tử Phác, Hoàng Cầm, Hoàng Tích Linh, Trúc Lâm và cả Lê Đạt, luôn
luôn bỏ việc đến tụ họp rượu chè trai gái ở nhà tư sản, đầu độc cho nhau những
luận điệu phản động (...) Bọn họ bàn nhau "tập trung giải ngũ" để bắt
bí lãnh đạo. Thấy không xong, lại bàn "phân tán giải ngũ". Bọn họ đã
thực hiện chủ trương này. Trần Dần đi tiên phong làm một lúc hai lá đơn xin ra
Đảng, quân đội, có tính chất tấn công vào Đảng, quân đội như ta đã biết. Chính
những hoạt động chống đối của Trần Dần, Tử Phác và sự hùa theo càng ngày càng
có ý thức của số người kể trên đã gây tình trạng rối loạn hoàn toàn, một thời
gian, trong Phòng Văn Nghệ Quân Đội, cầm đầu hồi này là Trần Dần và Tử Phác".[32]
● Bản đề nghị cải tổ chính sách văn nghệ quân đội
Tháng 2/55: Trần Dần viết bản Đề nghị Chính sách Văn nghệ, với
sự góp ý của Tử Phác, Đỗ Nhuận, Hoàng Cầm, Trúc Lâm, Hoàng Tích Linh, bài
dài 12 trang đánh máy, được đưa ra thảo luận, điều đình, thêm bớt, trong các cuộc
họp của Phòng Văn Nghệ Quân Đội từ tháng 2 đến tháng 4/55. Vũ Tú Nam, cháu tướng
Nguyễn Chí Thanh, được ông Thanh giao toàn bộ hồ sơ Trần Dần (gồm bản Đề nghị,
thư xin ra Đảng, thư xin giải ngũ, thư cầu cứu sau khi bị bắt lần thứ hai, phải
lập mưu cứa cổ để thoát, vv...) để có đủ tài liệu viết hai bài:
- Bài Những ngày thử thách, nhật ký chép lại ngày
25/10/2006[33].
Nếu bài này chép đúng sự thật, thì Vũ Tú Nam và Từ Bích Hoàng lúc trước đã ở
cùng nhóm với Trần Dần. Nhưng theo băng Hoàng Cầm, Vũ Tú Nam chống lại từ đầu.
Vậy bài này có thể đã được sửa lại như nhiều "nhật ký" hoặc "hồi
ký" xuất hiện gần đây.
- Bài Sự thực về con người Trần Dần, in trên Văn Nghệ Quân
Đội, năm 1958[34] là
tài liệu gốc, chưa bị sửa, tuy viết với mục đích "đánh", nhưng có nhiều
thông tin đáng tin cậy về con người Trần Dần, về nội dung bản Đề nghị cải
tổ. Sự trích dẫn dài rộng của Vũ Tú Nam có thể do thiện ý muốn để lại dấu vết bản Đề
nghị cho mai sau. Vũ Tú Nam viết:
"Cuối năm 1954 sang đầu năm 1955, các đồng chí trong Phòng
Văn Nghệ Quân Đội đều thắc mắc muốn cải tiến tổ chức, chính sách cho hợp với
tình hình mới, muốn đề đạt lên cấp trên nghiên cứu, giải quyết. Trong một cuộc
họp với đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Trần Dần hùng hổ yêu sách mấy điểm, tự ý
thêm thắt, không thật trung thành với những điều đã bàn với một số anh em trong
Phòng:
1- Trả lãnh đạo văn nghệ cho văn nghệ sĩ.
2- Thành lập trong quân đội một chi hội văn nghệ trực thuộc Hội
văn nghệ, không qua Cục Tuyên huấn và Tổng cục chính trị.
3- Bỏ mọi "chế độ quân sự hiện hành" trong văn nghệ
quân đội...
Nghe xong, đồng chí Nguyễn Chí Thanh dặn dò anh em phải coi chừng,
đó là quan điểm tư sản, phi Đảng, phi giai cấp, phi chính trị. Hồi đó, anh em
chưa vỡ lẽ ra, còn ấm ức, cho là cấp trên không thông cảm. Trần Dần và một vài
người khác thì lồng lộn, chửi bới, reo rắc hoài nghi, chán nản, muốn giải ngũ.
Tháng 2/1955, trong Phòng Văn Nghệ Quân Đội có tình trạng lỏng lẻo, rã rời,
buông thả đến cao độ. Có đồng chí phải thốt ra lời than thở "Anarchie
totale!" (Vô chính phủ hoàn toàn)[35].
Trần Dần vẫn được tín nhiệm giao cho công tác phụ trách Ban Văn, chuẩn bị triệu
tập hội nghị ngành Văn toàn quân vào tháng 4/1955. Bản báo cáo do chính Trần Dần
viết (tháng 2/1955). Vì tư tưởng cán bộ trong Phòng Văn nghệ lúc đó lệch lạc
nhiều, vì nội dung bản báo cáo có nhiều điều nguy hiểm, Cục tuyên huấn quyết định
đình việc chuẩn bị cuộc họp ngành Văn lại, Trần Dần càng bất mãn, càng u uất
hơn"[36].
Về Nội dung bản Đề nghị cải tổ, xin trích lại những đoạn đã
được Vũ Tú Nam trích, những chỗ in đậm là do chúng tôi nhấn mạnh:
1- Về trách nhiệm của người cầm bút, Trần Dần viết: "Biểu
hiện cao nhất của trách nhiệm người viết là thái độ tôn trọng, trung thành với
sự thực. Đó là tiêu chuẩn cao nhất đánh giá tác giả và tác phẩm... Tôn trọng,
trung thành với sự thực vừa là trách nhiệm, - vừa là lập trường, - vừa là
phương pháp làm việc của người viết".
2- Thế nào là sự thực đối với một nhà văn? Trần Dần viết: "Thế
nào là trung thành với sự thực? Đầu tiên, sự thực là gì?", "Có sự thực
của vũ trụ, của lịch sử, của thế giới, của cách mạng. Lại có sự thực trong nước,
từng địa phương, -từng ngành, từng giới, từng nghề, từng gia đình và từng người
một nữa. Trong mỗi người cũng lại có triệu vấn đề, mỗi vấn đề là một sự thực
(...) Tức là: những vấn đề, hiện tượng của xã hội, của con người là sự thực."
3- Nhà văn phải phục tùng sự thực hay phục tùng chính sách, chỉ
thị, phục tùng tuyên huấn? Trần Dần trả lời: "Sự thực lớn gấp triệu
triệu lần bất cứ chỉ thị, lý luận nào... Nếu như sự thực ngược lại chính sách
chỉ thị, thì phải viết sự thực chứ không phải là bóp gò sự thực vào chính
sách. Không bao giờ được biến chính sách, chỉ thị thành định kiến "đinh
ninh" (...) Người viết chỉ viết do thôi thúc của thực tế. Những chân
lý lớn, nhỏ, anh ta tự giác thấy ở cuộc sống, ở quân đội. Không phải viết
để vừa lòng Tuyên huấn, vừa lòng cấp trên. Để có cái danh phục vụ kịp thời.
Một triệu lần, không có mùi mè giác ngộ, phục vụ gì cả! Cái áo không thể
che được mùi thối trong ruột. Cách mạng không cần những người vỗ tay hoan hô nhắm
mắt. Những anh hót ca chính sách. Thậm chí những anh "thày cúng chính
sách", leng keng bóp méo, nghèo nàn. (...) Liệu cứ viết như một anh thày
cúng ê a căm thù yêu nước xông lên, có phải là trách nhiệm không?"
4 - Trần Dần mô tả bộ mặt thực của văn học kháng chiến: "Có
thể nói văn chương hiện nay nhiều cái giả tạo (giả trá nữa). Gọi đúng tên nó là
chủ nghiã công thức, giản đơn, sơ lược. Tức là người viết đặt ra một cái khuôn
nhất định, rồi gò ép mọi sự thực vào đó.
"Tả anh hùng chả hạn thì là: căm hờn, vào bộ đội rồi anh
dũng lập công. Đối trên thì phục tùng kỷ luật (...) Lệnh gì là làm ngay không
thắc mắc, hoặc có thắc mắc thì phê bình sau (...) Đối bạn thì giúp đỡ, thân ái
phê bình, ai ai cũng mến (có người nào như vậy không?) Đối với đảng thì mở mồm
là biết ơn. Đối với dân thì yêu mến giúp đỡ. Đó là cái khuôn cho anh hùng. Cái
kiểu anh hùng không khuyết điểm (...) ấy thực chất là kiểu iêng hùng gì? Có mùi
mè gì của người anh hùng quần chúng không? Có mùi mè gì của nhân văn chúng ta
không? Và có thực như vậy không? (...) Vậy mà qua cái khuôn trên kia dập ra thì
thành ngòi bút, chậu thau giống nhau cả. Thật là lối sản xuất kỹ nghệ định đem
vào sản xuất con người và sản xuất nghệ thuật!
"Tại sao không viết về cơ quan chẳng hạn? Tại sao sợ viết về
tình yêu chẳng hạn? Mà viết tình yêu thì y như đưa ra ái tình hy sinh vì Tổ quốc!...
Tại sao cứ xuất thân công nông mới đáng viết? (...) Ngày nay, trong văn chương,
kẻ thù ghê tởm là chủ nghiã công thức, giản đơn sơ lược. Phải nói trắng ra là
nó ở cả người viết, ở cả xã hội (...) Thực thà chỉ có một con đường: Đấu tranh
tàn khốc với chủ nghiã công thức giản đơn sơ lược trong bản thân và chung
quanh".
Sau cùng Vũ Tú Nam cho biết: "Bản báo cáo Trần Dần viết,
không được Cục Tuyên Huấn thông qua, và cuộc họp ngành Văn Thơ toàn quân phải
đình lại. Trần Dần càng bất mãn, gây gổ, thường thường bỏ doanh trại bộ đội ra
ngoài phố ở, giao du rộng rãi, tự do"[37].
Theo Hoàng Cầm, thì ban đầu đã có nhiều ý kiến thuận của Một
vài cán bộ cao cấp trong quân đội (có thể là ba vị tướng lãnh cao cấp
trong Tổng Cục ChínhTrị lúc bấy giờ: Lê Liêm, Lê Quang Đạo và Trần Độ).
Hoàng Cầm kể lại không khí buổi họp mang tính quyết định, như sau: "Đến
ngày họp bàn về dự thảo chính sách, Trần Dần được anh em cử ra trình bày.(...)
Anh nói say mê, nhiệt tình. Trong cách nói nhiều khi bốc. Mặt anh khi đỏ gay,
khi tái lại:"Giả văn nghệ cho anh em văn nghệ sĩ! Phân rõ ranh giới giữa
cán bộ chính trị và văn nghệ sĩ. Văn nghệ sĩ phải có sự lãnh đạo của Đảng,
nhưng không thể biến thành cái máy v.v…" Đột nhiên trong không khí hào hứng
của gần ba mươi anh em văn nghệ sĩ đang sẵn sàng cởi mở hết để xây dựng một
trong những chính sách lớn của Đảng, bỗng có một câu quật lại:"Tinh thần bản
đề nghị này chính là một thứ tư tưởng tự do của tư sản. Nó chứng tỏ tư tưởng tư
sản đã bắt đầu tấn công vào các đồng chí!" Giá câu nói ấy ở mồm một người
thường thì cũng sẽ thường thôi. Nhưng lại ở một cán bộ có đủ thẩm quyền xét lại
hay bác bỏ những đề nghị của văn nghệ sĩ, thì bắt đầu có một sự động cựa lớn.
Những người trước kia tán thành bản dự án thì bắt đầu trở nên hoang mang"[38].
Người nói câu đó là Tướng Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục
Chính trị.
Vũ Tú Nam xác định: "Nghe xong, đồng chí Nguyễn
Chí Thanh dặn dò anh em phải coi chừng, đó là quan điểm tư sản, phi Đảng, phi
giai cấp, phi chính trị[39]".
● Phê bình Vượt Côn Đảo
Theo Vũ Tú Nam, có ba buổi phê bình Vượt Côn Đảo của
Phùng Quán:
"7/3/1955: Chiều thứ bảy, mình [Vũ Tú Nam] và Dần
… xin phép không họp chi bộ để đi thảo luận về Vượt Côn Đảo. Ông Tú Mỡ hoàn
toàn khen. Mình nói lại rằng Vượt Côn Đảo có những nhược điểm. Anh em bộ đội
nói nhiều nhất. Ra về, mình dồn anh Lưu Trọng Lư rằng lãnh đạo cần phải thay đổi,
quan liêu và trì trệ quá".
"14/3/1955: Tranh luận về Vượt Côn Đảo lần ba ở trường Nguyễn
Trãi, vì CLB Đoàn Kết mắc bận. Họp tới 11 h, vẫn găng hai ý kiến. Trần Dần
phê phán: "Nhân vật trong Vượt Côn Đảo là người cụt đầu, không óc không
tim"(?!). Ông Hoài Thanh phát biểu trân trọng về cuốn sách. Lê Đạt rất bốc"[40].
Qua những lời này, thì Vũ Tú Nam cùng lập trường với Trần Dần,
khác hẳn với luận điệu trong bài Sự thực về con người Trần Dần viết
tháng 3/1958. Vậy đâu là sự thật?
Theo Hoàng Cầm trong băng ghi âm:
"Vượt Côn Đảo là một cuốn sách hấp dẫn, khen thì khen lên
chín từng mây như bài của các ông Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư... Trên báo Văn Nghệ,
ông Hoài Thanh ca ngợi Vượt Côn Đảo một cách quá đáng, thì ông Trần Dần, báo
Văn[41]bên
này, mới quật lại bằng một bài, đầu đề to tướng: Bạn đã đọc kỹ Vượt Côn Đảochưa?
Bài báo hấp dẫn lắm, Trần Dần trích những câu non nớt của Phùng Quán ra phân
tích, cũng chả đụng gì đến các ông Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, mà chỉ vạch ra cái
non kém của Phùng Quán thôi. Phùng Quán nói: Anh đánh em đau quá Trần
Dần chỉ cười. Tôi bảo: Trong văn chương được một người đàn anh đánh như thế
là tốt, để cậu học tập, có đau mới tiến bộ được. Tất nhiên Phùng Quán nó
không giận lâu"[42].
Lúc đó, Trần Dần, chủ trương phê bình tự do, chống lại sáng tác
ca tụng, có ý đưa hai cuốn sách tiêu biểu của văn học cách mạng ra để phê bình.
Văn xuôi làVượt Côn Đảo của Phùng Quán và thơ là Việt Bắc của Tố
Hữu. Phùng Quán nổi tiếng với tác phẩm đầu tay, viết theo lối văn tuyên truyền,
bán rất chạy, trong vòng một năm tái bản bốn lần: Tiểu thuyết Vượt Côn Đảo[43] ca
tụng sự can trường của các chiến sĩ cộng sản tổ chức vượt ngục Côn Đảo.
Trần Dần chủ trương viết về bất cứ điều gì, cũng phải viết sự thực,
tự phê cuốn Người người lớp lớp của mình trong nhật ký như
sau: "Tôi vừa viết xong cuốn Người người lớp lớp. Viết về chiến tranh
ở Điện Biên Phủ đấy. Nhưng mà tôi chán rồi. Tại vì rằng tôi ít thấy sự thực của
chiến tranh trong đó quá. Và vì rằng tôi ít thấy sự thực của bản thân tôi trong
đó quá. Chưa phải là chiến tranh, chưa phải là tôi. Cho nên tôi viết tới hơn
300 trang mà không thích bằng một bài thơ tôi cũng mới làm về chiến tranh:
"Anh đã thấy" (Mes douleurs) trên dưới có 6 trang!"[44]
Trước Nguyễn Minh Châu 30 năm, Trần Dần đã đòi hỏi nhà văn phải
viết sự thực về chiến tranh một cách quyết liệt và toàn diện: viết sự thực
không tô hồng, không nói dối, không nặn ra những anh hùng giả, toàn tim, không
óc.
Viết xong Người người lớp lớp, Trần Dần đi Trung Quốc.
Khi trở về sách đã in, nhưng Hội Văn Nghệ đánh mất bản thảo Người người lớp
lớp (phần 4 và 5)[45].
Như vậy cuốn sách đã in không có phần 4 và 5. Có nghĩa là 2 phần này tác giả viết
"không đúng đường lối" chăng?
Chính Trần Dần, cũng không bằng lòng với cách viết của mình, cho
nên quaVượt Côn Đảo, ông muốn phê phán cả một tầng lớp nhà văn chính thống, từ
Nguyễn Đình Thi trong Xung kích, Vỡ bờ đến cách Hoài Thanh, Xuân Diệu
nhắm mắt ca tụng Việt Bắc của Tố Hữu. Lý do thứ hai, vì Phùng Quán là
đàn em, cho nên việc phê bình sách của Phùng Quán cùng với sách Tố Hữu, chứng tỏ
họ "không bè phái", chê cả người trong nhóm.
Trần Dần phê bình Vượt Côn Đảo như thế nào?
Nguyên Ngọc viết:
"Bấy giờ Phùng Quán còn choáng mắt lên vì sự thành công của
mình. Quán đang tin ở tài năng của mình và chưa kịp bình tĩnh suy nghĩ gì về những
nhược điểm, khuyết điểm còn lại. Thì giữa lúc đó Trần Dần viết bài "Bạn đã
đọc kỹ Vượt Côn đảo chưa?" đăng trên tạp chí Sinh Hoạt Văn Nghệ ra ngày
1/4/1955.(...) Trần Dần lật ngược tất cả những nhận định trước nay về Vượt Côn
đảo, thẳng tay đập tơi bời cuốn sách đầu tay đó của Phùng Quán. Trần Dần nhận định:
Về cốt chuyện "tinh thần chung của nó là hỏng. Mới xét qua
cốt chuyện đã thấy nó là một quyển sách ca tụng chủ nghiã anh hùng cá nhân, ca
tụng kiểu quân sự bạo động, tình cảm sốc nổi và phiêu lưu". Về nhân vật
trong chuyện: "về nhân vật quần chúng thì tôi không hiểu tác giả mắc bệnh
gì mà mỗi khi tả quần chúng thì tả họ ngây ngô... cái nhân vật quần chúng đã bị
bôi nhọ quá nhiều".
Về những nhân vật khác, Trần Dần cho là: "tác giả đưa lên
những người toàn tim cả mà không có óc. Hay chỉ có một chút xíu". Nói về
cái chết của những người anh hùng trong tác phẩm của Phùng Quán, Trần Dần viết
một cách vô lương tâm: "Tôi đã không khóc mà lại còn muốn nói rất nhiều về
những cái chết mù quáng như vậy. Không phải cứ mang cái chết ra mà cảm động được
chúng ta đâu!... Tôi không rỏ một giọt nước mắt nào cho những con người chết
như thế. Đó là cái chết của những con người khờ dại... đảng viên ấy không phải
là đảng viên, chiến sĩ ấy không phải là chiến sĩ..." (...)
Suốt cả bài ấy Trần Dần dùng một lối văn đả kích bằng cách chơi
chữ, lập lờ, một thứ "thủ đoạn văn chương" mà sau này ta đã tìm thấy
lại trên báo Nhân Văn, trong các tập Giai phẩm và Đất Mới của nhà xuất bản Minh
Đức. Ví dụ chê một chỗ tác giả đưa lên một khó khăn quá ngây thơ, Trần Dần viết:
"lần này là khó khăn con chó".
Một tháng sau Lê Đạt cũng viết một bài phê bình Vượt Côn đảo
(Sinh Hoạt Văn Nghệ, số 39 ra ngày 19/5/1955) ý kiến không có gì khác Trần Dần
lắm. (...)
Sau khi đã đập Phùng Quán tơi bời bằng một bài phê bình trên
báo, sau khi đã làm cho Phùng Quán hoang mang suy nghĩ về tài năng, về trình độ
mọi mặt của mình, Trần Dần lại nói riêng với Phùng Quán: "Tao đập là đập bọn
chúng nó ngu dốt không biết gì chứ có phải đập mày đâu". (...) Thế là Trần
Dần hoàn thành cái thủ đoạn của mình một cách khôn khéo, bắn một phát trúng nhiều
mục tiêu: qua phê bình Vượt Côn đảo mà thoá mạ những chiến sĩ cộng sản, qua
Phùng Quán mà chửi quần chúng là ngu dốt, tâng bốc Phùng Quán, đưa Phùng Quán đến
chỗ đối lập lại quần chúng độc giả và lãnh đạo, lôi kéo Phùng Quán. Trần Dần đã
thành công trong việc đó thật"[46].
● Phê bình Việt Bắc
Phê bình tập thơ Việt Bắc là ngòi nổ công khai đầu
tiên của phong trào NVGP. Việt Bắc của Tố Hữu được tôn sùng như cuốn
"thánh kinh" của văn học cách mạng. Từ khi tác phẩm ra đời cuối
năm 1954 cho đến ngày nay, bao nhiêu giấy bút đã dành cho sự ca tụng nó. Hiếm
có nhà phê bình nào, dám viết một câu phạm thượng về Việt Bắc. Đúng như Lê
Đạt nhận xét: "Ở Việt Nam người ta chưa quen chê anh Tố Hữu bao giờ"[47]. Sở
dĩ việc phê bình thơ Tố Hữu, không chỉ khép kín trong các buổi họp nội bộ quân
đội, mà thoát ra ngoài, nhờ hai người: Tử Phác, thư ký toà soạn báo Sinh Hoạt
Văn Nghệ, tung trên Sinh Hoạt Văn Nghệ trước. Rồi Lê Đạt, phụ trách Văn Nghệ,
đưa lên Văn Nghệ sau.
Vũ Tú Nam viết:
"Ngày 4/3/1955, nổ ra cuộc họp đầu tiên tranh luận phê bình
tập thơ Việt Bắc, Trần Dần gọi thơ Tố Hữu là "tí ti la haine, tí ti
l'amour" (tí ti căm thù, tí ti tình yêu) một cách hằn học, đểu cáng. Ngày
7/3/1955, bắt đầu tranh luận phê bình Vượt Côn Đảo của Phùng Quán, Trần Dần gọi
những chiến sĩ Côn Đảo trong truyện là những "người cụt đầu",
"toàn tim", mù quáng (...) Bài phê bình Vượt Côn Đảo của Trần Dần lệch
lạc nguy hiểm như vậy, nhưng cũng có một số đồng chí trong quân đội không nhận
ra, viết bài hưởng ứng. Cuối tháng 3/1955, khi duyệt những bức thư bạn đọc
chung quanh việc phê bình Vượt Côn Đảo để in báo Sinh hoạt Văn nghệ, Cục Tuyên
huấn quyết định bỏ bớt một số bài tán thành Trần Dần. Lúc này, Trần Dần phản ứng
rất mạnh, gọi lãnh đạo là "répression policière!" (đàn áp kiểu
cu-lít). Và đầu tháng 4/1955, mượn cớ đau óc, Trần Dần xin nghỉ dài hạn, bỏ
công tác, bỏ doanh trại bộ đội, tự tiện ra ngoài phố ở."[48]
Về không khí các buổi phê bình thơ Tố Hữu, Vũ Tú Nam ghi trong
nhật ký, như sau:
5/3/1955: Tối qua, tranh luận về thơ Tố Hữu ở Cửa Đông, anh
Nguyễn Chí Thanh tới (...) anh em đông lắm, cả Hồ Dzếnh. Hoàng Yến trình bày vấn
đề “khả năng hiện thực trong thơ Tố Hữu - Tố Hữu có tiêu biểu cho thời đại
không?” Trần Dần, Lê Đạt nói bốc nhất. Hoàng Trung Thông, Nguyễn Xuân Sanh ngồi
ghi mà không nói gì. Tố Hữu không tới, Xuân Diệu không tới.
8/4/1955: Đêm 7-4, phê bình thơ Việt Bắc ở 51 Trần Hưng Đạo
đến 12 h khuya. Dần tâm sự khi anh đi xe đạp có hai bộ đội theo dõi (?). Tối
vào nhà bạn, lúc ra Dần bị bộ đội giữ mấy tiếng. Mình báo cáo sự việc với chi ủy.
Trần Việt nói: Dần vào 69 Quán Thánh, nhà Hoàng Cơ Bình cũ, nên có thể bị theo
dõi.
15/4/1955: Đêm qua, thảo luận về thơ Việt Bắc đến 12h đêm.
Hoàng Yến, Trần Dần, Hoàng Cầm nói gay gắt. Trương Tửu tranh luận rất phản khoa
học. Huy Cận ngồi im. Tạ Hữu Thiện nói nhiều suy diễn, ví dụ cho đoạn nào là giống
Kiều… Hoàng Cầm dẫn thơ Hồ Xuân Hương để chứng minh "chất sống" và
"hồn thơ" của nữ thi sĩ.[49]
Trong bài Cách nhìn sự vật của nhà thơ Tố Hữu, viết
tháng 5/55, Trần Dần viết: "Nói chung thơ Tố Hữu có rất nhiều cái lười
biếng. "Ý lời tầm thường (...), rất nhiều cái kiểu "lòng ta xao xuyến,
rung rinh", - "chúng bay chỉ một đường ra, một là tiêu diệt hai là tù
binh", - hoặc "đời vẫn ca vang núi đèo", hoặc "Cụ Hồ sáng
soi". Không phải là thiên lệch trích ra một số câu như vậy, hãy đọc lại cả
tập Việt Bắc xem, ta thấy nhan nhản những lối lười, nhạt, cả lảm nhảm nữa (...)
Phá đường: "Nhà neo việc bận vẫn đi" - làm thì thi đua -, thi đua kết
quả thì rồi mai địch chết. Ta đi tới: đủ cả Bắc Nam, Việt, Miên, Lào, Itsala,
Itsarắc... xem ra thì có vẻ đúng chính trị. Nhưng xét sâu xem? (...) Tố Hữu
nhìn sự vật nó chính trị công thức quá, lười tìm tòi quá. Chỗ nào hay thì là lập
lại Nguyễn Du, Tản Đà, ca dao... Tố Hữu chưa đem tới một cái nhìn mới mẻ gì.[50]
Tiễn đưa Trần Dần, Nguyễn Hữu Đang ghi sổ tang:
"Lần đầu gặp anh trong cuộc phê bình tập thơ Việt Bắc,
đến nay dù hơn bốn mươi năm, biết bao là gian nan, trong những cố gắng chung để
tìm cho văn nghệ Việt Nam một con đường phát triển thuận lợi nhất. Đúng hay
sai, hôm nay tôi vẫn chưa dám khẳng định... Dù sao thiện chí của chúng ta chỉ
có kẻ ác ý mới cố tình phủ nhận.
Tiễn đưa anh về cõi vĩnh hằng, có lẽ tôi chỉ có thể nhắc lại
cùng anh vế đối của Ngô Thì Nhậm nói cái lẽ tất yếu: Gặp thì thế, thế thì phải
thế. (...)
Cả nước biết lúc nào anh cũng có tư tưởng Nhất định thắng,
dù cho ý chí ấy anh không đạt được thì cũng vẫn là phẩm giá cao đẹp của một con
người"[51].
● Trần Dần ghi
Về NVGP, có những sự việc đã bị chôn sống, tưởng rồi sẽ tan
trong lòng đất. Có những sự thực đã bị bóp méo đến độ dị dạng. Trong hơn nửa thế
kỷ, người ta đã quen sống với những quái thai dị đạng đó: những xuyên tạc, bôi
nhọ được đề cao như những chân lý. Ngờ đâu, những con chữ
trong hòm lại có ngày đứng dậy, thuật lại truyện mình. Tập Trần
Dần ghi 1954-1960[52] là
một trong những tư liệu hòm, tự khai, tự quật. Tác phẩm mở ra những dòng
chữ đầu tiên để lấp những trang còn trắng về một thời kỳ văn học sử, còn
chưa được biết, còn chưa được viết.
Tập Trần Dần ghi 1954-1960 thực chất là ba quyển sách
gồm một: Phần đầu tích lũy những suy nghĩ về sáng tạo. Phần thứ nhì, tác giả
quay lại chiến dịch đấu tố với những hình ảnh khủng khiếp kinh hoàng. Phần thứ
ba, viết về cuộc sống cải tạo trong những năm kỷ luật. Với một lối viết tốc ký,
ngắn gọn, thể hiện mỹ học khổ đau của Trần Dần.
Chuyện cải tạo sau Nhân Văn, nằm trong lối tốc ký ấy:
"9/9/58 (...) Ðêm, tôi thiếp đi trong mộng ác. Tay mưng,
đau nhất là ở những chỗ đã thành chai mà lại mưng tái lại. Mọi bắp thịt suốt
đêm lọc acide, và chôn cất những tế bào chết vì lao lực quá sức... Lục đục suốt
đêm như vậy trong toàn bộ xác thịt tôi.
10/9/58 (...) Gió khiếp quá. Hàng sư đoàn gió bấc trèo qua
núi lúc nào đổ xuống đồng cỏ. Suốt buổi sáng, mùa hè bị đánh tan nát. Nắng bị
gió may thổi mát đi, nguội lửa.
Gió tốc mái, rứt mấy lá gồi chuồng bò. Cây cành bị túm tóc, vật
vã kêu gào, gió vẫn không tha. Các tàu chuối bị tước xơ ra. Có tàu rách mướp,
trông hệt một con rết xanh khổng lồ, hàng nghìn chân xanh ngọ ngoạy điên cuồng,
cào trong không khí, cái đuôi nó bị giữ rịt ở thân, nó lồng lộn ngang ngửa,
không thoát. (...)
Các nón lá bị gió nó hất chụp mặt. Nó kéo ra sau, quai nón xiết
cổ như thừng thắt cổ! Bụi phả vào mắt chúng tôi, chưa dụi xong, gió đã ném
thêm. Bọn tôi đào gốc, đã nhọc, còn bị lũ gió may kia trêu chọc. Nó đùa dai chứ...
Có lúc tôi cuốc đất, mắt nhắm tịt, một anh mù làm việc"[53].
Về những ngày sôi động sau 2 cuộc Chỉnh huấn ở Thái Hà ấp,
16/4/1958, Trần Dần ghi:
"Hiện nay Nguyễn Hữu Ðang, Thụy An, Minh Ðức đã bị bắt, chẳng
bao lâu sẽ ra tòa. Báo chí vẫn tiếp tục diệt đánh Nhân Văn Bộ 6 Giai Phẩm Mùa
Xuân[54].
Bộ 6 đã buông nhau ra. Bọn Nhân Văn Giai Phẩm cũng ô-rơ-voa[55]nhau
hết (...) Sỹ Ngọc đóng cửa, miễn tiếp khách. Bản thân tôi, do chỗ đã tự giác
đình bản tư tưởng thù địch (thứ tự giác kết quả của áp lực...) nên mọi mặt
khác, tôi cũng đình bản cả giao du, đình bản cả việc viết lách. Có nên đi gặp
những đồng chí lãnh đạo để hỏi những việc cần phải làm không? Ði thì lại sợ bị
hiểu lầm. Nhưng nếu ngồi nhà, tiêu cực đợi, có khi còn bị hiểu lầm gấp bội.
(...)
Bọn Ðang - Minh Ðức - Thụy An thân thì bị cầm tù, tội ác thì đem
bêu đầu trên báo chí. Vai trò của bọn chúng trong các vụ phá hoại 3 năm đang được
vạch trần. Phan Khôi thì đóng cửa, nằm khàn, không đọc báo. Trương Tửu, Trần Ðức
Thảo làm gì? Còn cả loại B chúng tôi hiện ra sao? Làm gì? Trần Dần, Hoàng Cầm,
Lê Ðạt đang tiếp tục kiểm thảo ở cơ quan, cùng với những Quang Dũng, Trần Lê
Văn, v.v...
Chúng tôi đi sâu vào kiểm điểm sáng tác hơn nữa. Kiểm điểm sáng
tác cho sâu mới thật là khó sao! Cứ như phải rứt bỏ một mảng thịt của
mình.(...) Tôi chịu cái hình phạt ấy, nhẫn nại và đau khổ. Hình phạt của một
người bị bung dừ (...) Tôi vừa là một tội nhân, vừa phải cố tách mình ra, làm một
đao phủ thủ, hành hạ cái chủ nghĩa xét lại có thực trong tôi và đám Nhân
Văn"[56].
Những người nhân văn ấy, đã phải nhận tội, phải
"cắt bỏ những mảng thịt của mình", phải tự chửi rủa mình, phải tìm gặp
lãnh đạo, phải tố cáo bạn bè để xin một chút ơn huệ thừa, nhưng rồi cũng không
ai thoát được guồng máy, không ai tránh khỏi bị "ninh nhừ".
Con người nhất định thắng ấy, sau trận Thái Hà, đã
thua, đã hàng, đã nhận tội, đã ly khai những lý tưởng ngày trước, đã phải đứng
về phía bên này, để nhìn "bọn" bên kia: gồm những "tên
thủ lĩnh chủ nghiã xét lại" Nguyễn Hữu Đang, "tên phá hoại" Minh
Đức, "con mụ gián điệp" Thụy An..., đã xuống đến nấc thang cuối cùng
của sự "giẻ rách hoá" con người.
10/12/ 59, Trần Dần ghi: "Sớm mai tòa án xử Thụy An
gián điệp và Nguyễn Hữu Ðang phá hại, cả hai: hiện hành. Tôi không có giấy gọi
cho dự, có lẽ vì không có vị trí gì ở đó. Không phải là nhân chứng, cũng không
phải là đại biểu của nhân dân...
Người có một cái gì văng vắng. Tôi đã có đứng với nhóm Ðang cầm
đầu. Tôi đã ly khai với "lý tưởng" đó. Cả khi đứng ở đó, cả khi ly
khai, cả bây giờ, tôi vẫn cứ rớm máu. Chao ơi! Con đường để đi đến chỗ
"Đúng" mới nhiều máu làm sao? Tương lai có để dành cho tôi nhát dao
nào nữa không? Đang đã nhìn thấy cái sai lớn của Đang chưa?(...)
Ngoài trời mưa bụi. Rét xoàng. Không có gió. Ðôi lúc vài tiếng
chuông xe đạp. Năm nay rét muộn. Ðang ra tòa cuối năm. Tôi cũng không thể nào
nhởn nhơ với sự kiện này. Chao ôi! Con đường để đi tới chỗ "Ðúng" mới
nhiều máu làm sao!"[57]
Từ lâu "ghi trở nên một hình phạt". Nhưng vẫn
ghi.
Cuốn sổ 1958, ghi lại con đường của những người muốn ngoi lên để
đi đến chỗ "Đúng". Ai cũng muốn tìm một đường "máu" để
thoát thân: biết đâu Đảng chả đoái thương mà nghĩ lại? Phương tiện nào cũng tốt
kể cả "khai". Cả "tố".
Bao nhiêu khuôn mặt đã bước trên con đường "nhiều máu
"ấy? Trần Dần ghi. Bao nhiêu khuôn mặt đã vo ve sự "Đúng" ấy? Trần
Dần ghi. Bao nhiêu tên tuổi đã đạt được sự "Đúng" ấy? Trần Dần ghi.
Bao nhiêu khuôn mặt đã "Sai." Trần Dần ghi.
Cả đúng lẫn sai đều lầm than, đều tiến dần tới tha hóa. Họ tan
tác cả. Họ chia tay. Có những oán hận, căm thù. Chính quyền đã thành công trong
sự "giẻ rách hoá" con người, như lời Lê Đạt.
Thành công lớn nhất của guồng máy là đã đánh vào những yếu tố
thiêng liêng nhất của con người: đánh vào tình bạn, tình người, đánh tan tác hết.
Những người nhân văn không chết, nhưng họ bị rút máu,
rút gân, rút dần sinh lực. Họ đều rời rã, đều muốn hàng. Nhiều người đã đầu
hàng, trong đó có Trần Dần. Họ muốn được lãnh đạo thương xót, họ muốn được lãnh
đạo đoái hoài. Họ đã xuống đến đáy vực, họ chịu hết nổi. Họ sẵn
sàng "chút lòng trinh bạch từ nay xin chừa" nhưng người ta
vẫn lạnh lùng quay đi. Người ta vẫn không cho ngoi lên. Cái phận người nhỏ
nhoi. Phận người nhân văn bị sa lầy, lún xuống, trong thời không
nhân văn của dân tộc mình. Câm và điếc. Như đã chết.
Và điều đó chỉ có mỹ học khổ đau của Trần Dần mới viết
nên được.
[8] Vũ Tú Nam, Những ngày thử thách, hồi
ký, chép lại 25/10/2006 (tạp chí Nhà Văn số 3/2007), mạng Talawas.
[16] Theo lịch trình sau:16/11/46, Tự vệ Hải Phòng được lệnh
chuẩn bị chống Pháp. 30/11/46, xung đột ở Đồ Sơn. 7/12/46, Võ Nguyên
Giáp ra lệnh sửa soạn tấn công. 8/12/46, Hà Nội đào hầm, đục tường
xuyên nhà nọ sang nhà kia. 10/12/46, Hà Nội bắt đầu tản cư. 20/12/46, lệnh
kháng chiến từ Hà Nội, ban hành ở Nam Bộ.
[25] Từ Bích Hoàng, Vạch thêm những hoạt động đen tối của
một số cầm đầu trong nhóm phá hoại Nhân Văn Giai Phẩm, VNQĐ, số 5, tháng
5/1958.
[30] Anarchiste thường được dịch là vô chính phủ, chỉ
đúng trong nghiã chính trị (nghiã gốc), nhưng nói rộng ra, anarchistecòn
có nghiã là quậy, phá, loạn, không chịu bất cứ một thứ kỷ luật sắt
nào.
[31] Phần lớn văn nghệ sĩ lúc ấy đều ở trong quân đội. Những
người chủ chốt trong nhóm phản kháng gồm: Hoàng Cầm, Đỗ Nhuận, Hoàng Tích Linh,
Trúc Lâm, với "mưu sĩ số 1" Đặng Đình Hưng, "mưu sĩ số 2" Tử
Phác và Lê Đạt. Nhóm quy tụ được gần 30 văn nghệ sĩ. Vũ Tú Nam và Từ Bích Hoàng
cũng "cùng chí hướng", Đỗ Nhuận là thành phần "chủ chốt", cả
ba người này sau quay lại viết bài đánh Trần Dần và NVGP.
[46] Nguyên Ngọc, Con đường đi của Phùng Quán, con đường
sai lầm điển hình của một người viết văn trẻ, VNQĐ, số 4, tháng 4/1958.
CHƯƠNG 12
HOÀNG CẦM
(1922-2010)
Những văn nghệ sĩ thành viên chính của NVGP phần lớn đều đã giữ
trọng trách trong nền văn nghệ kháng chiến: Lê Đạt làm thư ký riêng cho Trường
Chinh (1947), rồi phụ tá cho Tố Hữu (1949). Tử Phác, làm trưởng phòng Văn Nghệ
Tuyên Huấn Trung Ương (1951). Đặng Đình Hưng, đoàn trưởng kiêm chính trị viên
đoàn Văn Công Nhân Dân Trung Ương (1952). Hoàng Cầm, đoàn trưởng Văn Công Tổng
Cục Chính Trị (1952). Trong bài Múa sạp thấu lòng Tử Phác[1]Hoàng Cầm cho biết, thời 51- 52, Tử Phác là
"cấp trên" của ông, chính Tử Phác đã "chỉ thị" cho Hoàng Cầm
(trưởng đoàn văn công) và Mai Sao, nghiên cứu và thực hiện điệu múa sạp.
Những chi tiết trên đây giải thích tại sao NVGP có thể thành tựu
được, bởi những văn nghệ sĩ chủ trương phong trào, nắm giữ các cơ sở chính của
nền văn nghệ kháng chiến lúc bấy giờ: Trong quân đội, Tử Phác trách nhiệm
báo Sinh Hoạt Văn Nghệ (tiền thân của Văn Nghệ Quân Đội). Về dân
sự, Lê Đạt và Nguyễn Hữu Đang trách nhiệm tờ Văn Nghệ. Hoàng Cầm và Đặng
Đình Hưng điều khiển toàn bộ Văn công quân đội và dân sự. Từ tháng 1/1956,
Hoàng Cầm nắm nhà xuất bản Văn Nghệ, vì vậy mà một số tác phẩm không chính
thống đã được in trong những năm 1956 -1958.
Hoàng Cầm sinh ngày 22/2/1922, tại làng Phúc Tằng, huyện Việt
Yên, tỉnh Bắc Giang; nguyên quán làng Lạc Thổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh;
mất ngày 6/5/2010 tại Hà Nội. Tên thật là Bùi Tằng Việt (chữ ghép của Phúc Tằng
và Việt Yên). Cha: Bùi Văn Nguyên, dạy học và làm thuốc, có thời đã theo Quốc
Dân Đảng, là bạn của Xứ Nhu, tức Nguyễn Khắc Nhu. Mẹ: Nguyễn Thị Duật, bán hàng
xén. Bút danh khác: Lê Thái, Lê Kỳ Anh, Bằng Phi... Học tiểu học ở Bắc Giang.
1937, đỗ Cao đẳng tiểu học ở Bắc Ninh. 1938, ra Hà Nội học trường Thăng Long;
1940, đỗ tú tài.
Làm thơ từ 8 tuổi. Những bài thơ đầu tiên được đăng trên
báo Bắc Hà, năm 1936, ký tên Bùi Hoài Việt, có truyện ngắn đăng trên báo Đông
Pháp.
Tác phẩm thành danh Hoàng Cầm là kịch thơ Hận Nam Quan viết
năm 1937, ở tuổi 15, lúc còn học đệ tứ ở Bắc Ninh (in năm 1942). Hận Nam
Quan được dậy trong vùng quốc gia trước 1954.
1938, đỗ Diplôme (Cao đẳng tiểu học) ở Bắc Ninh. Lên Hà Nội học
trường Thăng Long và bắt đầu nghề văn. 16 tuổi, vừa học vừa làm cho nhà xuất bản
Tân Dân và tạp chí Tiểu Thuyết Thứ Bẩy của Vũ Đình Long. Sáng tác nhiều truyện
ngắn dưới bút hiệu Hoàng Cầm. Nổi tiếng với Hận ngày xanh - phóng tác
Graziella của Lamartine và những truyện rút trong Ngàn lẻ một đêm. Năm
1940, đỗ Tú Tài, tiếp tục sáng tác và làm việc với Vũ Đình Long từ 40 đến 44.
1940, cưới người vợ đầu Hoàng Thị Hoàn.
1942 viết kịch thơ Kiều Loan.
Cuối 1944, vì tình hình chiến sự, Mỹ ném bom chợ Hàng Da, nhà xuất
bản Tân Dân phải dọn về làng Tám ở ngoại thành. Hoàng Cầm trở về Bắc Giang đưa
gia đình về quê Thuận Thành.
Tháng 9/1945, Hoàng Cầm cùng Hoàng Tích Chù lập ban kịch Đông
Phương. Ngày 26/11/46, Kiều Loan được trình diễn lần đầu tại nhà Hát
Lớn Hà Nội. Buổi duy nhất, rồi bị Trần Duy Hưng, Chủ tịch Ủy ban Giải phóng Hà
Nội ra lệnh cấm, lý do: Pháp đã tấn công Hải Phòng. Ban Kịch Đông Phương
đem Kiều Loan đi lưu diễn ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Sơn Tây, Thái Bình... tại các
đình làng.
Ngày 19/12/46, chiến tranh bùng nổ, ban kịch Đông Phương phải giải
tán. 1947-1948: Hoàng Cầm và Tuyết Khanh (diễn viên chính, đóng vai Kiều Loan)
sống chung, giữa 1947, hai người cùng gia nhập Vệ Quốc Đoàn. Hoàng Cầm sáng
tác Đêm liên hoan. Thành lập Đội văn nghệ tuyên truyền đầu tiên trong quân
đội. Điều khiển và phát triển đoàn Văn Nghệ Liên Khu Việt Bắc từ 1948 đến 1952.
1948, sáng tác Bên kia sông Đuống.
Tháng 7-8/1950, Đại Hội Văn Nghệ I họp tại Việt Bắc, quyết
định loại trừ:tuồng, chèo, vọng cổ, và kịch thơ... ra khỏi nền văn
nghệ cách mạng. Hoàng Cầm phải tuyên bố "treo cổ" kịch thơ của
mình. Việc này sẽ được ông phản bác trong băng ghi âm - chúng tôi sẽ nói đến
sau.
Tháng 7/1952, tướng Nguyễn Chí Thanh điều động Hoàng Cầm về làm
đoàn trưởng đoàn Văn Công Tổng Cục Chính Trị đến đầu năm 1955.
1954, Hoàng Cầm, được cử tổ chức buổi Liên hoan mừng chiến thắng
Điện Biên Phủ, đưa vào màn quan họ Bắc Ninh "Yêu nhau cởi áo cho
nhau", và bị "đả đảo!" "đồi trụy!". Tướng
Nguyễn Chí Thanh can thiệp để đoàn văn công tiếp tục trình diễn hết màn quan họ.
10/10/54 Hoàng Cầm và đoàn văn công Tổng Cục Chính Trị về tiếp
quản Hà Nội.
1/1/1955, Văn công quân đội chia làm ba đoàn, Hoàng Cầm điều
khiển đoàn 1, chuyên về kịch nói, trong thời gian này, ông tham dự việc đòi cải
tổ chính sách văn nghệ quân đội cùng Trần Dần, Tử Phác, Lê Đạt... và phê bình tập
thơ Việt Bắc của Tố Hữu.
Tháng 4/1955, nộp đơn xin giải ngũ hoặc đổi sang Hội Văn Nghệ,
vì bị Cục phó Cục Tổ Chức, thuộc Tổng Cục Chính Trị, buộc phải bỏ bà Lê Hoàng Yến.
Tháng 11/1955, được đổi ngành sang Hội Văn Nghệ, trách nhiệm nhà
xuất bản Văn Nghệ.
Tháng 2/1956, cùng Lê Đạt chủ trương Giai Phẩm Mùa
Xuân. Tháng 9/1956, cùng Nguyễn Hữu Đang chủ trương Nhân Văn.
Tháng 6-7/1958, chịu kỷ luật cùng với Trần Dần, Lê Đạt, Tử Phác,
Đặng Đình Hưng... tuy nhẹ hơn, chỉ bị một năm khai trừ khỏi Hội Nhà Văn, như
Phùng Quán.
1982, bị bắt, tù 18 tháng vì tác phẩm Về Kinh Bắc.
1988, được "phục hồi".
Trong các bài đánh Hoàng Cầm, người ta thường dùng hai chữ "đồi
trụy",nhắm vào đời tư: Hoàng Cầm nghiện thuốc phiện -như Đinh Hùng, Vũ
Hoàng Chương, Tử Phác- và có nhiều vợ. Người vợ đầu, Hoàng Thị Hoàn, là em gái
ông Hoàng Hữu Nghị, hiệu trưởng trường La Clarté ở Bắc Giang, cưới năm 1940,
sinh con trai đầu lòng Bùi Hoàng Kỳ, và hai con gái Bùi Hoàng Yến -kịch sĩ,
Hoàng Cầm nghi bị đầu độc chết- và Bùi Hoàng Oanh, chết đói cùng mẹ năm 1949.
Bà Tuyết Khanh sống chung từ đầu 1947, đến tháng 1/48, sinh con gái, tên là Kiều
Loan, nhưng hai người phải xa nhau. Sau đó ông sống với bà Xuyến, cô hàng xén
chợ Hạnh. Từ tháng 5/1955 Hoàng Cầm sống với bà Lê Hoàng Yến, cựu hoa khôi Hà
Thành, đã có 6 con riêng, ông có với bà Yến hai người con. Ông ly dị bà Xuyến
khoảng 1956. Năm 1985, bà Lê Hoàng Yến đột ngột từ trần vì bị căng huyết áp
trong lúc Hoàng Cầm -sau khi bị bắt, bị tù vì tác phẩm Về Kinh Bắc- bị
bệnh tâm thần.
● Tác phẩm:
- Kịch thơ: Hận Nam Quan, viết 1937, Người Bốn Phương,
1942; Kiều Loan, viết 1942, diễn 1946, Văn Học, 1992; Lên đường, Tân
Dân, 1952; Cô gái nước Tần, Tân Dân, 1952; Trương Chi, chưa xuất
bản, trích trên Văn số 24, ngày 18/10/57, và Trăm hoa đua nở
trên đất Bắc của Hoàng Văn Chí.
- Truyện: Thoi mộng, Tân Dân, 1940; Hai lần chết, Tân
Dân, 1941.
- Kịch: Ông cụ Liêu, viết 1950, in 1951; Đêm Lào
Cai, in 1957.
- Thơ: Mắt thiên thu, viết 1941, mất bản thảo; Bên
kia sông Đuống, viết 1948, Văn Hoá, 1993; Tiếng hát quan họ, in
chung trong tập Cửa biển, 1956; Về Kinh Bắc, viết 1959, Văn Học,
1994; Mưa Thuận Thành, Văn Hoá, 1987; Lá diêu bông, viết
1970, Hội Nhà Văn, 1993; Men đá vàng, truyện thơ, viết 1973, Trẻ,
1989; Về cõi em, viết 1992, chưa in.
- Dịch, phóng tác: Hận ngày xanh, phóng tác Graziella
của Lamartine, Tân Dân, 1940; Bông sen trắng, truyện thần thoại của
Anderson, Tân Dân, 1941; Những truyện thần thoại rút từ Nghìn lẻ một đêm: Mang
xuống tuyền đài, Tân Dân, 1942; Cây đèn thần, Tân Dân,
1942; Tỉnh giấc mơ vua, Tân Dân, 1942;Những niềm tin, dịch thơ
Boualem Khanfa, Algérie, 1965; Mối tình cuối cùng,dịch Dostoievski, Phụ Nữ,
1988, ...
- Trong Hoàng Cầm hồn thơ độc đáo, Đông Tây, 2011, Lại
Nguyên Ân tìm được: Người điên, kịch thơ một màn, 1946; Quê
hương, thơ, Văn Nghệ, 1955;Mẹ tôi kể lại, truyện thơ, Văn Nghệ,
1955; Hoa đào nở trước ngõ, truyện thơ, Văn Nghệ, 1956.
● Địa vị Hoàng Cầm trong văn học
Trong ba nhà thơ tác nhân chính của phong trào NVGP, Trần Dần và
Lê Đạt là đàn em. Hoàng Cầm thuộc thế hệ đàn anh, cùng thời với Vũ Hoàng
Chương, Đinh Hùng.
Nét khác biệt giữa ba nhà thơ nằm trong chữ nghiã, ví dụ cùng bối
cảnh sông nước:
Thuyền đi núi cũng phiêu bồng
Đáy sông lẩn sắc cầu vồng trao nghiêng...
Sông sâu chớp mắt thần linh
Thuyền qua thạch động thấy mình cao bay
Thơ Đinh Hùng - Thủy mạc
Thuyền ơi! Tóc chảy đêm vàng
Giai nhân sóng soải hai hàng chiêm bao
Chồng tôi phóng ngựa phương nào
Mà dây vó sắt dẫm vào tuổi thơ
Thơ Hoàng Cầm- Kiều Loan
Trăng liềm một mảnh lâng lâng bạc
Nghiêng xuống cành dương lá lá rơi
Nhịp theo tiếng trúc cao vời
Đất quay ngược hướng mơ trời Thuấn Nghiêu
Thơ Vũ Hoàng Chương
Tâm sự kẻ sang Tần
Thơ Đinh Hùng thanh thoát, nối kết âm-dương, trời đất-thủy thần.
Đinh Hùng là nhà thơ của nước, của cõi âm. Thơ Hoàng Cầm diễm lệ, bi đát, hùng
tráng hoà với đau thương, khổ đau tan trong mộng ước. Hoàng Cầm là nhà thơ của
con người. Thơ Vũ Hoàng Chương điêu luyện, cao lộng, ẩn chí lớn tầm vóc càn
khôn, Vũ Hoàng Chương là nhà thơ của vũ trụ.
Ba tài năng lớn của thi ca Việt Nam thế kỷ XX. Ba phận số. Phải
chăng thơ luôn luôn vận vào người, nên trong ba nhà thơ, chỉ mình Hoàng Cầm mắc
nạn chữ suốt đời. Vũ Hoàng Chương, trong Nhớ Đinh Hùng có nhắc đến Dạ
Đài:
"Hùng đứng làm cố vấn cho một nhóm thi hữu trẻ tuổi hơn
trong đó có Vũ Hoàng Địch, Trần Dzần, Trần Mai Châu để xuất bản một giai phẩm lấy
tên Dạ đài. Quả là cái tên "tiền định"[2].
Khi Đinh Hùng mất, 24/8/1967, Vũ Hoàng Chương làm câu đối đặt
trước áo quan:
Hồn sáu đường mê tìm Phật độ
Tình muôn trang sử mặc Trời ngâm
Và trong bài ai điếu trước mộ, câu:
Mênh mang một tiếng cười dài
Hồn lay bốn vách dạ đài cho tan!
Vũ Hoàng Chương tổng kết đời Đinh Hùng từ Dạ đài đến Mê
hồn ca, Đường vào tình sử ... trong bốn câu thơ hàm súc, gợi buổi
giao thời giữa thơ mới và thơ tượng trưng thập niên 1940 mà
Hoàng Cầm, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, là những đại diện.
Tố Hữu làm thơ từ 1937, nhưng thập niên 40, chưa nổi tiếng.
1946, mới in tập Thơ[3]. Theo Hoàng Cầm trong băng ghi âm,
trước kháng chiến, Tố Hữu đã có thơ đăng báo nhưng chưa ai biết Tố Hữu là ai,
riêng ông để ý đến bài Hồ Chí Minh vì nó có những câu thơ "khát máu"
quá đáng. Tựu trung, Tố Hữu đáp ứng yêu cầu thơ tuyên truyền, thơ đánh địch,
thơ ca tụng lãnh tụ, theo đúng đường lối của Đảng mà Trường Chinh đã vạch
trong Đề cương văn hoá Việt Nam (1943) vàChủ nghiã Mác và văn
hoá Việt Nam (1948).
Tập Việt Bắc, in năm 1954, xác định Tố Hữu là nhà thơ
hàng đầu của Đảng. Sau khi dẹp xong NVGP, uy thế Tố Hữu càng lừng lẫy, thơ ông
trở thành kinh điển trong văn chương cách mạng sau thơ Hồ Chí Minh. Trong số những
người viết về Tố Hữu, Đặng Thai Mai có nhận định xác đáng hơn cả:
- "Tố Hữu là nhà thơ chỉ viết để phục vụ cách mạng từ trước
đến sau".
- "Tình cảm trong thơ Tố Hữu là tình cảm của một chiến sĩ cộng
sản, luôn luôn đứng trên lập trường của Đảng mà tranh đấu, suy nghĩ, cảm
xúc".
- "Tưởng không cần nhắc lại một lần nữa rằng, trong các yếu
tố đã xây dựng nên cái đặc sắc của thi sĩ, như trên kia đã nói, thì chính là hoạt
động cách mạng theo đường lối của Đảng. Không có cái nội dung cách mạng đó,
không có lập trường tư tưởng đó, thì cũng không có thơ Tố Hữu"[4]
Đó là vị trí của Tố Hữu trong văn học.
Trong kháng chiến, Hoàng Cầm, Văn Cao, Phạm Duy, là ba nghệ sĩ
có những đóng góp lớn. Ngoài sáng tác, Hoàng Cầm-Phạm Duy còn trình diễn khắp
chiến trường Việt Bắc, xây dựng tinh thần kháng chiến quân. Giọng ngâm "oanh
vàng đất Bắc" của Hoàng Cầm, xung động tinh thần tự hào của người
lính Vệ quốc:"Rằng ta là Vệ Quốc Đoàn". Tiếng hát Phạm Duy giục
giã thanh niên "cùng nhau xông pha lên đường" bảo vệ tổ quốc.
Hoàng Cầm ghi: "Từ sau cách mạng tháng Tám, Văn Cao với
tôi và Phạm Duy đã trở thành bạn thân, lúc nào, ngày nào cũng có nhau, biểu diễn,
sáng tác đều có nhau, thậm chí đi nghe hát ca trù (ả đào) hoặc đi uống rượu, đi
cà phê sớm tối đều có nhau, khiến rất nhiều văn nghệ sĩ lúc bấy giờ đã gọi ba đứa
chúng tôi là: "Bộ ba bất khả li” (Les trois inséparables). Vậy thì Văn Cao
phải có mặt trong tập Giai Phẩm [Mùa Xuân] này chứ?"[5]
Cho kháng chiến, Hoàng Cầm đã góp hai lần xương máu: máu xương
văn nghệ trong 9 năm sáng tác, trình diễn. Và xương máu gia đình: một vợ, Hoàng
Thị Hoàn và một con, Bùi Hoàng Oanh, chết đói, 1949. Một em trai, Bùi Như Yên,
chết trận, 1952.
Công lao Hoàng Cầm đối với văn học và kháng chiến giải thích một
số vấn đề cụ thể:
- Hoàng Cầm có đủ tư thế văn nghệ để mời Văn Cao, Phan Khôi tham
gia NVGP.
- Hoàng Cầm là người Nguyễn Hữu Đang thuyết phục giúp Nhân Văn
trước tiên.
- Hoàng Cầm có đủ uy tín cách mạng để đương đầu với Tố Hữu, bênh
vực Trần Dần.
- Khi bị thanh trừng, Hoàng Cầm đã viết Về Kinh Bắc từ
1959, gián tiếp kết tội Đảng.
- 1982, Hoàng Cầm lại bị bắt, chính quyền tịch thu bản thảo Về
Kinh Bắc.
Cuộc đời Hoàng Cầm gắn bó với lịch sử, không chỉ lịch sử kháng
chiến, lịch sử NVGP, mà lịch sử dân tộc. Từ tác phẩm đầu tay Hận Nam Quan, Hoàng
Cầmđã xác định con đường dân tộc: phải đề phòng phương Bắc, phải ghi nhớ Hận
Nam Quan.
● Hận Nam Quan
Phi Khanh bị bắt sang Tàu, Nguyễn Trãi bí mật theo cũi cha, để
cùng chết. Tới Nam Quan, Phi Khanh bắt con phải trở về, tìm đường khởi nghiã. Kịch
thơHận Nam Quan, trước 1954, đã được giảng dạy trong vùng quốc gia, học
sinh thuộc lòng những đoạn thơ:
- Con yêu quý! Chớ xuôi lòng mềm yếu
Gác tình riêng, vỗ cánh trở về Nam!
Con về đi! Tận trung là tận hiếu
Đem gươm mài bóng nguyệt dưới khăn tang
(...)
- Ôi sung sướng, trời sao chưa nỡ tắt
Về ngay đi ghi nhớ Hận Nam Quan
Bên Kim Lăng cho đến ngày nhắm mắt
Cha nguyện cầu con lấy lại giang san.
Đó là trích đoạn bài học thuộc lòng thời tiểu học, nhưng toàn thể
kịch thơ là một tác phẩm "cổ điển" của học sinh trung học. Trong những
đêm văn nghệ Tết, học sinh miền Nam thường có màn trình diễn Hận Nam
Quan. Hoàng Cầm đi vào lòng dân tộc như thế.
Hoàng Cầm 15 tuổi, nhưng thơ không hề non nớt, đã có những
câu "tiên tri":
Đây là ải địa đầu nước Việt
Khóc trong lòng ghi nhớ Hận Nam Quan
15 tuổi, nhắc lại trang sử oanh liệt:
Đây Nam Quan, quân Nguyên rời biển máu
Thoát rừng xương, tơi tả kéo nhau về
15 tuổi, đe dọa quân Minh:
Hỡi quân Minh! Sao không nhìn lịch sử
Mà vội vàng ngạo nghễ xuống Nam phương?
15 tuổi, xác định lòng quật khởi của dân tộc:
Một ngày mai, khi Trãi này khởi nghiã,
Kéo cờ lên, phất phới linh hồn cha
Gạt nước mắt, nguyện cầu cùng thiên địa
Một ngày mai, con lấy lại sơn hà.
Nhưng bọn bán nước cầu vinh nào có nghe.
Đó là bi kịch Hoàng Cầm và bi kịch chung của dân tộc.
● Hoàng Cầm - Tuyết Khanh - Vũ Hoàng Chương
Tháng 9/1945, Hoàng Cầm, Hoàng Tích Chù, Hoàng Tích Linh[6], Kim Lân, Trần Hoạt lập ban kịch Đông
Phương. Hoàng Tích Chù làm trưởng ban. Đông Phương thường lưu diễn ở các tỉnh gần
Hà Nội. Vũ Hoàng Chương kể lại chuyện một người bạn rủ Hoàng (Chương) đi xem kịch: "Hoàng
ạ, ban kịch Đông Phương của bọn Hoàng Tích Chù lực lượng có vẻ khá lắm (...)
Tin đích xác đây này: Tối mai ban kịch Đông Phương trình diễn tại Thái Bình, và
diễn liền mấy tối sau nữa. Ngay tỉnh lỵ, Hoàng có đi với tôi sang bên đó không
nào? (...) Đối với họ Phan, người ta còn khách sáo ít nhiều; chứ đối với
Hoàng thì, toàn ban đều thân mật, coi như "cố nhân". Có lẽ bởi họa sĩ
Hoàng Tích Chù -em ruột Hoàng Tích Chu- là chỗ thế nghị của Hoàng chăng? Hay bởi
tác giả quan trọng của ban kịch là thi sĩ Hoàng Cầm, chỗ thanh khí của Hoàng, từng
đã gặp nhau ở xóm Niềm bên Kinh Bắc?[7]
Vũ Hoàng Chương vừa muốn "khoe" ban kịch Đông Phương
coi mình là "cố nhân" mà cũng kín đáo kính trọng Hoàng Cầm như một bậc
tài tử. Thời điểm ấy, mục đích Hoàng Cầm là dựng Kiều Loan nhưng tìm
gần một năm, vẫn chưa "thấy" Kiều Loan. Đến tháng 8/46, tìm được Tuyết
Khanh, bắt đầu dựng Kiều Loan, do Hoàng Tích Linh đạo diễn; Tuyết
Khanh trong vai Kiều Loan; Hoàng Cầm vai Hiệu Úy... Về những buổi tập dượt Kiều
Loan, Hoàng Cầm kể lại: "... Nguyễn Huy Tưởng, hầu như không buổi tập
nào là vắng mặt anh (...) Cả nhà thơ Vũ Hoàng Chương không biết vì quá mê nàng
Kiều Loan của vở kịch hay mê người sắm vai Kiều Loan mà từ ngày đầu đọc vở, anh
đã trở nên một khán giả quá siêng năng cả đến khi Kiều Loan phải "tản
cư" đi diễn ở mấy làng trong tỉnh Bắc Ninh. Ngày nào anh cũng đến từ sớm,
có khi nán lại dùng cơm trưa với diễn viên tại nhà anh Chù. Còn hai anh Lưu
Quang Thuận[8] Trúc Đường[9] là hai kịch tác gia mấy lần đến
xem tập và phỏng vấn (...) và chuẩn bị ấn hành trọn vẹn kịch thơ Kiều Loan ngay
trong năm 1946"[10].
Hoàng Cầm đáp lại Hoàng Chương bằng sự tương kính. Những tài
năng lớn thường kính trọng nhau ngay từ buổi đầu. Nhưng rồi có chuyện ngang
trái xẩy ra: hai nhân tài cùng yêu một người đẹp. Vũ Hoàng Chương lúc đó đã có
vợ là Đinh Thục Oanh, chị ruột Đinh Hùng, từ 1944, và Hoàng Cầm cũng đã có vợ
là Hoàng Thị Hoàn và ba con, tại quê nhà. Vũ Hoàng Chương kể tiếp câu chuyện
tình lạ lùng, đã khai sinh những câu thơ nổi tiếng với chữ Khanh đầy
bí mật, và cũng là lịch sử một đoạn đời kháng chiến:
"Tối hôm đó diễn vở kịch thơ Lên Đường của Hoàng Cầm. Chỉ
có 4 vai - đều vai chính cả!- Nhưng điều đáng nói là một trong bốn vai ấy đã do
Tuyết Khanh đóng. "Người đẹp" này, Hoàng đã từng chiêm ngưỡng trên màn
bạc rồi -Phim Cánh đồng ma của ông bạn Đàm Quang Thiện[11] và cũng chẳng thấy gì đáng mê lắm.
(...) Thế mà -ai học đến chữ ngờ!- cơn mê đã bắt đầu chiếm đoạt Hoàng trọn vẹn,
cách hai tuần sau, để kéo dài mãi, đến giờ phút này cũng chưa hẳn nhoà tan đấy
(...)
"Nửa đời sương gió ngang tàng lắm
Mềm, chỉ vì Khanh, một trái tim..."
Ôi, chỉ vì Khanh! Vì Khanh! Chắc chắn Khanh ngạc nhiên. Mà chính
Hoàng lại đã ngạc nhiên trước hết. Ngạc nhiên gấp hai lần Khanh, gấp bốn lần
Hoàng Cầm. Và gấp cả một trăm lần thiên hạ (...) Và hình như sau chuyến lưu diễn
Thái Bình, mọi người đang sửa soạn tập vở Kiều Loan của thi sĩ Hoàng Cầm thì phải.
(...) Thật ra, Khanh còn đang bận tập Kiều Loan, Hoàng cũng đang bận viết bài
cho Thế sự, chẳng ai muốn mua dây tự buộc mình. Chỉ cốt hợp thức hoá mỗi liên hệ
của Hoàng và Khanh thôi. Đừng để ai phá đám. Thí dụ nhà thơ Hoàng Cầm (...)
Khăng khít như vậy mà rồi sau đêm mười chín tháng mười hai Dương lịch[12] Khanh và Hoàng khởi sự lạc nhau. Lạc
thôi chứ chưa mất. Hoàng trên bước tản cư phiêu lưu tới phủ Xuân Trường, lòng
nhớ Khanh càng nổi dậy. Chẳng biết con người bạc mệnh kia đã phải trải qua những
nhịp cầu đoạn trường nào thêm? Hiện nay ở đâu: Hưng Yên, Phủ Lạng Thương hay Bắc
Kạn?...
Khanh của Hoàng ơi, lửa bốn phương
Khói lên ngùn ngụt chén tha hương,
Nghe vang sóng rượu niềm ly tán
Chạnh xót nòi thơ buổi nhiễu nhương" (...)
Một đêm trăng, Thứ Lang[13] dẫn Khanh từ Đống Năm[14] vào, cùng với Kiều Liên[15]. Mới tạm xa nhau chưa đến hai mươi tháng
mà khi tái ngộ nhìn nhau cứ ngơ ngáo như trong mộng ấy thôi!
Khanh đã về trong lửa Túy hương
Khoé thu lộng gió tóc cài sương (...)
Qua năm 1949, Hoàng dời chỗ ở sang làng Duyên Tục (thường gọi là
làng Tuộc), rồi lại chuyển tới huyện Đông Quan (làng Trầu). Nhưng cách Đống Năm
vẫn không xa. Và như vậy, Khanh vẫn gần Hoàng. Vì Khanh đã ly khai hẳn với ban
kịch Đông phương, không theo họ đi lang thang lưu diễn vùng Bắc nữa, mà về ở
Thái Bình, sống đơn chiếc như một ẩn sĩ thời loạn (...) Đầu năm 1950,
Hoàng trở về Hà Nội, giữa khi súng đạn tràn tới Liên khu ba, Đống Năm bị phá
nát, chẳng hiểu Khanh trôi dạt nơi nào[16]".
Tuyết Khanh và Hoàng Cầm rời Hà Nội sau ngày toàn quốc kháng chiến;
giữa 1947, hai người gia nhập Vệ Quốc Đoàn chiến khu 12, Hoàng Cầm thành lập Đội
văn công tuyên truyền đầu tiên trong quân đội cùng với Hoàng Tích Linh,
Trúc Lâm, Văn Chung... Giữa đường gặp Phạm Duy, Ngọc Bích, cùng nhập bọn.Tuyết
Khanh có mang 6 tháng, phải ở lại "an dưỡng trong một quân y viện ở huyện
Hữu Lũng", Hoàng Cầm, Phạm Duy tiếp tục đi lưu diễn ở Việt Bắc. Đầu
năm 1948, Tuyết Khanh sinh con gái là Kiều Loan, nhưng hai người mất liên lạc.
Tuyết Khanh về Thái Bình rồi hồi cư về Hà Nội. 1950, Vũ Hoàng Chương về Hà Nội
gặp lại Tuyết Khanh. 1952, Ban kịch Sông Hồng diễn Thằng cuội của Vũ
Hoàng Chương, Hoàng mời Khanh đóng vai Hằng Nga nhưng nàng từ chối. "Từ
đó, Hoàng với Khanh chẳng còn sánh vai nhau trong ảo mộng sân khấu một lần nào
nữa. Hoàng cũng chẳng còn đủ hào hứng để viết thêm một vở kịch thơ nào"[17].
Thời ấy, Vũ Hoàng Chương đã nổi tiếng với Thơ say (1940), Mây (1943)
và kịch thơ Trương Chi (1944) gồm ba vở: Trương Chi, Vân Muội và Hồng
Điệp.Trương Chi hay hơn cả, nhưng chưa thể sánh với Kiều Loan của
Hoàng Cầm. Hoàng Chương nể Hoàng Cầm vì lẽ đó. Đến 1951, Vũ Hoàng Chương mới viết
kịch thơ Tâm sự kẻ sang Tần[18]. Nếu không có Kiều Loan, chưa
chắc đã có Tâm sự kẻ sang Tần, đó là hai tác phẩm lớn của thi ca Việt Nam.
Vì Tuyết Khanh mà Hoàng Chương bỏ kịch thơ.
Vì cách mạng, mà Hoàng Cầm phải treo cổ kịch thơ.
Hai thi tài. Hai mệnh số. Hai quyết định bi đát.
● Kiều Loan
Thân phận Kiều Loan lênh đênh như toàn bộ tác phẩm của
Hoàng Cầm. Khởi thảo cuối xuân 1942 đến giữa 1943, đã tạm xong, Hoàng Cầm định
đưa lên sân khấu Bắc Giang, nhưng bị viên chánh công sứ Pháp, thạo tiếng Việt,
kiểm duyệt bỏ. Đến cuối 1943, ban kịch Hà Nội của Chu Ngọc định dàn dựng, cũng
bị kiểm duyệt Pháp chặn.
Luyện tập trong bốn tháng. Trình diễn trong bốn giờ. Sáng
26/11/1946, tại nhà Hát Lớn Hà Nội. Một buổi duy nhất, rồi bị Trần Duy Hưng ra
lệnh đình chỉ. Đó là quyết định sai lầm đầu tiên của cách mạng về Kiều
Loan.
Hoàng Cầm kể: "Chúng tôi vừa hạ màn chót cho vở diễn
lúc 1 giờ 15 phút. Sau những tràng vỗ tay kéo dài thì ông Trần Duy Hưng, Chủ tịch
Ủy ban dân tộc giải phóng thành phố Hà Nội cho người ra mời anh Chù, anh Linh
và tôi lên trụ sở Ủy ban. Ông ra lệnh cho chúng tôi phải hoãn những đêm diễn đã
được Ủy ban cho phép. Lý do: quân đội Pháp đã đánh Hải Phòng và càng ngày càng
khiêu khích trắng trợn Hà Nội. (...) Thế là số phận vở kịch lại lênh đênh. Tôi
ngậm ngùi se sẽ ngâm câu Kiều:
Phận bèo bao quản nước sa
Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh..."[19]
Lần thứ nhì, 1948, Hoàng Cầm định trình diễn Kiều Loan trong
ngày khai mạc Đại Hội Văn Hóa Toàn Quốc[20]:
"Tôi đưa đơn đến tận tay anh Nguyễn Đình Thi, lúc đó đang
là Tổng thư ký Hội Văn hoá cứu quốc, đơn kèm theo kịch Kiều Loan. Rồi tôi hồi hộp
chờ đợi (...)
Không khí cuộc gặp mặt bỗng trở nên nghiêm trang và lời mở đầu
câu chuyện của anh Thi lại càng làm cho nó thêm lạnh nhạt, căng thẳng:
- Tôi đã nhận được vở kịch của anh. Cả lá đơn nữa. Anh Nguyễn
Huy Tưởng và anh Nguyên Hồng đã giới thiệu Kiều Loan với tôi. Tôi cũng đã đọc
qua (...)
- Rằng hay thì thật là hay!
Hai tiếng cuối câu đay xuống, tôi nghe như có vẻ vừa giễu cợt vừa
hững hờ. Và anh Thi cũng chỉ nói có thế. Không hơn nửa lời. Rồi anh thu dọn sổ
sách, như có ý bảo tôi "Về đi!". Cũng để cho anh lính mới làng văn biết
rằng mỗi giờ mỗi phút với anh Thi là vàng ngọc đấy!"[21].
Cũng Nguyễn Đình Thi này, năm 1956, sẽ nài nỉ Hoàng Cầm, lúc đó
trách nhiệm nhà xuất bản Văn Nghệ, in giùm tập thơ không vần sửa thành có vần
theo lệnh Tố Hữu.
Sau lần trình diễn duy nhất tại Hà Nội ngày 26/11/46, Kiều
Loan bị đình chỉ.Hoàng Cầm cùng ban kịch rời Hà Nội, đi lưu diễn ở Bắc
Ninh, Bắc Giang, Sơn Tây, Thái Bình, đem Kiều Loan diễn ở các đình
làng vùng Bắc Ninh, được gần một tháng.
Ngày 19/12/46 chiến tranh bùng nổ, ban kịch Đông Phương phải
giải tán. Kịch bản Kiều Loan, bị thất lạc trong những năm kháng chiến.
Bản chính do Lưu Quang Thuận giữ, khi Pháp nhẩy dù Bắc Cạn, bản thảo của các
văn nghệ sĩ phải ném xuống hồ Ba Bể, trong đó có Kiều Loan.
Mãi đến 1970, nhờ một số bạn cũ còn giữ được bản đánh máy, Hoàng
Cầm kết hợp, "trùng tu" lại bản thảo 1946. 1992, Kiều Loan được
xuất bản sau khi sáng tác 50 năm.
Kiều Loan chính là hoá thân của Hoàng Cầm. Những nghệ sĩ lớn
thường tạo những tình huống có tính cách tiên tri. Sáng tác năm 1942, lúc Hoàng
Cầm 20 tuổi và đã nổi tiếng. Trước một "tương lai sáng lạn" như thế,
tại sao người thanh niên ấy lại nghĩ đến một nhân vật bi thảm như Kiều
Loan? Rồi Kiều Loan sẽ "vận" vào số phận Hoàng Cầm như một
thực tại đớn đau mà người nghệ sĩ không thoát khỏi, trong cuộc đổi đời của đất
nước. Kiều Loan trong thời Pháp thuộc và dưới thời cách mạng, đều bị
cấm, không vì tình cờ, mà vì nội dung tác phẩm:
Kiều Loan, con gái một cựu thần Tây Sơn, đi tìm chồng Vũ Văn Giỏi.
Mười năm trước, theo lời Kiều Loan, Vũ lên đường giúp Quang Toản sau khi Quang
Trung băng hà. Tới Phượng Hoàng Trung Đô, nghe tin Bùi Đắc Tuyên chuyên quyền,
Vũ ngả theo Nguyễn Ánh, trở thành Vũ tướng quân, bạo tàn càn quét những người
dân chống lại nhà Nguyễn. Kiều Loan giả điên đến Phú Xuân, tại đây, nàng gặp
ông già, thầy cũ của Vũ. Kiều Loan làm huyên náo cửa thành, cố tình bị bắt vào
dinh, để nhìn lại người xưa. Kiều Loan và ông thày cũ bị giam trong ngục. Kiều
Loan uống thuốc độc tự vận cùng với ông già. Trước khi chết, nàng chém người chồng
phản bội.
Kiều Loan, một bi hùng ca bao quát lịch sử dân tộc, dõi vào
những mốc chính: Nam Bắc phân tranh. Nguyễn Ánh cầu viện Pháp để diệt Tây Sơn.
Gia Long thắng trận trở thành độc tài chuyên chế, tiêu diệt những khuynh hướng
đối lập.
Một nội dung như vậy, tất nhiên, không chỉ thực dân Pháp căm giận:
"Vì chính sự bạo tàn Ôi! Nước mắt
Bao nhiêu lần rỏ xuống những hồn oan?
Chính sự gì đi cầu viện ngoại bang
Về tàn sát những người dân vô tội"
Mà tất cả những kẻ cầu viện nước ngoài để vững quyền chấp chính
cũng phải hổ mình. Một triều đình vừa "thống nhất sơn hà", nhưng lệnh
đầu phát ra là lệnh cấm:
... Vua cấm đèn cấm lửa
Cấm dân gian đi lại ở kinh thành
Lệnh thứ nhì là cấm hát:
Vua có lệnh bắt những người hát nhảm
Đầu sẽ bêu sương gió nếp hoàng thành
Nhưng Kiều Loan, giai nhân tuyệt sắc, nào có sợ gì, nàng xuất
hiện như một người điên, nàng cứ hát những lời phản biện:
Chị buồn chị hát vang lừng
Cỏ cây sa lệ núi rừng ngẩn ngơ
Kiều Loan là vở kịch thơ hay nhất của Hoàng Cầm và thời tiền
chiến. Phải mười năm sau, Tâm sự kẻ sang Tần với bút pháp bay bổng của
Vũ Hoàng Chương mới có thể kế vị.
Kiều Loan nói lên chí khí bất khuất của Hoàng Cầm trong thi
ca, tiên tri định mệnh đất nước:
- Về cuộc Cải Cách Ruộng Đất:
Thà giết oan trăm mạng lương dân
Hơn để thoát một tên phản nghịch
- Về phong trào Nhân Văn Giai Phẩm:
Mà trước mắt, cuộc xoay vần thời thế
Gạt ra ngoài hầu hết bậc tài danh
Bọn hủ nho nhan nhản khắp triều đình
Nơi tù ngục chất đầy người nghiã khí
Gỗ mục, thép cùn múa tay trong bị
Lau sậy nghêng ngang làm cột trụ giang sơn
- Về cảnh chiến tranh cốt nhục tương tàn:
Một nước nhỏ mà phân chia Nam Bắc
Xâu xé nhau vì hai chữ lợi danh
Tam vương, ngũ đế, cướp đất phá thành
Mấy trăm năm nghe dân tình xao xao xác
Thay cái đạo làm người bằng giáo mác
Yến ẩm lầu cao... xương máu chan hòa
- Về ảo mộng chiến thắng:
Cờ nêu cao chiến thắng nhuốm chiêu dương
Mà rút lại cũng chỉ là giấc mộng.
Kiều Loan có những câu thơ lạnh người:
Chí lớn từ xưa chôn chật đất
Riêng đàn đom đóm lại thênh thang.
Bọn "đom đóm", Hoàng Cầm đã thấy từ tuổi hai mươi, sau
này sẽ sẽ ngập trời đất Bắc. Các "chí lớn" trong NVGP, và
sau NVGP, đã và hiện còn đang bị chôn vùi trong ngục tối. Nhưng nhà thơ luôn
luôn có lời chót:
Làm mất nhân tâm thì miếu lớn tượng to
Dân đạp dí xuống bùn là hết chuyện.
● Hoàng Cầm - Phạm Duy, Việt Bắc 1947-1948
1947-1948, giai đoạn khởi đầu, và cũng là giai đoạn quyết định số
phận cuộc kháng chiến. Ở thời điểm này, đảng Cộng sản chưa thực sự ra mặt,
chính sách Mác-Lê-Mao chưa chính thức công bố, toàn thể văn nghệ sĩ tương đối
được tự do, họ tin tưởng vào cuộc kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Việt Minh.
Những bài thơ, những bản nhạc hay nhất xuất hiện. Tinh thần xông pha của nghệ
sĩ đã có tác dụng mạnh trên bộ đội và quần chúng. Nếu không có sự trợ giúp đắc
lực của văn nghệ sĩ, diện mạo cuộc chiến chống Pháp chưa biết sẽ ra sao. Hoàng
Cầm kể:
"Một ngày giữa năm 1947- tôi và vợ tôi Tuyết Khanh (...) đã
xông lên một vùng rừng núi đang rất xa lạ với mình, nhập luôn vào Vệ Quốc Đoàn
chiến khu 12, rồi mày mò, tìm bạn, thành lập ngay một đội văn nghệ tuyên truyền,
có thể gọi là đội Văn Công đầu tiên của quân đội (...) đến với từng trung đội,
đại đội Vệ Quốc Quân, dân quân, du kích khắp bốn tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải
Ninh, Lạng Sơn để biểu diễn đủ loại kịch ngắn, kịch nói, kịch cương, ngâm thơ,
hát tốp ca, đơn ca, múa vài ba điệu dân dã học được của đồng bào miền xuôi, miền
ngược (...) Nửa đêm nay tiểu đội A đi phục kích ư? Trung đội C đi quấy rối địch
ư? Chập tối họ vẫn được nghe giọng ngâm thơ sang sảng...
Đêm liên hoan, bạn ơi, đêm liên hoan
Đầu nhấp nhô như sóng bể ngang tàng
Ta muốn thét cho vỡ tung lồng ngực
Vì say sưa tình thân thiết Vệ Quốc Đoàn [22]
Nhiều khi họ lại "đồng ca" luôn theo đội văn nghệ:
Đường ta ta cứ đi
Nhà ta ta cứ xây
Ruộng ta ta cứ cầy
Đợi ngày...
Say sưa, họ còn vỗ tay theo điệu hát:
Ngày mai ta tiến lên
Diệt tan quân Pháp kia
Cười vui ta hát câu tự do...
(Nhạc tuổi xanh, P.D)[23]
Hoàng Cầm tả lại bối cảnh gặp gỡ Phạm Duy trên lộ trình sáng tác
và trình diễn:
"Vào một buổi chiều cuối thu 1947. Trên đường đê sông máng
đi từ đập Takun[24] có ba người, 1 quàng ghi ta, 1 đeo
accordéon, 1 đeo clarinette, ngơ ngác hỏi thăm chỗ đóng quân của Đội Văn Nghệ
Tuyên Truyền khu 12. Đó là anh P.D, Ngọc Bích và Ngọc Hiền, đang tìm về với đội
văn nghệ của Hoàng Cầm sau khi đoàn kịch Chiến Thắng của các anh giải thể (...)
Riêng P.D, trong khoảng 13 tháng sát cánh bên nhau tôi cần phải nói thêm rằng
có anh trong đơn vị, người tôi như mọc thêm cánh (...) Tôi cứ chuyển quân liên
miên... nay vừa biểu diễn ở Nhã Nam, mai đã sang Bố Hạ (...) Sáng ra lại xuất
quân. PD mê man đi, vừa đi vừa lẩm nhẩm thầm thì sáng tác thì chợt đến khi bắt
được một giai điệu đẹp, tha thiết, là anh ngồi ngay xuống tảng đá bên đường, lấy
bút giấy ra ghi. Nếu chỉ qua được một đoạn đường mà xong được một bài, anh lập
tức kêu tôi và các bạn dừng lại, túm tụm trên vệ cỏ, nghe anh hát.
Đường Lạng Sơn âm u (ù u)
Giờ bình minh êm ru (ù u)
Vẳng nghe tiếng súng trong sương mù
Đường Thất Khê bao la (à a)
Rừng núi ta xông pha (à a) (...)
Cứ như vậy, toàn đội, đặc biệt là PD đã truyền cho tôi sức mạnh
dẻo dai để vừa đi vừa sáng tác. Ghi ngay thành thơ hoặc chủ đề kịch ngắn những
cảm xúc, những ý tứ bất chợt loé lên trong tôi. Sáng tác đến đâu biểu diễn luôn
đến đấy (...) trong vòng chưa đầy 12 tháng, PD đã liên tục sáng tác hàng chục
ca khúc, có nhiều bài chỉ hát đôi ba lần, bộ đội đã thuộc lòng (...) Ở những
tác phẩm của anh hồi đầu kháng chiến, tôi ít thấy cái da diết, thắm thiết đến
khắc khoải như một vài ca khúc của Nguyễn Xuân Khoát, Văn Cao... Nhưng quả thật
PD là người viết ca khúc được hầu hết các chiến sĩ bộ đội, cán bộ và thanh niên
nam nữ khắp Việt Bắc lúc bấy giờ yêu mến nhất, nhắc nhở nhiều nhất, vượt xa các
nhạc sĩ nổi tiếng cùng thời"[25].
Phạm Duy viết về giai đoạn này:
"Cuối năm 1947 đó, tôi và Ngọc Bích từ tỉnh lỵ bị tiêu hủy
hoàn toàn là Thái Nguyên đi bộ qua Bắc Giang, tìm về làng Lan Giới thuộc khu
Nhã Nam, Yên Thế (...)
Tôi và Ngọc Bích vác ba lô đi tìm Bộ Chỉ Huy của Khu XII. Ở đó,
tôi gặp Hoàng Cầm. Nó đang chuẩn bị thành lập một đội văn nghệ cho chiến khu
này cùng với nhà viết kịch Hoàng Tích Linh, diễn viên Trúc Lâm và vợ chồng Văn
Chung (...) Tôi và Ngọc Bích nhập ngay vào cái đội văn nghệ chỉ có vỏn vẹn bẩy,
tám người đó để từ Bộ Chỉ Huy, chúng tôi đi lưu diễn ở những nơi có Vệ Quốc
Đoàn đóng quân trong ba tỉnh Bắc Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn. Gặp Hoàng Cầm, tôi
yêu nó ngay. Nó bằng tuổi tôi[26]. Trong khi tôi thích đùa rỡn thì nó giống
như một ông đồ non, lúc nào cũng ngồi hút thuốc lào, rung đùi, trầm ngâm. Nó
đang sống chung với Tuyết Khanh (...) Đi theo Hoàng Cầm ra vùng kháng chiến,
Tuyết Khanh, mà lúc đó Hoàng Cầm cũng đổi luôn tên là Kiều Loan, đang có thai
và bắt buộc phải ở lại vùng trung du để Hoàng Cầm và chúng tôi lên đường đi lưu
diễn. Trong bữa cơm đạm bạc để chia tay nhau giữa hai vợ chồng Hoàng Cầm tại Phố
Nỉ (Bắc Giang), tôi còn nhớ cảnh Hoàng Cầm ngồi rung đùi ngâm thơ bên cạnh người
vợ mà rồi đây nó sẽ không bao giờ gặp lại nữa, giọng ngâm buồn rười rượi..."[27]
● Đêm Liên Hoan, Tâm sự đêm giao thừa
Bên kia sông Đuống
Phạm Duy viết về ba tác phẩm chủ yếu của Hoàng Cầm trong thời
kháng chiến:
"Bài thơ Đêm Liên Hoan[28] được viết ra ngay trong những ngày đầu
đi công tác. Hoàng Cầm và tôi diễn ngâm bài này rất nhiều lần trước hàng trăm,
hàng ngàn Vệ Quốc Quân:
Đêm liên hoan đầu nhấp nhô như sóng bể ngang tàng.
Ta muốn thét cho vỡ tung lồng ngực
Vì say sưa tình thân thiết Vệ Quốc Đoàn.
Biết bao nhiêu Vệ Quốc Quân "lao đầu vào giặc" sau khi
nghe những lời thơ đầy hào khí và thân thiết này:
Trong tiểu đội của anh
Những ai còn ai mất?
Không ai còn, ai mất
Ai cũng chết mà thôi.
Người sau kẻ trước lao vào giặc
Giữ vững nghìn thu một giống nòi
Dù ta thịt nát xương phơi
Cái còn vĩnh viễn là người Việt Nam...
Ngoài bài thơ Đêm Liên Hoan soạn cho riêng tập thể chiến sĩ,
Hoàng Cầm- cũng như tôi lúc đó- rất quan tâm tới người dân thường. Lúc đó tôi
cũng đã đưa vào loại dân ca kháng chiến của tôi những hình ảnh anh thương binh,
người mẹ già, người vợ hiền, đàn trẻ nhỏ... nhiều hơn là hình ảnh Vệ Quốc Quân.
Hoàng Cầm, qua bài "Bên Kia Sông Đuống"[29] cũng đưa ra một cách tuyệt vời những
hình ảnh cô hàng xén răng đen, môi cắn chỉ quết trầu, cụ già phơ phơ tóc trắng,
em bé xột xoạt quần nâu. (...) Những bài thơ kháng chiến như vậy đã được Hoàng
Cầm và tôi diễn ngâm trong rừng sâu, trên đồi cao hay trong những hang đá dưới
ánh đuốc bập bùng, có khi chỉ cách một đồn địch chừng vài ba cây số.
Vào khoảng đầu năm dương lịch 1948 tức là sắp sửa tới Tết âm lịch
(...) Hoàng Cầm sáng tác thêm một bài thơ nhan đề "Tâm Sự Đêm Giao Thừa"
mà tôi cho là tuyệt vời. Hoàng Cầm đưa ra hình ảnh một người lính giữ nước,
đang đứng gác trong một khu rừng vắng, giữa đêm giao thừa (...) Bài thơ kết
thúc với những câu thơ vẫn vô cùng thân yêu và đầy hào khí như trong những bài
thơ khác của Hoàng Cầm:
Cha con ăn Tết lập lập công
Cho sữa mẹ chẩy một dòng nghìn thu.
Cha đem cái chết quân thù
Làm nên sức sống bây giờ của con. (...)
Phải ghi nhận một điều rất quan trong là tác dụng của bài thơ.
Nó đã có khả năng diệt giặc hơn cả những võ khí tối tân lúc đó như SKZ (súng
không giật) hay bazooka vân vân... Trong ba lô của bất cứ một Vệ Quốc Quân nào
cũng đều có những bài thơ chép tay của Hoàng Cầm. Cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp không thể nào thành công nếu không có những tác phẩm văn nghệ như những
bản nhạc của Văn Cao, và những bài thơ của Hoàng Cầm, Quang Dũng (...) Còn nhớ
có một lần, tôi và Hoàng Cầm ngâm bài thơ Đêm Liên Hoan cho bộ đội nghe 15 phút
trước giờ tấn công đồn địch. Sau đó một anh bộ đội đã nói: "Tôi vào giữa đồn
mà vẫn còn nghe tiếng ngâm thơ của các anh văng vẳng ở trong đầu". Thế mới
biết sức mạnh của văn nghệ"[30].
● Đóng góp máu xương trong kháng chiến
Nhưng kháng chiến không chỉ có hào hùng, mà còn là đói khát, chết
chóc, kinh hoàng.
Hoàng Cầm nhắc lại thực trạng 1949, năm cam go nhất trong kháng
chiến:
"... lên rừng sẵn sàng ăn cơm với muối, không có cả gạo nữa
thì ăn cả củ mài (...). Măng nứa, măng mai là ăn vãn hết rồi. Mà vẫn đói quá, bởi
vì năm 49 là năm đói nhất. Chính vợ Hoàng Cầm là một, con gái Hoàng Cầm là hai,
chỉ vì đói, ăn lung tung cả mới sinh bệnh mà chết. Hai mẹ con chết liền trong một
tuần lễ trong lúc tản cư năm 49.(...) Rồi đến năm 52, đóng góp một giọt máu nữa
cho kháng chiến chống Pháp là người em ruột của Hoàng Cầm, nó cũng rất có tài về
văn nghệ.(...) Hoàng Cầm cử nó làm đại đội trưởng đội văn công Tây Bắc(...) Cậu
ấy đi đánh phỉ và bị phỉ nó sát hại, cả một đội văn công 12 người, chết hết"[31].
Hồ Dzếnh cũng mất người vợ và con trai lên ba. Nhà thơ ghi lại bối
cảnh kinh dị của người cha hôn cái xác bé bỏng: "Rồi cái hôn bò lên
tóc, lên tai, lên môi, lên cổ, cái hôn đi lần xuống khắp người, và ngừng lại ở
hạt giống bé nhỏ. Nhưng vẫn không một lời nói cất lên giữa cái mê đắm kỳ dị,
man rợ đó, ngoài tiếng thở rít lên, hít vào khoan khoái. Lần cuối cùng người
cha "ăn" con bằng những cái hít rùng rợn, cũng như ngày trước, chính
con người đó, đã đôi lúc muốn "quay rô-ti" con lên"[32].
Và thay con, Hồ Dzếnh viết lại tâm cảm đứa bé nhay vú mẹ,
người mẹ dốc cạn sữa cho con đến tàn lực, tàn hơi:
"Có lúc tôi nhai mạnh đầu vú. Ở chỗ thịt nứt, nước miếng
tôi thấm vào, tia sữa bị rút lên, nghe buốt đến tận ruột mẹ. Và sữa tuôn ra với
máu, chảy tràn ra hai mép tôi, chất ngọt dịu pha lẫn mùi vị tanh hăng làm cổ
tôi nuốt vội. Mẹ tôi co người, nghiến chặt răng lại, đôi mắt chớp chớp trong
dòng lệ nóng hổi" [33].
● Hội Nghị Văn Nghệ Việt Bắc 1950
Hoàng Cầm treo cổ kịch thơ của mình
1949 cũng là năm Mao thành công tại Trung Quốc, đuổi Tưởng Giới
Thạch ra Đài Loan. Tháng 1/1950, Đại Hội III Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố
chính thức đi theo đường lối Trung Quốc, thực hiện Đấu tranh giai cấp trên
toàn lãnh thổ.
Trong bối cảnh đó, đại hội văn nghệ tháng 8/1950 tại Việt Bắc,
có tính cách quan trọng đặc biệt, quyết định dành ưu tiên cho Kịch (bộ
môn có tương lai trong nền văn nghệ xã hội chủ nghiã) và loại trừ tất cả những
sản phẩm văn nghệ được coi là tàn tích của phong kiến và tiểu tư sản như Tuồng,
Chèo, Cải lương, Kịch thơ ra khỏi nền văn nghệ Cách mạng.
Quyết định này phù hợp với chính sách tiêu diệt phong kiến và loại
trừ tiểu tư sản ra khỏi hàng ngũ Đảng. Quyết định này, đã buộc Hoàng Cầm phải
"treo cổ" kịch thơ của mình, đã khiến Phạm Duy và nhiều văn nghệ sĩ
khác bỏ kháng chiến vào thành, trong số đó có những Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Võ
Phiến... sau này sẽ trở thành những cột trụ xây dựng nền Văn Học Miền Nam.
Báo Văn Nghệ dành hai số đặc biệt 25 và 26 (8-9/1950) về Hội Nghị
Việt Bắc, với những lời giới thiệu xứng với tầm vóc đại hội:
"Ngày 26/7, hai năm sau Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ
hai, đã khai mạc cuộc họp mặt văn hoá văn nghệ năm 1950. Non 100 đại biểu của
Việt Bắc, khu ba, khu tư, và khu năm rất xa, đã tề tựu dưới mái giảng đường trường
văn nghệ nhân dân. Các đại biểu đã vượt hàng tháng đường dài qua rừng núi, nắng
mưa, qua những đồn giặc" [34].
Báo Văn Nghệ số 26, giới thiệu "Hội nghị tranh luận sân khấu"
với 2 bài chính: Bài biên bản, không ký tên, và bài Những
ngày hội nghị của Tô Hoài.
1- Bài biên bản cho biết: Thế Lữ tuyên bố khai mạc hội
nghị. Tố Hữu đặt vấn đề thảo luận. Đoàn Phú Tứ thuyết trình "Quan niệm
xây dựng sân khấu Việt Nam" với bốn ý chính:
Tuồng: "Thái độ dứt khoát của chúng ta bây giờ là đưa
nó vào Viện bảo tàng".
Chèo: "Nên yêu chèo như một tử ngữ, hãy trân trọng xếp
nó vào Viện bảo tàng".
Cải lương: "Cải lương Nam Kỳ là một nghệ thuật quái gở,
lai căng, sản sinh ra ở một thời đại múa may quay cuồng, điên điên dại dại, để
giải trí cho một lớp người cuồng vọng, không biết mình sẽ đi đâu, không biết
mình đương nghĩ gì, đương cảm xúc thế nào, lớp ngưòi mới phát sinh trong thời
Pháp thuộc, mất gốc mất rễ, và giao động đến cực độ".
Kịch nói: Một hình thức biểu diễn sân khấu mới nhất,
tuy còn ít thành tích, nhưng rất nhiều tương lai[35].
Trong phần tranh luận, chỉ Lưu Hữu Phước và Tống Ngọc Hạp bênh vực
cải lương. Kết Luận: Tuồng, Chèo là tàn tích của thời phong kiến. Cải lương là
sản phẩm của giai cấp tư sản. Chỉ giữ lại Kịch và phổ biến rộng rãi.
Bài biên bản này không nói đến kịch thơ. Không nói đến sự
kiện Hoàng Cầm thắt cổ kịch thơ. Tố Hữu được mô tả như một người
ngoài cuộc, không có ý kiến. Nhưng theo Phạm Duy, Tố Hữu là người chủ đạo trong
hội nghị.
2- Bài "Những ngày hội nghị", của Tô Hoài cũng
không nhắc đến vai trò của Tố Hữu. Tô Hoài chỉ thuật lại bối cảnh đêm diễn kịch
thơ của Hoàng Cầm và việc Hoàng Cầm treo cổ kịch thơ, với văn cách rất quen thuộc
của ông. Trước hết Tô Hoài tả bối cảnh chung:
"Tối nay, ba đội kịch đấu làm một. Đội liên khu Việt Bắc diễn
"Ngày hội tòng quân", kịch thơ của Hoàng Cầm, đội Vui Sống: "Số
phải đi xa" kịch vui của Võ Đức Diên, đội Chiến thắng: "Anh Sơ đầu
quân" của Nguyễn Huy Tưởng. Khán giả không phải chỉ có một trăm đại biểu.
Khán giả từ các làng xa trong cánh đồng, phụ lão ông, phụ lão bà, các trung nữ,
các đồng chí Nông dân, các (...) đêm nào cũng nghìn nghịt kéo đến, tối mưa thế
nào cũng không bớt đông, đóm đuốc lượn rồng rắn rừng rực các bờ ruộng chật vòng
trong, vòng ngoài sân khấu".
Rồi ông nhận xét về kịch thơ "Ngày hội tòng quân" và
giọng ngâm của Hoàng Cầm:
"Anh Dũng, chị Lụa đương tình tự trong "Ngày hội tòng
quân". Nói chuyện thường như ta nói qua bờ rào, nhưng đây đôi trai gái ấy
lại đọc thơ cho nhau nghe. Có cái việc đi tòng quân mà cừ dùng dằng, bần thần
mãi. Đứng dưới, bà con xì xào: "Sốt ruột thế!" - "Cái chị phụ nữ
tốt giọng nhẩy !" - "Khốn khổ cái ông già ốm hay sao mà khặc khừ, lử
đử vừa nói vừa run thế?" (ông già ấy đọc thơ). Đại khái tự dưng người ta
nói, hoặc tôi hỏi, người ta nói như thế. Tôi nhớ lấy. Để mai nghe Hoàng Cầm mổ
sẻ về nó. Lâu lắm mới lại được nghe Hoàng Cầm ngâm thơ. Cái giọng tài hoa sang
sảng ấy, ngày trước vang ngân giữa cái tai bạn -những "kẻ sĩ" tiêu
dao ngày tháng- bấy giờ nó ấm, nó tê tái thế, mà sao bây giờ nó lại loãng, nó
nhạt trước một đám đông công chúng, xù xì, nhộn nhạo thế này. Tôi nghĩ lẩn thẩn
giọng Hoàng Cầm hỏng thế, hay là tại thơ Hoàng Cầm?"
Sau cùng, Tô Hoài tả việc Hoàng Cầm tự kiểm thảo và tự treo cổ kịch
thơ của mình:
Chiều 22/3[36] Hoàng Cầm đứng trên diễn đàn (...)
Hoàng Cầm nói về kịch thơ của mình (...) Anh phân tích "Ngày hội tòng
quân" - Tôi định làm thơ thì lại là tôi giết chết kịch. Định làm kịch thì
chết thơ. Chỗ nào tác giả cho là lâm li thì lải nhải, chỗ nào tôi chỉ có đối
thoại thường, thì người xem lại cho là dễ nghe. Kịch thơ không thể sống được,
nó không diễn tả đúng nhân vật. Bây giờ và cả mai sau, nó không thể còn đất đứng.
Hoàng Cầm bùi ngùi (thật cái thái độ của nhà kịch thơ lúc bấy giờ
như thế) Hoàng Cầm bế kịch thơ của anh lên ghế đẩu, từ từ dấn đầu nó vào cái
thòng lọng, rồi đạp cái ghế đi.
"Hội nghị này thanh toán cho tôi câu chuyện kịch thơ. Tôi
xin tuyên bố: cho đến vở "Ngày hội tòng quân" (1949), tôi cho là cái
sản phẩm cuối cùng của một sở trường cũ của tôi". Sau lời kêu gọi đưa ma
cái đám thắt cổ ấy của nhà kịch thơ Hoàng Cầm, cử tọa im lìm, tưởng đã nghe tiếng
sinh, tiếng phèng phèng, đám đông đang sửa soạn khóc cười phúng viếng."[37]
Bài của Tô Hoài trích dẫn trên đây, tiêu biểu cho lối "viết,
lách" thần tình của ông. Để chứng tỏ sự "xuống dốc" của
Hoàng Cầm, Tô Hoài nhắc lại "giọng tài hoa sang sảng" và "thành
tích công tác treo đầy người" của Hoàng Cầm ngày trước, để chứng tỏ
Hoàng Cầm bây giờ "tệ" như thế nào: kịch thơ gì mà đôi trai
gái chia tay chỉ ngâm thơ, không thấy nói! Ông già gì mà giọng run rẩy! Giọng
Hoàng Cầm loãng và nhạt, không biết là thơ dở hay ngâm dở... Mà
dở như thế thì phải tự"treo cổ" thơ mình là cái chắc! Có gì mà
tiếc! Tô Hoài có vẻ thú vị đã tìm ra những chữ đắc địa để đưa ma kịch thơ Hoàng
Cầm: "tiếng sinh", "tiếng phèng","tiếng khóc cười
cúng viếng"!
Khéo thay bút pháp Tô Hoài!
Tiếc rằng sự lượn lẹo ngòi bút vẫn còn vài lỗ hổng:
Vào đầu, ông cho biết quần chúng "đêm nào cũng nghìn
nghịt kéo đến" xem. Vậy người đọc sẽ tự hỏi: kịch thơ Hoàng Cầm "dở" như
thế, mà sao quần chúng"đêm nào cũng nghìn nghịt kéo đến"? Rồi Tô
Hoài hỏi: tại sao anh Dũng, chị Lụa không nói mà lại đọc thơ, khiến bà con xì
xào: "Sốt ruột thế!" Tức là ông mượn lời bà con để chê kịch
thơ không nói như kịch nói đấy! Tô Hoài tuyệt nhiên không nhắc đến việc Tố Hữu
có tuyên bố gì, mà cũng không thấy ai chỉ trích kịch thơ, chỉ một mình Hoàng Cầm
đứng lên tự xỉ vả và treo cổ kịch thơ của mình! Mà lại chọn cái chết rất dở:
tức là đưa ra một vở kịch tồi tệ của mình, tự "phân tích" và tự
nhận lỗi "Tôi định làm thơ thì lại là tôi giết chết kịch. Định làm kịch
thì chết thơ" để đi đến kết luận "Kịch thơ không thể sống được". Tô
Hoài viết vậy, chứ người đọc thì biết chắc Hoàng Cầm không ngu như vậy. Tác
giả Hận Nam Quanvà Kiều Loan không thể "chết dở" như
thế.
Phạm Duy có mặt tại đấy, kể lại: "Đôi mắt của nó[38] vẫn còn sắc như dao, giọng nói của
nó vẫn sang sảng", chứ có loãng, có nhạt gì đâu!
Cả Vũ Cao[39]trong bài đánh Hoàng Cầm,
cũng quả quyết: "Năm 50, trong một cuộc hội nghị văn công, Hoàng Cầm ngang
nhiên tuyên bố:"Đảng không nên dúng bàn tay vào chuyên môn nghệ thuật"[40].
Hoàng Cầm suốt đời gắn bó với kịch thơ, lại đáo để và cũng không
coi Tố Hữu ra gì, vậy trước khi buộc kịch thơ của mình phải tuẫn tiết,
chắc chắn Hoàng Cầm đã nghĩ ra một cái chết oanh liệt, hoành tráng, nghiã là
ông phải đưa hết tài năng vào buổi trình diễn chót, vì thế mà quần chúng đã đội
gió mưa "đêm nào cũng nghìn nghịt kéo đến", để xem cái chết
của "kịch thơ Hoàng Cầm":
Một mãnh hổ chống sao đàn chó sói
Thân tan tành bêu máu chợ Kinh Đô[41].
Còn Tô Hoài, đây không phải là lần đầu và lần cuối ông viết bậy.
Trong Cát bụi chân ai, Tô Hoài thuật lại rằng khi ông đưa bài đánh
NVGP của mình trên báo Nhân Dân cho Nguyên Hồng xem, thì "Nguyên Hồng nói
như hét vào mặt tôi: Tiên sư mày, thằng Câu Tiễn! Ông thì không, Nguyên Hồng
thì không. Nguyên Hồng quỳ xuống trước tôi, rồi cứ phủ phục thế, khóc thút
thít"[42].
Năm 1993, về Hà Nội gặp Tô Hoài, tôi hỏi: "Tại sao anh
lại viết thế? Em thấy có cả bài của Nguyên Hồng đánh NVGP trên báo Nhân Dân thì
làm sao Nguyên Hồng có thể mắng anh được?". Bài Nguyên Hồng đăng Nhân
Dân số 1451, ra ngày 2/3/1958, bài Tô Hoài đăng số 1461 ra ngày 12/3/1958, cách
nhau có 10 ngày[43].
Ông bèn nói lảng: "Tôi nhớ đâu viết đấy chứ có nghiên
cứu gì như cô!". Tức là ông có thể bịa hẳn ra một giai thoại để chứng
minh mình đã "sám hối" ngay từ đầu, và ông "thành
tâm" ghi lại "sự thực" ấy trong "hồi
ký".
● Hội Nghị 1950 dưới sự ghi chép của Phạm Duy
Rất may là Phạm Duy cũng ghi chép rất tỷ mỷ về Hội Nghị Văn Nghệ
1950, trong Hồi Ký Kháng Chiến, trọn chương 32, nhờ đó, ta có thể biết nơi họp
đại hội là "Yên Giã, một khu rừng nằm gần ranh giới hai tỉnh Thái Nguyên
và Bắc Kạn."Từ Yên Giã, "đi vài quãng đường là tới Cù Vân, vượt
qua Đèo Khế tới khu vực của các lãnh tụ. Hang Pác Bó là nơi ở của Chủ Tịch họ Hồ
cũng nằm ở đâu đây".
Tới Yên Giã, Phạm Duy và Thái Hằng gặp Nguyễn Xuân Khoát "Và
lập tức anh dắt tôi tới gặp Tố Hữu, người bắt đầu nắm trong tay vận mạng của
toàn thể văn nghệ sĩ. Tố Hữu già hơn hồi tôi gặp anh ở Huế, vẫn ăn nói nhẹ
nhàng nhưng có cái đanh thép ẩn trong câu nói".
Về đại hội và đường lối của đại hội, Phạm Duy viết:
"Thế rồi vào một ngày hè trong năm 1950 này, Đại Hội Văn
Nghệ -có thêm vào đó hai chữ "Nhân Dân"- được khai mạc.(...) Trong
ngày đầu tiên của Đại Hội, tôi thấy Chủ Tịch Đoàn đưa ra một đường lối gọi là
"văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa". Mục đích chính là đưa ra một
thứ kim chỉ nam cho tất cả mọi ngành sáng tác và biểu diễn. Mục đích phụ (hay
đây mới là mục đích chính?) là biểu dương lực lượng văn nghệ sĩ và "báo
cáo" đường lối chỉ huy văn nghệ của Nhà Nước cho các quan khách biết. Các
quan khách đó là ai? Đó một số cố vấn Liên Xô, Trung Cộng và vị tân khách Léo
Figuères, đại diện của Đoàn Thanh Niên Pháp Quốc đang ngồi ở hàng ghế đầu cùng
với Trường Chinh, Tố Hữu, Trần Độ (...)
Tôi cũng gặp cả Hoàng Cầm vừa mới tới Yên Giã cùng với các
diễn viên nổi tiếng trong ngành Kịch Thơ như Trần Hoạt, Kim Lân. Tôi thấy Hoàng
Cầm gầy đi nhưng đôi mắt của nó vẫn còn sắc như dao, giọng nói của nó vẫn sang
sảng".
Về Hội nghị tranh luận sân khấu, Phạm Duy viết:
Dưới sự chủ tọa của Thế Lữ, Hội Trưởng của Hội Sân Khấu, một
anh hội viên là Đoàn Phú Tứ đứng ra thuyết trình về sự hình thành của sân khấu
Việt Nam gồm có Tuồng Cổ, Chèo Cổ, Cải Lương, Kịch Thơ, Kịch Nói... và xin mọi
người thảo luận để định nghĩa cho một hình thức sân khấu mới mẻ nhất là Thoại Kịch
tức Kịch Nói. Sau nhiều tranh luận, Đoàn Phú Tứ tóm tắt các ý kiến của những
người phát biểu. Tất cả đã nhất trí với định nghĩa này:
- Kịch là bộ môn nghệ thuật dùng sân khấu làm phương tiện
trình bày những cảnh đời đang có mâu thuẫn. Khi mâu thuẫn đi tới chỗ kịch liệt
thì phải giải quyết. Giải quyết xong mâu thuẫn là hết kịch.(...)
Đã tưởng thế là xong phần thuyết trình và định nghĩa về Thoại Kịch
sau khi các văn nghệ sĩ đã đồng ý với thuyết trình viên Đoàn Phú Tứ. Nhưng lập
tức một số cán bộ chính trị đứng lên đòi Chủ Tịch Đoàn phải bổ túc thêm vào
biên bản của hội nghị:
- Giải quyết những vấn đề trong các vở kịch thì phải có lập
trường. Vậy chúng ta đứng trên lập trường nào? Lập trường phong kiến? Lập trường
tư sản hay tiểu tư sản? Không. Phải đứng trên lập trường của giai cấp vô sản.
Về những phát biểu của Tố Hữu và việc Hoàng Cầm treo cổ kịch
thơ, Phạm Duy viết:
Trong một buổi họp khác, tổ kịch đang thảo luận về đặc trưng của
các bộ môn sân khấu như Tuồng Cổ, Chèo Cổ, Cải Lương, Kịch Thơ và Kịch Nói, Tố
Hữu đứng ra lên lớp anh em, trước hết là đả kích bài Vọng Cổ. Tố Hữu nói:
- Vọng Cổ có âm điệu ủy mị, làm cho người nghe bị ru ngủ, lòng
người nghe bị mềm yếu rồi người nghe cúi đầu xuống, tiêu tan cả chí phấn đấu. Lưu
Hữu Phước, Tống Ngọc Hạp bèn kẻ trước người sau đứng lên bênh vực cho bài Vọng
Cổ xuất xứ từ Nam Bộ của mình, nói rằng:
- Vọng Cổ hay lắm, hay lắm, không bỏ được Vọng Cổ đâu ạ. Nhưng
Tố Hữu cười khảy:
- Vâng, bài Vọng Cổ hay lắm. Hay đến độ đã làm cho Việt Nam mất
nước, bây giờ trong kháng chiến, ta phải nên cấm nó.
Nghe thấy vậy, bụng bảo dạ, tôi nghĩ: A! Tố Hữu nói như vậy thì
có nghĩa là Đại Hội Văn Nghệ Nhân Dân này phải có thái độ với bài hát đã
"từ lòng nhân dân mà ra". Lưu Hữu Phước và Tống Ngọc Hạp im lặng.(...) Chỉ
huy xong sự khai tử bài Vọng Cổ, Tố Hữu đi tới phán quyết thứ hai của anh. Anh
mạt sát thậm tệ Kịch Thơ:
- "Nội dung kịch thơ phần nhiều chỉ phản ảnh tinh thần
phong kiến. Cốt truyện đưa ra toàn là những nhân vật quan liêu. Lối diễn xuất bằng
sự ngâm nga, nghe thật là rên rỉ, lướt thướt. Kịch Thơ không thích hợp với cuộc
sống động của toàn dân đang kháng chiến".(...)
Sau khi Tố Hữu đã đả kích Kịch Thơ xong rồi, cử tọa bỗng im
phăng phắc, mọi người chăm chú nhìn vào Hoàng Cầm, mục tiêu của sự đả kích.
Hoàng Cầm đứng dậy, nhấc cái ghế đẩu mà nó vừa ngồi lên, trịnh trọng bưng ghế
ra đặt ở giữa hội trường, lấy ở trong túi ra một sợi dây dài, dùng dây buộc tập
kịch thơ, xong leo lên ghế đẩu, giơ tập thơ vừa mới bị trói chặt lên thật cao,
tuyên bố:
- "Tôi xin treo cổ Kịch Thơ. Bắt đầu từ ngày hôm nay."
(...)
Tôi bị phê bình là tiêu cực với những bài như Bao Giờ Anh Lấy Được
Đồn Tây[44], Bà Mẹ Gio Linh. Và tôi được
khuyến khích để khai tử một bài hát quá ư lãng mạn và đang được phổ biến rất mạnh
mẽ trong toàn quốc là bài Bên Cầu Biên Giới. (...) Phải nói rằng Đại Hội Văn
Nghệ này rất thành công. Thành công ở chỗ đại đa số văn nghệ sĩ được "chỉ
huy" mà không có ai dám phản đối gì cả. Nếu có phản đối, phải đợi khi tan
xong Đại Hội và trở về tới địa phương rồi mới phản đối bằng cách... "dinh
tê".[45]
Ngày 1/5/1951, gia đình Phạm Duy bỏ kháng chiến, về Hà Nội, rồi
vào Nam.
Hội Nghị Văn Nghệ Việt Bắc 1950, là giọt
nước cuối cùng làm tràn chén. Ởnhững hội nghị trước đã có những đổ vỡ: Hội Nghị
Văn hoá Toàn Quốc II, 1948: Nguyễn Hữu Đang bất đồng với
Trường Chinh, bỏ về Thanh Hoá.
Hội Nghị Văn Nghệ 1948 và 1949, phê bình các tác
phẩm của Nguyễn Huy Tưởng và Thơ không vần của Nguyễn Đình Thi.
Hội Nghị Việt Bắc 1950: tiêu diệt Tuồng, Chèo, Vọng
Cổ. Phê bình nhạc Phạm Duy. Bắt Hoàng Cầm phải treo cổ kịch thơ.
Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng lần lượt hồi cư (1950), Phạm Duy
về thành(1951), Hoàng Cầm ở lại, để trở thành một trong những
người lãnh đạo NVGP.
Sự việc Tố Hữu triệt hạ kịch thơ Hoàng Cầm còn có một lý do khác, đó
là sự đối lập tư tưởng giữa hai người: một lối nhìn vong bản như "Thờ
Mao Chủ tịch thờ Xít-Ta-Lin bất diệt" không thể sống chung với một tư
tưởng ái quốc như "Về ngay đi! Ghi nhớ Hận Nam Quan!"
Ngoài ra, toàn bộ kịch thơ Hoàng Cầm ấp ủ những chủ đề: Đề phòng phươngBắc.
Phỉ báng sự cầu viện ngoại bang. Lên án cảnh cốt nhục tương tàn. Đòi hỏi tự do
sáng tác. Cho nên, sau khi đã loại bỏ những hình thái văn hoá truyền thống của
dân tộc như Tuồng, Chèo, Cải lương, đã cưỡng bức Hoàng Cầm treo cổ kịch thơ, đã
bắt Nguyễn Đình Thi phải sửa thơ không vần thành thơ có vần, Tố Hữu được trên
cho phép, thừa thắng xông lên, dẹp tan NVGP. Từ 1954, Tố
Hữu trở thành soái chủ trên thi đàn miền Bắc (và sau 1975, cả nước), thơ
ông biến thành "thánh kinh cách mạng".
Trong hơn nửa thế kỷ, bao nhiêu thế hệ đã không biết gì về các tác
phẩm của Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng... đã không hay Phạm Duy, Hoàng Cầm là những
nghệ sĩ có công đầu trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Bởi họ chỉ được đọc,
học và suy tôn tài thơ Tố Hữu.
Không ai trách Trương Phúc Loan, Bùi Đắc Tuyên, nếu họ làm thơ dở.
Tội của bọn này là chuyên quyền. Chuyên quyền trong triều chỉ có tội với vua. Còn
chuyên quyền văn hoá là một tội đồ đối với dân tộc.
● Hoàng Cầm chối bỏ việc treo cổ kịch thơ
Trong băng ghi âm nói chuyện với bạn bè, Hoàng Cầm chối bỏ việc
này:
Tôi dự hội thảo sân khấu do anh Lê Đạt tổ chức, được anh em bầu
lên làm chủ tịch đoàn cùng với Thế Lữ và Đoàn Phú Tứ. Ông Tố Hữu chỉ ngồi ghế
nghe thôi, cuối cùng có nói vài câu kết luận. Lê Đạt làm thư ký hội nghị, nhưng
thực chất là điều khiển, để mọi người, nhất là những người trẻ tuổi được tự do
phát biểu, ai có ý kiến gì thì nói ra. Đêm hôm trước, tôi đem đoàn văn công của
tôi lên trình diễn vở kịch thơ Người Con Nuôi. Có khoảng 150 người tham dự,
gồm các diễn viên, đạo diễn, văn nghệ sĩ và một số dân các bản, cả Kinh lẫn Thổ.
Vở kịch không thành công, tiếng vỗ tay lác đác. Vở kịch này tôi đã trình diễn
trong các đơn vị quân đội hoặc các hội nghị ở Việt Bắc, rất được hoan nghênh,
nhưng hôm diễn ở hội thảo ấy thì rơi vào im lặng, có thể nói là thất bại. Tôi
nghĩ đối tượng của hội nghị là thảo luận, khán giả người miền núi thì ngơ ngơ
ngác ngác, thành ra tôi cho là thất bại. Anh Kim Lân bảo tôi: Thôi anh à,
kịch thơ có thể nghỉ đã, đừng làm nữa vì không có kết quả. Sau này tôi mới biết
là Kim Lân được ông Tố Hữu gợi ý vì ông Tố Hữu không thích kịch thơ. Tôi thấy
Kim Lân có lý nên hôm sau tôi phát biểu không nên viết kịch thơ trong kháng chiến
nữa vì kịch thơ không hợp với hoàn cảnh kháng chiến. Tôi bị Thế Lữ phản đối
ngay: anh Hoàng Cầm nói là nói vở kịch thơ của anh thất bại, chứ không phải
toàn thể kịch thơ thất bại. Tôi hoan nghênh sự phản đối của ông Thế Lữ, và mọi
người tiếp tục tranh luận... Thế rồi sau này có người ở Khu Bốn ra nói với
tôi: Trong khu Bốn người ta đồn Hoàng Cầm treo cổ kịch thơ của mình. Ông
Hoàng Cầm là trùm kịch thơ thế mà ông ấy khai tử kịch thơ thế thì có buồn cười
không. Anh em họ đồn thì cũng chẳng sao. Nhưng sau này, tôi đọc hồi ký Phạm
Duy, thấy Phạm Duy viết hết sức bịa đặt. Hôm ấy Phạm Duy đâu có mặt, mà ở sân
khấu hội nghị làm gì có xà nhà để treo, mà lại nói tôi treo cổ kịch thơ, để đưa
ra cái dư luận ghê gớm ấy về tôi.[46]
Những điều Hoàng Cầm thuật lại trong băng ghi âm mà chúng
tôi tóm lược những ý chính trên đây, không ổn:
1/ Hoàng Cầm nhớ nhầm, ông pha trộn nội dung Đại Hội Hội Văn Nghệ
Toàn Quốc 1950 với các hội thảo tranh luận tại đại hội văn nghệ 1948 và 1949,
do Lê Đạt tổ chức.
2/ Đại Hội 1950, quan trọng hơn nhiều. Báo Văn Nghệ đặc biệt
tháng 8 và 9 năm 1950 có đăng các bài tham luận và Phạm Duy tường thuật khá tỷ
mỷ. Phạm Duy có thói quen ghi lại các sự kiện trong sổ tay, chính ông đã ghi
chép thơ và ca từ của Văn Cao thời trẻ, đã bị thất lạc.
3/ Trong hội nghị Hoàng Cầm nhắc tới, ông trình diễn vở kịch
thơ Người con nuôi, trong khi ở Đại Hội 1950, theo Tô Hoài kể lại, đó là vở
kịch thơ Ngày hội tòng quân.
4/ Việc treo cổ kịch thơ, có hai người kể, Tô Hoài viết tháng
8/1950: "Hoàng Cầm bế kịch thơ của anh lên ghế đẩu, từ từ dấn đầu nó vào
cái thòng lọng, rồi đạp cái ghế đi".
Phạm Duy viết sau, trong Hồi Ký Kháng Chiến: Hoàng Cầm đứng
dậy, nhấc cái ghế đẩu mà nó vừa ngồi lên, trịnh trọng bưng ghế ra đặt ở giữa hội
trường, lấy ở trong túi ra một sợi dây dài, dùng dây buộc tập kịch thơ, xong
leo lên ghế đẩu, giơ tập thơ vừa mới bị trói chặt lên thật cao, tuyên bố:
"Tôi xin treo cổ Kịch Thơ. Bắt đầu từ ngày hôm nay"
Vậy việc treo cổ kịch thơ là có thật. Tô Hoài viết vội, không để
ý đến chi tiết, nên có sơ hở: trên sân khấu làm gì có thòng lọng sẵn. Phạm Duy
tả kỹ hơn, rõ từng chi tiết: Hoàng Cầm lấy trong túi ra một sợi dây, buộc tập kịch
thơ, rồi leo lên ghế đẩu, giơ tập thơ bị trói chặt lên cao... Những chi tiết
này cho thấy Phạm Duy kể chuyện mạch lạc hợp lô-gíc và hành động của Hoàng Cầm
không bột phát mà đã suy nghĩ từ trước. Một hành động như vậy, không thể quên
được. Vậy tại sao Hoàng Cầm lại chối bỏ nó? Có thể do hai áp lực:
Áp lực nội tâm: Hành động tự trói cổ kịch thơ, khai tử trước tác
trước kháng chiến, bị chế độ tung ra, tuyên truyền như một hành động nhát sợ, tự
mình trói mình, không dám nhìn nhận sự nghiệp văn chương của mình, làm cho
Hoàng Cầm muốn chối bỏ hành động này.
Áp lực chính trị: Một số bài thơ trong tập Về Kinh Bắc,
đặc biệt Lá Diêu Bông, Cây Tam Cúc, được truyền ra ngoại quốc và một số
người chống Cộng ở hải ngoại viết bài ca ngợi tinh thần "chống Đảng"
của Hoàng Cầm, khiến ông bị 18 tháng tù. Phạm Duy phổ nhạc Lá Diêu Bông và
quảng bá như một tác phẩm chống Cộng; việc này lại cũng gây cho Hoàng Cầm nhiều
hệ lụy, khiến ông rất bất bình Phạm Duy.
Nhờ băng Hoàng Cầm nói chuyện với bạn bè, ta biết việc chính
quyền đàn áp Hoàng Cầm trong suốt 10 năm, từ 1982 đến 1993 vì tác phẩm Về
Kinh Bắc ra sao và nhờ đó, chúng ta có thể hiểu được tại sao Hoàng Cầm "chối
bỏ" Phạm Duy, chối bỏ việc treo cổ kịch thơ do Phạm Duy thuật lại.
Nhưng đồng thời Hoàng Cầm cũng chối bỏ hành động phản cách mạng hoành tráng của
mình mà Phạm Duy, người bạn thân đã viết lại để ghi vào văn học sử.
● Về Kinh Bắc, Hoàng Cầm bị bắt, bị tù 18 tháng
Hoàng Cầm, có những hành động bi tráng mang chất anh hùng ca,
nhưng bình thường bản tính ôn hoà, ít chống đối trực tiếp, chủ trương dùng nghệ
thuật để nói lên tư tưởng. Đối với các bạn trong NVGP, Hoàng Cầm, thuộc lớp đàn
anh, nhưng bình đẳng hơn Văn Cao, chịu đựng, nhường nhịn anh em. Đặng Đình
Hưng, Trần Dần thường chê thơ Hoàng Cầm cổ. Văn Cao "mắng" Hoàng Cầm
nhát. Trần Dần trong nhật ký, cũng chê Hoàng Cầm nhát, hay khai. Hoàng Cầm
không chấp. Không chấp ai cả. Khi Tố Hữu từ trần, Hoàng Cầm viết bài điếu có
câu: "Cầu Trời Phật cho anh được siêu linh tịnh độ trong khói trầm từ
đài hoàn vũ quảng đại và nhân từ". Chỉ một mình Lê Đạt hiểu và kiên
trì bênh vực Hoàng Cầm. Đối với Lê Đạt, Hoàng Cầm là người can đảm chữ. Người
làm thơ chỉ cần can đảm chữ. Lê Đạt luôn luôn có những nhận thức độc đáo.
Tác phẩm chính trong thời kỳ NVGP của Hoàng Cầm là kịch
thơ Trương Chi. Hoàng Cầm mượn hình ảnh tiếng hát để khẳng định
không thể cưỡng bức nghệ thuật: "Tướng công vừa truyền lệnh / Khoá
kín cửa lầu, lấp cả dòng sông / Để không còn tiếng hát", thì Mỵ Nương
tha thiết yêu tiếng hát, đã năn nỉ người hầu gái: "Chị van em. Em đi
tìm tiếng hát / Giấu tướng công, em lót áo, đem về"[47].
Sau khi NVGP bị thanh trừng, tưởng rằng "Kình vào lạch
đã hết đường vùng vẫy"[48]. Nhưng không. Từ đông 1959 đến cuối
xuân 1960, Hoàng Cầm đã làm xong Về Kinh Bắc, phản ảnh ý chí quật cường của
nhà thơ trước bão tố dập vùi.Về Kinh Bắc được chép tay, truyền đọc như hầu
hết những bài thơ khác của Hoàng Cầm. Tưởng đã yên thân. Ai ngờ. Tai nạn lại đến.
Theo họa sĩ Bùi Thanh Phương, con trai họa sĩ Bùi Xuân Phái, sự
việc như sau: Năm 1982, Trần Thiếu Bảo[49] định in Về Kinh Bắc với
bìa của Văn Cao, đem bản thảo đến nhờ Bùi Xuân Phái vẽ phụ bản. Bùi Xuân Phái
và con trai đều đọc, không thấy có gì là "phản động", ông nhận lời vẽ
6 bức. Trần Thiếu Bảo đến lấy tranh. Vài hôm sau được tin Hoàng Hưng bị bắt, bị
quy kết tội "lưu truyền văn hóa phẩm phản động", bị đi tù cải tạo 39
tháng. Bản thảo cùng tranh Bùi Xuân Phái bị tịch thu. "Những ngày
tháng đó chúng tôi thực sự đã sống lo âu sau khi nghe tin Hoàng Hưng bị bắt,
Hoàng Cầm bị bắt, rồi Thiếu Bảo bị gọi lên thẩm vấn... Trong vụ bản thảo
"Về Kinh Bắc" này, nhà thơ Hoàng Cầm bị bắt giam 18 tháng, và tâm trạng
của Bùi Xuân Phái khi đó là lo âu nơm nớp như cá nằm trên thớt"[50].
Theo Hoàng Hưng, ông bị bắt vì xin Hoàng Cầm một bản đưa vào Sài
Gòn cho các bạn đọc. Cùng lúc ấy Nguyễn Mạnh Hùng (Nam Dao) định đưa bản thảoVề
Kinh Bắc ra ngoại quốc để in. Chính quyền kết hợp hai việc lại để bắt
Hoàng Hưng. Nguyễn Mạnh Hùng được báo trước nên không cầm bản thảo Về Kinh
Bắcra máy bay nữa.
Sau khi bị giam 18 tháng, Hoàng Cầm được thả về, ông bị bệnh tâm
thần từ 1985 đến 1987. Hỏi về nguyên do, bệnh trạng, Hoàng Cầm cho biết:
"Sau khi tôi bị giam cầm 18 tháng, từ đó đến khi được
về thì những bác sĩ quen của tôi họ đều thống nhất một điểm là tâm thần của tôi
tự nhiên nó bị ở hai dạng:
- trước tiên là hoảng loạn,
- thứ hai là trầm uất.
... Hoảng loạn một cách hết sức lặng lẽ. Ví dụ nghe một tiếng
còi ô-tô và một cái gì như là frein ô-tô rít lên ở ngoài cửa -mà lúc bấy giờ
tôi ở tít tận trong nhà cơ- nhưng khi nghe thấy như thế, vào lúc độ gần nửa đêm
chẳng hạn, thì tự nhiên tôi co rúm lại và hết sức sợ hãi. Nó như là một cái bản
năng đấy, tìm chỗ trốn.(...)
Thứ hai là dạng trầm uất. Có khi cả ngày tôi không nói một lời.
Bạn bè đến, tôi vẫn cứ tỉnh táo đi pha trà mời mọi người có vẻ lịch sự lắm.
Nhưng đến khi người ta hỏi tôi về bất cứ một cái gì đó thì tôi không trả lời"[51].
● Về Kinh Bắc và xà lim bộ.
Trong băng ghi âm Hoàng Cầm kể lại giai đoạn này như một cuốn tiểu
thuyết, chúng tôi chỉ tóm lược những ý chính, trong khi chờ đợi toàn bộ cuốn hồi
ký được in ra, như một tư liệu trực tiếp về sự đàn áp văn nghệ sĩ dưới chế độ
toàn trị ở Việt Nam:
"Chúng tôi bắt đầu làm thơ lại ngay từ năm 1959. Đặng Đình
Hưng làm được tập thơ Cửa ô, tôi làm Về Kinh Bắc, Trần Dần làm Cổng
Tỉnh và Lê Đạt làm những bài thơ về Yên Bái[52]. Tập Về Kinh Bắc tôi viết trong
năm tháng, từ cuối năm 1959 đến đầu năm 1960, đêm nào cũng viết. Lối sáng tác của
tôi là như thế, ví dụ như bài Lá Diêu Bông, những đêm trằn trọc không
ngủ, thì như có một giọng nữ văng vẳng đọc bên tai, từ đầu đến cuối, mình chỉ
việc ghi lại, mà phải ghi ngay, để độ 3, 4 phút sau là quên hết. Vì vậy, khi đi
ngủ tôi luôn luôn có giấy bút để sẵn bên cạnh. Làm xong thơ, người đầu tiên tôi
đọc cho nghe là một anh sinh viên văn khoa, tên Trần Sơn Nam. Anh nghe và chép
lại, anh là người thuộc tập thơ Về Kinh Bắc của tôi từ năm 1960. Thì
ít lâu sau có dư luận trên Tuyên Huấn nói rằng: Ông Tố Hữu bảo bọn Nhân Văn bây
giờ chúng nó phát điên, chúng nó làm thơ quái quỉ gì, không ai hiểu được.
Năm 1973, tôi bị mời ra Sở Công An Hà Nội để cảnh cáo lần đầu.
Người tiếp là ông Nguyễn Doãn Nhạ, bảo: "Anh truyền bá những bài thơ có tư
tưởng xấu cho thanh niên, sinh viên, rồi chúng đem truyền bá lẫn nhau để chửi Đảng.
Chúng tôi là những người "canh-gác-cho-bầu-trời-tư-tưởng", gọi
anh lên để cảnh cáo, anh phải thu hồi lại ngay tức khắc". Làm thơ ai chả
muốn có người đọc, mà cái thơ nó đã đi ra, người ta đã thuộc lòng rồi,
tôi "thu hồi" làm sao được. Tôi chỉ hứa từ nay không phổ biến
bất cứ cái gì nữa. Rồi tôi phải viết kiểm thảo độ hai trang, mất độ 2 tiếng,
nói rõ tư tưởng trong thơ, đại khái chỉ có nỗi buồn, buồn hiu hắt, chứ chả có
gì xấu. Rồi họ cho về. Từ đấy tôi chẳng đọc thơ, chép thơ cho ai nữa, sợ nhỡ nó
bắt được. Nhưng tôi chép riêng cho tôi một tập rất đẹp, độ 200 trang, khổ giấy
to. Tôi đưa ông Bùi Xuân Phái vẽ cho tôi 3 tranh minh họa đẹp lắm, ông vẽ cả
chân dung tôi nữa. Sau lại có bìa của Văn Cao, bìa chỉ trình bầy chữ, chứ không
vẽ. Tôi giao cho Café Lâm giữ, dặn giữ kỹ, đừng cho ai đọc.
Chín năm sau, 1982, Hoàng Hưng, là nhà thơ trẻ mà tôi rất quý, ở
Sài Gòn ra Hà Nội bảo: "Anh chép cho em cả tập Về Kinh Bắc để em mang
vào Sài Gòn. Trong ấy họ thèm khát lắm". Hoàng Hưng xin Minh Đức cho
tôi 200 tờ giấy đẹp. Thế là tôi chép, mỗi đêm chép một ít, độ 10 ngày
xong. Chép xong, tôi đưa cho Hoàng Hưng. Hoàng Hưng hẹn lúc 10g30, 11giờ,
đêm 18/8/1982 ở nhà Trần Thiếu Bảo, anh Bảo cũng mở quán cà phê hay rượu gì đó,
đến uống chén rượu chia tay, mai em về Sài Gòn, đi tầu thủy. Trong quán cũng còn
một vài người khách.
Tôi giao cho Hoàng Hưng tập Về Kinh Bắc, thì Hoàng Hưng lại
có sẵn bìa do anh Văn Cao trình bầy và bốn tranh phụ bản của Bùi Xuân Phái. Vì
Hoàng Hưng có nói với Bùi Xuân Phái và Văn Cao là em sẽ có tập Về Kinh Bắc của
anh Hoàng Cầm, các anh cứ làm phụ bản, bìa cho em, khi nào anh ấy chép xong thì
em đóng thành một tập mang vào Sài Gòn. Hoàng Hưng khoe tôi cái bìa của Văn Cao
và bốn bức tranh của Bùi Xuân Phái, có ba bức tôi thích lắm bởi vì Bùi Xuân
Phái đã đọc Về Kinh Bắc rồi và anh đã từng vẽ phụ bản cho tôi chín
năm trước đây, bản tôi gửi Café Lâm.
Một hôm tôi mượn bản Café Lâm cho một anh bạn cùng quê, đến uống
rượu muốn xem. Xem xong anh ấy đã trả lại và tôi để trên bàn trước cửa sổ, vậy
mà ngay đêm hôm ấy tôi tìm lại không thấy nữa, bản Café Lâm cũng có bốn phụ bản
của Bùi Xuân Phái rất đẹp. Mất thì sinh nghi. Mọi người bảo có lẽ cái tên Trần
Tường Bách gì đó, nó lấy, nó là đứa thấy sách quý thì ăn cắp, mà đã có lần nó
mang giấy bút đến xin tôi chép cho vài bài thơ trong cuốn Về Kinh Bắc rồi,
có lẽ nó lấy chăng?
Trở lại việc tôi bị bắt, sau khi giao bản viết cho Hoàng
Hưng tôi trở về nhà.Ngày hôm sau, 19/8 tôi vẫn bán rượu như thường. Đến sáng
20/8, khoảng 9 giờ, trong lúc vợ tôi đi chợ, ba người vào nhà, một anh tên là
Phú và hai người lạ mặt bồng súng. Anh tên Phú đọc lệnh bắt, chiếu theo điều
này, điều nọ, của bộ luật... tên Bùi Đăng Việt -họ nhầm, tên tôi là Bùi Tằng Việt-
sáng tác, tàng trữ, lưu hành những tài liệu -họ không nói là thơ- đồi trụy phản
động. Lệnh: khám nhà, tịch thu tài liệu và bắt do Nguyễn Doãn Nhạ, trưởng phòng
Chính Trị Sở Công An Hà Nội, ký.
Khám từ 9 giờ sáng đến 2 giờ chiều. Lấy đi tất cả, cả sách của
con trai tôi đang học, nó đòi lại mới trả. Còn bất cứ một cuốn sách, báo, một tờ
giấy nào, có một chữ của tôi trên bià, trên trang, hay ở góc nào, là họ lấy
mang đi hết. Họ tịch thu cả thư riêng của tôi. Vợ tôi xin lại những bức thư và
thơ tôi viết cho bà ấy hồi chúng tôi mới quen nhau nhưng họ cũng không cho. Nhưng
cái đau đớn nhất là họ tịch thu tất cả chữ của tôi, không một chữ nào tôi
viết ra mà thoát, một chữ, một câu, một câu thơ, một bài thơ, một quyển thơ...
Lúc đó tôi đã bắt đầu viết kịch thơ Men đá vàng, ba màn viết xong được
hai. Tôi nhớ màn đầu hay lắm. Nhưng bị tịch thu hết sạch, họ không để lại cho
tôi một chữ nào!
Từ năm 1984 đến bây giờ, tôi đã đòi rất nhiều lần, qua đơn, qua
lời nói: đó là tài sản của tôi -không phải là tiền- phải trả lại cho tôi, nhưng
không có kết quả. Sau này, Sở Công An Hà Nội có những người tốt, họ cũng muốn
tìm lại cho tôi, nhưng tìm không ra. Nếu là "tài liệu phản động" thì
họ phải giữ lại để điều tra chứ? Tôi nghĩ là đã có lệnh đốt đi rồi. Ai ra lệnh
đó chắc là họ không muốn sáng tác của tôi lưu lại cho đời sau, phải hủy, đó là
số phận của tập Về Kinh Bắc và những bài thơ, những câu thơ, những chữ
của Hoàng Cầm, năm 1982.
♦ Vụ Về Kinh Bắc theo Hoàng Hưng
Hoàng Hưng, bị bắt và bị tù 39 tháng, kể lại:
"... Trong một lần ra Hà Nội vào cuối những năm 1970 hay đầu
1980 (...) tôi được nhà thơ khoe một bản thảo VKB do ông chép tay chữ
rất đẹp, bay bướm uyển chuyển, có mấy phụ bản tranh của Bùi Xuân Phái vẽ các cô
gái quan họ. Đó là tập bản thảo mà ông đã bán cho ông Lâm chủ quán cà phê
chuyên sưu tầm tranh của các hoạ sĩ nổi tiếng ở Hà Nội, nay ông mượn lại, có lẽ
để khoe với những người bạn mới, có thể là Việt kiều chăng? Nhân dịp, tôi đã
xin nhà thơ chép cho ba bài Cây – Lá - Quả đem về Sài Gòn khoe
vài người bạn văn nghệ “chui” vốn là dân Sài Gòn cũ (...).
Trong chuyến ra Hà Nội tháng 8 năm 1982(...) Tôi đến chơi, lại
nghe ông than là vừa bị mất tập bản thảo VKB mượn lại của Lâm cà phê
(chắc hẳn CA đã lấy đi làm hồ sơ cho vụ án VKB đang chuẩn bị). Ông tỏ ra rất tiếc
xót, vì khó có cơ hội làm lại một tập đẹp như thế. Tôi hứng lên, nói sẽ làm lại
cho ông một tập đẹp hơn thế. Ông bảo tôi đến gặp Trần Thiếu Bảo ở phố Bát Đàn,
nhờ ông này mua giấy và bút bi loại tốt để ông chép. Trần Thiếu Bảo nhận lời
ngay (...) Thế là việc chép tay VKB tiến hành. Tôi đồng thời đến xin
Văn Cao một phác hoạ làm bìa tập thơ VKB, và xin Bùi Xuân Phái mấy phụ bản.
Ít ngày sau, tôi vui sướng có trong tay một bức hoạ mấy cái lá bay (chắc là “lá
diêu bông”) của Văn Cao và 4 phụ bản màu nước của Bùi Xuân Phái vẽ những cô gái
quan họ nón quai thao áo tứ thân.
Có một chi tiết mà những ngày đó tôi đã bỏ qua. Trong thời gian
này, tôi hầu như ngày nào cũng đến quán rượu Hoàng Cầm để giục nhà thơ chép cho
xong tập thơ. Một tối, tôi trông thấy trong quán có một người quen, anh nguyên
là giáo viên cùng dạy học với tôi ở Hải Phòng, nhưng đã chuyển về Hà Nội, nghe
đâu làm ở Bộ Công an, vì anh là cháu ruột ông tướng CA nổi tiếng Nguyễn Công
Tài. Thấy tôi, anh cất giọng lè nhè như của người say rượu bảo: “Cái ông Hưng
này đến là rách việc”. Tôi hồn nhiên không để ý, chỉ cười rồi đi ra. Sau khi bị
bắt tôi mới đoán rằng anh bạn đồng nghiệp cũ có lòng tốt cảnh báo để tôi khỏi
sa bẫy. Nhưng lúc đó tôi hoàn toàn ngây thơ và tự tin việc xin thơ Hoàng Cầm chẳng
có vấn đề gì mà phải đề phòng!
Ngày Hoàng Cầm hoàn thành việc chép VKB, tôi muốn nhân
đó có một cuộc liên hoan nhỏ với các bậc đàn anh để ăn mừng và cũng là để chia
tay lên đường vào lại Sài Gòn. Ông Trần Thiếu Bảo đề nghị làm ngay tại nhà ông ấy,
như cũng để khai trương quán của ông. Đầu bếp là Phan Tại, nhà viết kịch và
cũng là đồng phạm của ông trong vụ xử án “gián điệp phản động Nhân văn – Giai
phẩm” năm 1960. Trong bữa ăn vui vẻ tình cảm dạt dào giữa những người cùng tâm
sự (có Hoàng Cầm, Văn Cao, Bùi Xuân Phái, Trần Thiếu Bảo, Phan Tại; tôi tuy
vong niên nhưng được các đàn anh cư xử như kẻ ngang hàng), ông Bảo khoe mọi người
hai cái “bìa” cho tập VKB và tập thơ của tôi mà ông trình bày theo lối
siêu thực (...) Sau liên hoan, ông Bảo đề nghị tôi cho ông mượn tiếp tập ấy
cùng với tập VKB vừa mới hoàn thành.
Những ngày sau đó, tôi lo chuẩn bị để lên đường, nên định bụng
trước khi đi mới đến nhà ông Bảo lấy lại hai tập thơ. Không hiểu sao ông Bảo rất
sốt ruột, ngày nào cũng đến nhà bà chị tôi (là nơi tôi ở nhờ trong thời gian
lưu lại Hà Nội) thúc giục tôi tới lấy! (Sau mới ngã ngửa ra là Trần Thiếu Bảo bị
CA khống chế, phải làm chỉ điểm cho họ, ít ra là trong vụ VKB này. Nếu vì lý do
gì đó mà tôi không đến lấy hai tập bản thảo, thì vụ án bị hẫng to!)
Hoá ra họ đã sắp xếp rất chu đáo để “cất vó” VKB mà tôi là một
con cá hẩm hiu ở đâu đến chui đầu vào lưới. Sau này một anh CA quen thân với
gia đình anh cả tôi còn cho biết họ đã bí mật theo dõi, quay phim tôi suốt nửa
tháng trời mà tôi không hề để ý!
Chiều 17/8/1982, sau khi sắp xếp xong hành lý để đi chuyến tàu tối
xuống Hải Phòng và sáng hôm sau đi tàu biển vào Sài Gòn, tôi đến nhà Trần Thiếu
Bảo lấy lại 2 tập thơ. Vào trong quán, tôi thấy hai người đàn ông đang ngồi uống
nước. Sau vào trại giam đi “cung” mới biết đó là ông Khổng Minh Dụ ở A25, sau
này sẽ là Thiếu tướng Cục trưởng và cũng là “nhà thơ”, và anh Thuận, trợ lý của
ông, sau này sẽ là Cục phó Cục chống Bạo lọan. Tôi cứ hồn nhiên cầm tập thơ đi
ra, lên xe đạp phóng. Được một đoạn, bỗng có hai anh thanh niên đèo nhau xe gắn
máy ép tôi vào lề đường. Hai anh nhảy xuống, giữ tôi lại, bảo: “Cái xe đạp anh
đang đi là xe của chúng tôi bị mất cắp”. Tôi kinh ngạc, vì tôi đang đi chiếc xe
của bà chị ruột. Đang cãi qua cãi lại, thì một công an mặc sắc phục ở đâu tiến
tới, nói: “Các anh lộn xộn gì thế, mời về đồn giải quyết”. Đồn CA gần đấy là đồn
Hàng Bạc. Vào trong đồn, anh CA xưng là đồn trưởng, yêu cầu tôi bỏ hết các thứ
trong túi xách ra. Thấy tập bản thảo của Hoàng Cầm, anh ta hỏi: “Cái gì thế
này? Thơ à? Thơ của ai đây?”. Tôi đáp: “Của Hoàng Cầm.” “Hoàng Cầm là ai? Anh
ngồi đây đợi, cái này tôi phải xin ý kiến cấp trên”. Tôi ngu đến mức vẫn chưa
biết đây chỉ là một màn bi hài kịch dàn dựng sẵn.
Sau khoảng 20 phút chờ đợi, anh đồn trưởng bước vào, bảo: “Đây
là ý kiến cấp trên”. Anh giở ra một tờ giấy, đọc: “Lệnh bắt và khám xét khẩn cấp”
vì tội “lưu truyền văn hoá phẩm phản động”. Thế là nhanh như cắt, hai anh thanh
niên “mất xe đạp” lúc nãy hiện nguyên hình là CA, áp giải tôi lên xe bịt bùng,
đưa về… Hoả Lò!
Ngày 20/8/1982 thì đến lượt Hoàng Cầm bị bắt. Còn Nguyễn Mạnh
Hùng, khi ấy đang ở Sài Gòn chuẩn bị bay về Canada. May được Dương Tường kịp
báo hung tin, anh gửi ngay tập bản thảo VKB cho Cao Xuân Hạo giữ, ra
sân bay vô tang. (Tuy nhiên, khi khám xét hành lý của tôi, CA thu được một bức
thư Hoàng Cầm nhờ tôi đưa cho Nguyễn Mạnh Hùng khi vào Sài Gòn, thư dán kín nên
tôi không biết nói gì trong đó). Hùng bị cấm cửa về Việt Nam trong suốt 20 năm.
(...)
Kết cục của vụ án tóm tắt như sau: Hoàng Cầm sau mấy tháng bị
giam thì kiệt sức vì bị khủng bố tinh thần liên tục mà lại không có nàng tiên
nâu trợ lực, phải nhận tội phản động, chống Đảng, chống chủ nghĩa xã hội, chống
chế độ, để mong sớm được ra.
Tôi không thể nào quên cái buổi sáng ấy trong Hỏa Lò. Sau mấy
tháng không thuyết phục được tôi thừa nhận VKB là “phản động”, CA để
tôi nghỉ một hơi dài. Rồi bỗng một hôm tôi lại được gọi đi “làm việc”. Người CA
đưa tôi vào một phòng hỏi cung, nhưng không có ai trong đó. Mà lại có một tập
giấy thếp viết sẵn để trên bàn. Tôi tò mò giở ra, thì… trời ơi, đó là bản tự
khai của Hoàng Cầm, tôi nhận ra chữ viết rất nắn nót, đẹp, của ông. Tôi đọc lướt,
càng đọc càng hoang mang vì ông nhận tuốt tuột các ý tưởng chống Đảng, đả kích
chế độ… trong tập thơ. Để cho tôi một mình đọc xong, người ta mới đưa tôi trở lại
phòng giam. Và họ bố trí rất khéo, để như tình cờ tôi gặp Hoàng Cầm đang ngồi ở
cổng chờ (giữa khu trại giam và khu “làm việc” có một cái cổng lớn, sau khi
“làm việc” xong phạm nhân ngồi đó chờ “quản giáo” ra nhận để đưa vào buồng
giam). Tôi xông đến bên ông, hỏi gay gắt: “Anh nhận tội phản động thật à? Sao lại
thế?” Hoàng Cầm cúi đầu xuống, không nói gì, từ khóe mắt ông lăn ra những giọt
nước mắt. Đến tận hôm nay, nhớ lại những giọt lệ tủi nhục của nhà thơ đàn anh,
lòng tôi vẫn còn đau. Với tôi, tự buộc mình phải hèn để có thể tồn tại là điều
không gì đau hơn cho một kẻ sĩ." (Hoàng Hưng, Kỷ niệm 25 năm
ngày ra tù (30/10/1985 – 2010), talawas.org ngày 18/9/2010,
http://www.talawas.org/?p=24264, in lại trong Thơ Hoàng Hưng 1961-2005,
HHEBOOKS2012, trang 375-391).
♦ Hoàng Cầm bị bắt
Hoàng Cầm thuật lại trong băng ghi âm:
Tôi không hiểu tại sao mình bị bắt. Lệnh bắt ký tên Nguyễn Doãn
Nhạ, trưởng phòng Chính Trị Sở Công An Hà Nội, với tội danh "sáng
tác, tàng trữ và lưu hành những tài liệu văn hóa đồi trụy và phản động". Khám
nhà và tịch thu tất cả bản thảo sách vở của tôi, vợ chồng tôi phải ký vào biên
bản. Sau biên bản thì lên ô tô bịt kín của công an đưa về Hoả Lò. Đến 2 giờ chiều,
người tôi bã ra. Cái bệnh của tôi, nếu không có điếu thuốc lào hay thuốc phiện
trong người thì bị tháo dạ. Lúc họ đang khám, tôi xin phép đi sau, một anh công
an chạy theo ngay, chắc họ sợ tôi vào nhà cầu tự tử chăng? Vậy cái tội của mình
chắc là nặng lắm.
Vào tới Hoả Lò khoảng 2 giờ 30, phải ngồi ngay vào bàn an công
an để nhận diện và ký vào tất cả các thứ đã bị tịch thu, từ cái phong bì, cái
thư, miếng giấy vụn đến bản thảo, sách, vở... Không được ăn gì từ sáng đến giờ,
tôi hoa mắt không biết mình đã ký những gì, trong khoảng từ 2 rưỡi đến năm giờ,
có phải tất cả là của mình không? Trước khi đi vợ tôi chỉ kịp nhét vào tay tôi
gói xôi với miếng chả và họ cho phép nhận, nhưng có kịp ăn đâu, đến năm giờ chiều
thì tôi cũng chẳng nhớ là mình nhét nó ở đâu, chắc khô cứng rồi.
Khoảng 5g30, 6g, anh Phú dẫn đến một hành lang trên có cái bàn bảo
nằm nghỉ ở đấy. Rồi khoảng 7 giờ tối họ đưa tôi vào một cái phòng rộng, đông
người.
Một người đến hỏi làm sao mà bị bắt, tôi nói tôi làm công tác
văn hóa, bị nghi viết tài liệu phản động. Nhà văn à? Tên gì? Tôi bảo tên Hoàng
Cầm. Trong phòng có vài người biết tôi: Hoàng Cầm Bên kia sông Đuống phải
không? Tối hôm kia cũng có một phạm nhân là nhà văn trẻ tuổi hơn bác tên là
Hoàng Hưng vào đây. Tôi giật mình: Thế là Hoàng Hưng đã bị bắt ngay đêm hôm kia
rồi! Anh ấy vào đây lúc 3 giờ sáng, sáng hôm sau thì bị chuyển sang buồng khác.
Thôi bác vào nằm đây, có tuổi lại yếu đuối, nếu chúng nó có hỏi gì thì trả lời
tử tế, không nó đánh phủ đầu cho một trận thì chết, bác yếu quá không chịu nổi
đâu. Lúc bị bắt tôi giấu được một cục thuốc phiện đem đi, người bạn tù chỉ cho
tôi cách vo và giấu vào chân răng để lúc bị khám không mất. Gặp bạn tù tử tế thật
ấm lòng.
Sáng hôm sau họ đến gọi Bùi Đăng Việt mang "nội vụ"
-tức là ba lô, chả hiểu tại sao lại gọi là nội vụ- lên cung. Họ dẫn vào
phòng quản trị, có hai người ngồi chờ, một người bảo: "Hoàng Cầm đấy à?
Tôi là Nguyễn Doãn Nhạ, đây là anh Nguyễn Trọng Cường, trưởng Phòng Điều Tra
Xét Hỏi". Ông Nhạ nói đại khái:"Bất đắc dĩ tôi mới phải đưa anh đến
đây, tôi không hỏi cung anh đâu, hỏi cung không phải là việc của tôi. Chắc anh
còn nhớ 10 năm trước tôi đã gọi anh lên vì chuyện thơ phú rồi, mà anh vẫn cứ tiếp
tục truyền bá tư tưởng chống Đảng khắp nơi, ra cả nước ngoài. Đảng đã khoan hồng,
không bắt anh đi cải tạo, từ năm 1955 đến nay là hơn 20 năm rồi mà anh vẫn chứng
nào tật ấy..." Ông Nhạ nói dài dòng lắm, tôi chỉ ngồi nghe vì họ có hỏi
gì mình đâu. Rồi đến ông Cường: "Tôi Trọng Cường trách nhiệm điều
tra, hôm nay anh tạm về nghỉ, ngày mai anh suy nghĩ sẵn rồi phải khai cho thật,
thật rõ ràng minh bạch, khai hết, không phải với tôi đâu mà với các cán bộ mà
tôi cử ra!"
Tôi bị giam trong một phòng 28 người, chật và nóng. Phòng bên cạnh
giam những đứa trẻ vị thanh niên, có đứa mới 12 tuổi. Bữa cơm tù đầu tiên: năm
người chung nhau một bát rau muống, một bát nước canh (nước luộc rau muống) và
một điã muối.
♦ Kiểm điểm
Hai lần kiểm điểm bị ông Nhạ bảo là giả dối, không thành thật nhận
lỗi, xoá đi. Lần kiểm điểm thứ ba, sau khi bị bắt độ một tháng, vẫn do anh Hoà
và anh Tú ghi chép. Họ vẫn đem tập Về Kinh Bắc ra như hai lần trước, vẫn đọc từng
bài, dở từng trang như để hướng dẫn mình: Câu này ám chỉ ai? Câu kia nói
cái gì? Ám chỉ cái gì? Nói đến vần đề gì của Đảng? Anh phải kiểm điểm thật kỹ,
chứ như hai lần trước là vứt đi. Tôi mong anh nói thật, còn nếu anh cứ lập lờ
như thế thì anh phải ở trong Hoả Lò này không biết đến bao giờ.
Đến lần thứ ba thì tôi thực sự hoang mang. Biết viết thế nào để
làm vừa lòng các ông ấy? Nhận tội thì nhận tội gì? Tôi có làm gì đâu? Tập Về
Kinh Bắc chỉ toàn là hoài niệm buồn, tôi viết từ tháng 9 năm 1959 đến
tháng 3 năm 1960, cả thảy gần 50 bài, mà mình cũng không oán giận ai, thơ là thơ,
là sự rung động của chính mình, nó từ vô thức mà ra, thì mình "kiểm
điểm" thế nào được cơ chứ?
Lần này, họ có hai thái độ: thứ nhất, răn đe, dọa nạt về
cái chết: án tử hình, xử bắn, treo cổ. Anh Hoà luôn luôn nói thẳng chứ không
quanh co gì: Tội của anh đáng treo cổ, anh phải chui đầu vào thòng lọng
thì mới hiểu thế nào là chuyên chính vô sản, chứ cứ để cho các anh tự do, các
anh toàn viết bậy, toàn làm thơ bậy. Dưới thời phong kiến thì họ chém, ở Âu
Châu thì họ treo cổ.
Cứ vài ngày ông Nhạ lại gọi lên nói riêng, ông bảo: "Văn
nghệ sĩ các anh thì lắm trò lắm, ví dụ anh Văn Cao phê đàn em: Thơ mày có chất
lắm đấy!" Thấy tôi mỉm cười vì ông bắt chước đúng giọng Văn Cao, ông
ta trấn áp ngay: "Này tôi nói chuyện thế thôi chứ Văn Cao không phản
động như anh đâu, anh cười cái gì!"
Trong hơn 10 ngày, mỗi ngày tôi phải lên ngồi như vậy, phải sống
cực kỳ căng thẳng, bứt rứt, phải đối phó với những bất trắc, rồi cuối cùng, tôi
cũng phải viết bài kiểm thảo, lần này tôi viết ba trang nhận tội, đại ý: "Tôi
có bất mãn chủ nghiã Xã Hội. Sau NVGP, tôi oán chế độ, oán lãnh đạo, oán Đảng
đã gây ra nhiều chuyện đau buồn cho đời sống của tôi, và tôi đã làm những bài
thơ chống đối chế độ trong tập Về Kinh Bắc". Tôi cũng muốn thoả mãn
các ông ấy để họ tha mình về, vì mình có phải là người khí tiết gì đâu, tôi
không phải là Hoàng Văn Thụ hay Võ Thị Sáu, giá thời trước mà mình làm gì, bị
Pháp bắt, nó tra tấn, không khéo mình cũng khai bậy khai bạ để thoát thân.
Lần kiểm điểm thứ ba, anh Hòa đe dọa: "Tội thằng tướng
ngụy, điều khiển một sư đoàn đánh trận, có thể giết hàng nghìn hàng vạn người
Việt Nam. Tội nó to lắm, đáng xử bắn một lần, nhưng cái tội của Hoàng Cầm, đầu
độc tâm hồn hàng triệu người Việt Nam, kích thích hàng triệu người chống Đảng,
tội đó nặng gấp trăm lần tội thằng tướng ngụy".
Trong lần kiểm điểm thứ nhì, ông Nhạ nói: "Được rồi
tôi sẽ cho anh gặp con gái anh!". Mới nghe tôi tưởng thật, chắc con
Loan[53] ở xa nó về, ông ấy tử tế cho mình gặp
nó. Đêm nằm nghĩ lại thì hoá ra nó bảo cho mình gặp con gái mà con gái mình là
Bùi Hoàng Yến nó mới chết, vừa cúng 100 ngày cho nó thì hôm sau bị bắt! Thế là
họ cho mình xuống âm phủ chứ gì! Nghĩ ra điều đó, tôi giật mình, tôi sợ thật,
và tôi biết là họ có thể làm điều đó bất cứ lúc nào.
Còn một lần ông Nhạ đưa cho tôi xem một bài báo ở Paris, hình
như báo Quê Mẹ hay Đất Mẹ gì đó, họ phân tích bài thơ Lá Diêu Bông, họ bảo chị là
Đảng Cộng Sản còn em là văn nghệ sĩ. Bài thơ có nghiã là Đảng bắt văn
nghệ sĩ phải làm tay sai cho mình, khi làm rồi thì Đảng lại phủi tay, cho rằng
chả có gì xứng đáng cả.
Trong suốt một tháng giời tôi bị họ bao vây, áp chế tư tưởng, đã
khai rồi còn bị bác bỏ, phải làm lại từ đầu, tôi như mê hoảng. Sau khi đưa bài
kiểm điểm lần thứ ba cho anh Hoà, hai hôm sau ông Nhạ lại gọi lên.
Trước tiên ông ấy nói: "Anh có tiến bộ đấy! Lần này
anh chiụ nhận tội chống Đảng, chống chủ nghiã xã hội, nhưng mà nhận chống suông
như vậy là chưa được, anh phải nói rõ: Trong câu thơ nào? Anh dùng những chữ
gì? Anh ám chỉ cái gì? Ám chỉ ai? Anh phải nói thật tỉ mỉ, rành rọt ra, chứ viết
suông như thế này là vô ích. Chúng tôi thừa hiểu anh chống như thế nào, tôi là
đại tá, không dốt nát gì đâu, tôi đã học đại học, đã đọc rất nhiều sách. Bài Lá
Diêu Bông của anh, lúc đầu thực sự tôi chả hiểu gì lắm đâu, chỉ cảm thấy không
phải thơ tình hoàn toàn. Nhưng nhờ bài báo Quê Mẹ, chúng tôi mới hiểu anh chống
Đảng một cách hết sức thâm độc, anh dùng chữ thật tuyệt vời, bài thơ của anh
càng được truyền bá trong quần chúng, tác hại chống Đảng của anh càng lớn mạnh,
sâu sắc".
Tôi chỉ nói lại được vài câu: "Giữa tôi là Hoàng
Cầm ngồi trước mặt ông đây là một công dân, sống dưới sự quản lý của nhà nước,
chưa có tội gì, và một kẻ viết bài báo ở Paris, cố tình mượn bài Lá Diêu Bông để
chửi Đảng, chửi nhà nước, ông tin ai hơn?"
Ông đại tá cười khinh bỉ, rất bề trên, bảo: "Tôi tin
người này hơn anh, vì họ hiểu anh lắm, còn anh là văn nghệ sĩ, anh giả trá, anh
quá quắt lắm, làm sao mà tin anh được! Từ thời Nhân Văn chúng tôi đã không tin
anh rồi, chúng tôi đã hết sức giáo dục anh, đã cải tạo anh, tưởng để anh viết
những bài tốt cho nhân dân, chứ anh lại cứ tiếp tục viết những bài như thế này
thì tin anh sao được. Chính nhờ bài báo này, chúng tôi mới biết anh chống Đảng
và nhân dân như thế nào. Anh gọi người chị là Đảng, và anh hay văn nghệ sĩ là
em, chúng tôi làm sao biết được. Chính người này đã vạch ra bản chất của anh, họ
nói rất đúng và tôi tin họ. Anh chửi Đảng một cách sâu sắc như thế, thâm trầm
và nham hiểm như thế, tôi mong rằng anh phải phân tích rất kỹ, thì anh mới sửa
được. Tôi yêu cầu anh làm lại."
Tôi cãi thế nào cũng không được.
Ông Nhạ bắt tôi về viết lại kiểm điểm lần thứ tư.
Trước khi về, ông ấy nói rất tự nhiên như chuyện chơi:
"Chúng tôi là đảng viên mà khi có việc phải xử tử ai thì
cũng rất đau lòng. Như cái thằng Hùng nó giết cô Thuận, con một cán bộ ở phố Phạm
Đình Hổ đấy, đến hôm xử bắn nó, chúng tôi cũng vẫn cho nó một cái áo quan và một
nén hương. Chúng tôi chỉ có nhiệm vụ giáo dục thôi, mà nếu giáo dục không được
thì đành phải lấy tử hình mà xử. Sự thực chúng tôi chẳng muốn giết ai, nếu mọi
người đều theo đúng chính sách của Đảng, thì đều được sống yên vui cả. Các anh
đã được đi cải tạo rồi, đã được sống thâm nhập vào đời sống nhân dân rồi, đã biết
họ khổ như thế nào rồi, mà các anh vẫn chống lại nhân dân, thì cuối cùng chúng
tôi cũng đành phải tính đến chuyện tử hình thôi. Anh phải tự cứu lấy anh, anh về
làm lại đi, lần này mong anh làm tốt, anh nên nghĩ đến vợ con anh, nên giác ngộ,
nhận lỗi đầy đủ, thì chúng tôi cho anh về. Lần này tôi mong là lần cuối cùng, từ
lúc NVGP đến giờ cũng gần 30 năm, chúng tôi vẫn chờ đợi, mong các anh thay đổi
tốt hơn, để giúp đỡ các anh, thì anh lại sổng ra tập Về Kinh Bắc, mới biết tâm
hồn anh đen tối, tồi tệ, tới mức nào".
Thế là hết đợt ba, đêm đêm nằm trong Hoả Lò tôi luôn luôn bị day
dứt giữa cái có thực và cái không thực: Rõ ràng mình viết tập Về Kinh Bắc là
do cảm xúc nó tràn ra thành chữ, ta gọi là vô thức tuôn ra, có cái buồn, cái u
ám, là tâm cảnh mình thế thôi, mà bây giờ phải nhận là có chủ ý chống Đảng một
cách sâu sắc, nhận một cách chi tiết, thì mình làm thế nào? Thành ra khổ lắm,
tôi bị dằn vặt. Cả thời gian kiểm điểm lần 4 tôi mất ngủ, ngày thì phải viết,
có ngày chỉ viết 3, 4 câu. Họ không thúc giục nữa, họ cứ để anh tự do. Chúng
tôi sẵn sàng chờ. Kiên nhẫn chờ. Trong khi ấy thì ruột gan mình như lửa đốt,
nghĩ đến vợ con thì thương lắm. Lỗi tại mình hết cả. Tại mình làm khổ vợ con. Tại
sao lại không viết văn ca ngợi cuộc sống, mà lại viết những câu thơ buồn như thế
này. Dần dần tôi thấy có lẽ đó là tội thật chứ không phải người ta bắt mình nhận
tội.
Và đó là chặng đường tôi đã đi từ giai đoạn ba sang giai đoạn bốn: Mình
tự nhận mình từ một người không có tội thành một người có tội thật. Và khi viết
xong cái kiểm điểm số 4, được người ta chấp nhận và hoan nghênh, thì mình
đã chấp nhận là mình có tội một cách thành thực, chứ không phải do thủ đoạn. Bởi
vì nếu mình còn có thủ đoạn thì nó lại lòi ra, họ biết ngay.
Vì vậy, những gì mình viết trong bản kiểm thảo số 4, phải hoàn
toàn là thành thật, mình nhận lỗi của mình, chứ không phải bị ai truy bức gì cả.
Tại sao mình lại không làm đúng đường lối của Đảng? Tại sao mình lại chống Đảng?
Để cho vợ con khổ, là lỗi tại mình.
Về sau này tôi mới thấy rõ cái giỏi trong phương pháp của những
người lãnh đạo để cải tạo tư tưởng trí thức. Nhưng lúc bấy giờ tôi chưa nhận
ra, chỉ biết là từng đêm, từng đêm mình tâm niệm là mình có tội thật và khi
mình phải viết bản kiểm thảo số 4, thì phải viết theo đúng ý ông Nhạ, nghiã là
không thể nhận lỗi suông, mà anh phải giải thích rõ câu thơ: "Em đi
đêm tướng điều sĩ đỏ" là thế nào? Anh coi "tướng điều sĩ đỏ"
là mầu đỏ của cộng sản sản chứ gì? Những cái gọi là Hồng Quân, hay Hồng Trường
là tượng trưng cho giai cấp vô sản, anh còn lạ gì nữa?"
Lúc đó tôi lại nghĩ: Không khéo câu này mình chống lại thật, dù
lúc làm mình không nghĩ thế, nhưng trong thâm tâm, trong đáy lòng mình, mình
không quy phục, mình thù ghét cộng sản từ trong máu rồi, cho nên nó tự viết ra
như vậy, và điều này, tự mình nhận ra như thế.
Bản kiểm điểm số 4 mang tính chất: Mình nhận là mình sai thật,
là mình có chống Đảng thật, không phải mình cố ý chống Đảng, mà cái bản chất
mình nó chống Đảng như thế. Tất nhiên là có thêm cả các điều kiện khác nữa:
trong khi đó thì ông Nhạ và cậu Hoà luôn luôn dọa tử hình, treo cổ, xử bắn. Mỗi
lần lên cung, họ khủng bố tinh thần đến cực độ như thế, về lại phòng giam, thì
các anh em tù, thay vì động viên tinh thần cho mình đỡ sợ hơn, thì họ lại, mà
không phải một người đâu, cả 4, 5 người tù, từ những người đã tự giác để được
làm quản lý tù nhân, đến những tù nhân, họ đều tỉ tê bên cạnh: "Còn
cái gì thì bác nói hết đi, khai hết đi để về với vợ con, nếu không thì chỉ làm
phân bón sắn ở Thanh Chương thôi. Người ta chả cần giết ngay đâu, người ta chỉ
đưa vào Thanh Chương 6 tháng, rồi xác của bác người ta chôn bên cạnh gốc sắn,
thì có phải bác làm phân bón cho sắn không?" Tôi chỉ nghe nói Thanh
Chương là một huyện miền núi, khỉ ho cò gáy, gần Nghệ An, có một trại cải tạo.
Người tôi nó đã mềm ra như sứa rồi, không có lúc nào mà mình tham sống sợ chết
như lúc ấy.
Bản kiểm điểm thứ 4 tôi nhận hết tội có phân tích hẳn hoi theo
đúng ý ông Nhạ.
Sau khi thông qua bản thứ 4, tôi được nghỉ độ 3 ngày. Sau đó lại
gọi lên cung, có cả ông Nhạ và ông Cường, lần này có cả kẹo bánh nữa. Ông Nhạ
nói: "Đọc bản kiểm điểm thứ 4 của anh, tôi cảm động lắm, thấy anh
thành thật nhận lỗi, và đã phân tích cái tội của mình, từng câu, từng chữ. Tuy
thế vẫn còn chưa đủ đâu, nhưng đã có tiến bộ rõ ràng. Hôm nay gọi anh lên đây để
hoan nghênh anh, nhưng còn nhiều bài anh mới chỉ lướt qua thôi, anh còn phải
suy nghĩ sâu xa nữa, nhưng như thế này cũng tạm đủ rồi, anh tự thấy được tội lỗi
của mình, thì mới có thể về sống yên ấm tuổi già được".
Hôm ấy tự ông Nhạ pha trà rồi cả anh Hoà anh Tú cũng phục vụ,
còn mời tôi thuốc lá nữa, ra vẻ rất bình đẳng thân mật. Hôm sau ông Nhạ lại gọi
tôi lên và nói:"Hôm qua tôi chỉ đưa cho mấy nhà báo như Hà Nội Mới, Công
An Nhân Dân, báo quân đội... đọc bản kiểm thảo của anh, họ xin được đăng báo
ngay nhưng tôi không cho, như thế đủ biết chúng tôi muốn giữ uy tín cho anh đối
với nhân dân chứ có muốn bêu xấu anh đâu. Đấy! Cái độ lượng của Đảng là như thế
đấy! Chúng tôi chẳng có ác ý gì với anh cả! Vậy tôi đề nghị thế này: cái bản
kiểm điểm của anh vừa viết xong, có một phóng viên báo Công An Nhân Dân muốn trực
tiếp phỏng vấn anh, một nhân vật chủ chốt của báo ấy đấy, vậy anh chuẩn bị sẵn,
sáng mai 9 giờ, anh Hòa và anh Tú đưa anh lại gặp người phóng viên, chúng tôi sẽ
thu băng cuộc phỏng vấn và anh cứ nói y như bản kiểm điểm. Tôi yêu cầu anh phải
nói tự nhiên, như là câu chuyện tâm sự trao đổi với bạn hữu, chứ không phải như
đọc dictée đâu, kẻo nghe, người ta lại hiểu lầm là có lẽ bị công an bắt buộc
chăng. Anh biết đấy từ trước đến nay chúng tôi có bắt buộc anh cái gì đâu, anh
tự nguyện cả đấy chứ!"
Sáng hôm sau, từ 8g30, anh Hoà đã cho giấy gọi. Theo đúng lệnh
ông Nhạ, không được mặc áo tù, phải cho mặc quần áo tử tế là liếc đàng hoàng.
Nhưng anh Hoà bảo vội quá không chuẩn bị kịp, nên tôi chỉ mặc áo quần thường, lấy
trong ba lô.
Sau gần hai tháng giời bị giam, hôm ấy tôi được ra phố, đi theo
anh Hòa và anh Tú ra khỏi Hoả Lò, xuống phố Dã Tượng, sang Trần Hưng Đạo, tức
là đến văn phòng Sở Công An. Họ dẫn mình đến cái buồng khá rộng, để thu băng,
đã có ông Nhạ ngồi sẵn đấy với một người lạ. Ông Nhạ nói ngay: "Tôi
giới thiệu với đồng chí nhà báo đây là Hoàng Cầm, tội phạm chính trị văn hóa
văn nghệ. Tôi cho phép nhà báo tự do hỏi, anh Hoàng Cầm phải trả lời thật đúng
như anh đã kiểm điểm". Ông Nhạ cũng không giới thiệu tên người nhà
báo là ai. Anh nhà báo nói giọng bằng hữu: "Anh Hoàng Cầm à, từ xưa
tôi vẫn mến tài anh, tôi biết anh có sai phạm, bị bắt giam; ông trưởng phòng có
cho biết anh đã có một vài giác ngộ, tôi muốn đến để phỏng vấn anh".
Ông Nhạ bảo: "Anh Hoàng Cầm đứng dậy! Đứng
nghiêm!" Thế là mình đứng dậy. Ông Nhạ nói: "Anh khai lại
lý lịch, bị bắt từ bao giờ, tội gì,... nói lại".Thế là mình khai: "Tôi
tên là Bùi Tằng Việt, sinh ngày... tham gia cách mạng... tham gia NVGP... gần
đây tôi lại có ý thức chống Đảng... nhưng tôi được sự giáo dục của các cán bộ
công an nên tôi đã giác ngộ... tôi đã viết bản kiểm điểm được ban lãnh đạo công
an chấp nhận". Đến đây ông Nhạ bảo: "Anh ngồi xuống!" Và
quay sang anh nhà báo: "Bây giờ xin nhà báo tự do muốn hỏi gì thì hỏi". Anh
nhà báo chỉ hỏi mỗi một câu: "Anh Hoàng Cầm, anh tự kiểm điểm lỗi của
anh như thế nào, xin anh cho biết". Bấy giờ anh Hòa đã đem cái bản kiểm
điểm để trước mặt tôi, và mình đã được chỉ thị của ông Nhạ là không được đọc
như chính tả, mà phải "nói" một mạch tự nhiên như nói chuyện với một
người bạn.
Sau này nghĩ lại mới thấy là họ có phỏng vấn cái quái gì đâu.
Cái anh nhà báo đó chỉ hỏi có mỗi một câu, để lấy cớ cho mình đọc bản kiểm điểm.
Lúc anh ta hỏi cũng như lúc ông Nhạ nói, thì máy ghi âm nó không bật, chỉ khi
mình khai lý lịch và đọc bản kiểm điểm, nó mới bật máy lên thôi! Hoá ra là nó
thu băng mình tự đọc bài kiểm điểm của mình!
Về lại Hoả Lò, thì từ hôm sau, ngày nào mình cũng lại bị gọi lên
hỏi cung từ 8g30 đến 11g30, không biết trong bao nhiêu ngày nữa, để bổ sung bản
kiểm điểm; tức là phải viết, phải kê khai tất cả những quan hệ với bất cứ ai -bạn
Nhân Văn không kể, vì họ biết rõ rồi- các quan hệ thân sơ, kể cả khách đến uống
rượu ở quán nữa.
Khi được về, tôi mới biết những người mình kể tên ra đều bị gọi
lên công an hết, bị hỏi cung, kiểm điểm: Tại sao anh quen với Hoàng Cầm? Tất
cả những người đó đều bị truy tội đã quen với Hoàng Cầm, đã đọc thơ Hoàng Cầm,
đã ca ngợi thơ Hoàng Cầm... Ví dụ cái băng cassette tôi ngâm thơ để gửi tặng cô
Cần Thơ ở Pháp, thu băng ở nhà ông Hoàng Lập Ngôn, tôi phải khai rõ hôm ấy có
những ai... Nói chung, tất cả những người có tên trong bản kiểm điểm của tôi, mặc
dù tôi không khai man cho ai cả, trừ ông Hoàng Lập Ngôn không phải lên vì già yếu
quá, đều bị gọi lên kiểm điểm. Họ cũng chẳng khai thác được gì, nhưng mình thấy
cuộc đời, khi người ta sợ hãi quá, thì người ta có thể làm cái việc bị đánh giá
là phản bội.
Sau lần kiểm điểm thứ 4, bẵng đi một tháng, không thấy gọi lên
cung, không được gọi lại "nhớ", bởi vì đi cung thì còn được
uống chén nước trà, đôi khi được hút điếu thuốc lào, lại được gặp cậu Tú, tôi
còn nhớ rõ tên cậu là Đỗ Anh Tú, người thật tình tử tế, chỉ làm nhiệm vụ ghi
chép, chứ không nói một câu nào xúc phạm. Những ngày ở Hỏa Lò, tôi nhớ mỗi cậu
Tú, không như anh Hoà, giọng Huế ngọt mà đe dọa, anh Hoà thâm hiểm lắm.
♦ Xà lim bộ
Hôm nay họ lại gọi lên gặp ông Nhạ, lần này ông bảo: "Chị
Yến vợ anh có làm cái đơn xin tha cho anh, nộp lên phường. Chúng tôi định đưa
anh về khu phố nhân dân để anh báo cáo tội của anh cho nhân dân góp ý kiến.
Nhưng chị Yến đến xin chúng tôi đừng làm thế, xấu hổ cho chồng tôi lắm, chồng
tôi là nhà văn thì để cho Hội Nhà Văn xét xử chứ đưa ra người dân khu phố, họ
có biết gì về văn chương đâu mà xử, nhục cho chúng tôi lắm, xin các ông đừng
làm thế. Vậy thể tình chị Yến, chị ấy cũng có tuổi rồi, chúng tôi không đưa anh
về khu phố cho người ta phê phán nữa. Chị ấy là người tốt đấy, thế mà anh cứ chống
đối mãi làm khổ chị ấy. Còn cái đơn của chị ấy thì chúng tôi đang xét, tội của
anh nặng lắm còn phải đợi lệnh trên đã."
Tôi ăn cái Tết đầu tiên trong tù, vợ tôi gửi quà từ chiều 30,
nhưng quá giờ, nên đến mùng bốn họ mới đưa, bánh chưng, nhát giò mỏng, mọi thứ
thiu cả.
Anh Hoà nói: "Chuyện chị Yến làm đơn xin tha cho anh, thì
trên đang xét, tôi thấy ông Nhạ cũng có thể tha cho anh được, nhưng vì anh mắc
vào cái vụ NVGP từ năm 56, năm nay là 83 rồi mà anh vẫn còn cái tội này, nên
chúng tôi phải thỉnh thị lên trên Trung Ương, lên Bộ Chính Trị, lên Chính phủ.
Chúng tôi nhận được lệnh chuyển anh lên trại giam của Bộ để xét tội trạng của
anh. Anh về sửa soạn sáng mai chuyển trại". Tôi hoàn toàn tuyệt vọng
vì trước đây ông Nhạ có bảo: "Có thể tha cho anh về trước Tết".
Trong hơn tháng cuối ở Hoả Lò, tôi ở cùng phòng với Huỳnh Minh
Tuấn con trai ông Huỳnh Tấn Phát. Tuấn bị bố bắt bỏ tù vì tội tổ chức cho người
vượt biên. Tuấn rất quý tôi, vài ngày xoay cho tôi một điếu thuốc lào, thỉnh
thoảng một quả chuối hay cái kẹo, làm tôi đỡ khổ. Tôi về kể với Tuấn là mai chú
phải chuyển trại, chẳng biết trại nào. Nó bảo ngay: "Chú phải lên xà
lim bộ đấy! Xà lim bộ, tức là Bộ quản lý. Bộ đây là Bộ Công An". Tôi
hỏi: "Ở đâu, có xa Hà Nội lắm không?Nó bảo: "Gần thôi, về
phía Thanh Trì".
Ngày mồng 5 Tết, tháng 2/1983[54] tôi phải chuyển trại. Ô tô đi xuống
đường Hà Đông, rồi rẽ theo ven sông Tô Lịch, qua làng Kim Lũ, đi thêm độ 2 cây
số nữa, đến một nơi như dinh tuần phủ hay tổng đốc ngày xưa, họ dẫn tôi vào,
trao cho anh quản giáo.
Xà lim là phiên âm tiếng cellule của Pháp, tức là giam phòng
riêng, biệt giam. Tôi được dẫn đến một dẫy nhà một từng, xây từng căn một, mỗi
căn có độ 9, 10 phòng, mỗi phòng cách nhau một bức tường, trên có chăng giây điện,
cửa xúc xích sắt khoá kín.
Vắng lắm, dường như chả có ai bị giam ở đấy. Quản giáo sai tự
giác lấy cho tôi một cái bô với một cái chiếu. Anh này nói đùa: "Bác
già như thế này mà còn vào xà lim làm gì!" Phòng tôi dài rộng 2m trên
3m. Khi hai người đi ra mình mới thấy cái cảm giác bị ném vào sa mạc Sahara, ở
đây không có sự sống của con người. Thấy tiếng kẻng thì anh tự giác đem cơm
lên. Cơm nước cũng khá hơn: một bát cơm, một bát canh, tức là canh rau muống có
cho muối sẵn. Rau muống ở đây non hơn; còn ở Hoả Lò chỉ toàn gốc, xơ, rau cho lợn
ăn. Có lẽ là bên Bộ nên chính sách khác. Nhưng sự cô liêu thì khủng khiếp, mình
viết văn vẫn hay tưởng tượng cô đơn như thế nào. Nhưng bây giờ chỉ có bốn bức
tường, sàn xi măng và tiếng xích sắt, không có người, thì nó ghê gớm lắm. Ở Hoả
Lò còn nghe được tiếng động của thành phố, tiếng rao hàng, tiếng chửi nhau...
nhưng người ngoài đường lại không nghe thấy tiếng động bên trong nhà tù, dù tù
nhân có la hét, đánh nhau.
Sáng hôm sau, một anh quản giáo đến gọi, vẫn tên Bùi Đăng Việt,
đi cung. Lên gặp, thì đúng là cái anh dẫn mình xuống trại giam này hôm qua. Anh
ấy nói:
"Tên tôi là Chiến, thuộc Cục Điều Tra Xét Hỏi của Bộ".
Hôm nay tôi bắt đầu làm việc với anh. Làm lại từ đầu. Bên Hoả Lò và ở đây không
có liên quan gì với nhau. Bắt đầu từ ngày mai, anh sẽ được ăn uống theo tiêu
chuẩn cán bộ trung cấp, tức là ngạch cũ của anh". Anh Chiến là người
hoà nhã, lại có học, có tình, người tôi rất mến khi ở xà lim. Anh làm tôi lại
nhớ anh Tú ở Hoả lò, thường gọi tôi khi bằng bác khi bằng ông. Còn thì bất kể
tuổi tác, người ta đều gọi là anh. Anh Chiến ôn tồn nói:
"Bây giờ bác khai lại tất cả những gì đã khai, bổ sung hoặc
viết lại, chúng tôi có nhiệm vụ điều tra lại vụ án của bác, việc bác gửi thơ
sang Pháp, sang Canada, cho ai, mục đích gì, thì phải nói hết". Thế
là tôi lại khai lại, tôi quen cô Cần Thơ ở Pháp như thế nào, khai giống như ở
Hoả Lò vậy. Trong vòng ba tháng, anh Chiến cứ hai ba ngày lại xuống xà lim một
lần. Rồi bẵng đi một tháng không thấy ai hỏi nữa, sự cô liêu trở lên khủng khiếp.
Trong lúc bị giam thì mấy ngày sau, tôi bắt đầu quan sát xà lim.
Trên bốn bức tường có đủ các thứ chữ, viết bằng ngói, bằng gạch, bằng bút chì,
vẽ hình, vẽ hai bàn tay bị cùm, có cả những câu như: "Đừng có dại dột
mà khai, tù dài chung thân". Vậy phòng này đã giam những tù chính trị
hạng nặng. Lại có những câu mà mình nghi là ám chỉ mình, hoặc ám chỉ tội trạng
của mình, như: "Bên kia sông?","Đại tướng 5 sao", "Anh
Việt ơi! Về với em!" Rõ ràng là tên cúng cơm của mình rồi! Tôi nghĩ
là họ bố trí để đánh vào tâm não của mình qua 4 bức tường.
Ban đêm, lại có những loại tín hiệu khác: Có cái đèn điện trên
cao, sáng, nhưng lúc cắt điện tối mò, anh tự giác đem đến một cái đèn hoa kỳ, để
ở cái khe trên cao, tù mù. Tôi ngủ thiếp đi độ 5, 10 phút, lại nghe tiếng súng
oang lên bên tai, giật thót mình tỉnh dậy, căn phòng vẫn tối mờ mờ. Lại có tiếng
chó sủa, tiếng người chạy rầm rầm ở hành lang. Lại nghe tiếng người nói chuyện,
rõ câu "bánh xe vuông mà". Mà bánh xe vuông có trong câu
thơ mình tả chân dung Đặng Đình Hưng: "Sa lầy bãi sông Thu Bồn lũ ngược,
những chiếc xe bánh vuông".
Tất cả những chuyện ấy có thực chứ không phải mình mê ngủ, nó
đánh động vào thần kinh. Tức là 24 giờ trên 24, có những tiếng động, những âm
thanh, những dấu hiệu, chỉ vào mình. Ví dụ, có đêm tôi đang ngủ bỗng nghe rõ
ràng xà lim bên cạnh ồn ào náo nhiệt như chợ Đồng Xuân, rồi bỗng có tiếng
hét: "Ông Việt ơi ! Ông Hoàng Cầm ơi! Ông định chết ở trong này sao,
không về với vợ con à?" Có lúc họ còn gọi cả bút hiệu khác của tôi,
như: "Ông Lê Kỳ Anh ơi!" Lại có hôm, giữa trưa, ở cái xà
lim bên tay phải phát ra tiếng ru con Nam Bộ của một giọng nữ, rất trẻ. Mình lại
nghĩ là có người đàn bà bị giam, mình lấy gạch gõ vào tường ba tiếng, thấy bên
kia gõ lại ba tiếng. Nhưng sau đó lại có giọng nam cũng ở phòng đó, ngâm Đường
thi, câu thơ ám chỉ hoàn cảnh mình... Những chuyện như thế xẩy ra nhiều lắm
không thể kể xiết: Một buổi trưa, tôi đang nằm trên sàn xi măng thì nghe na ná
giọng bà Yến, nói rót vào bên cạnh tai: "Anh coi còn cái gì thì anh
khai hết đi, còn giấu diếm cái gì nữa!".
Trong những tháng hè năm 1983, giữa trưa tôi thường nghe phòng
bên cạnh có tiếng "Tắc kè! Tắc kè!" bẩy tám lần. Có lúc lại
nghe tiếng mối "Zạc, Zạc, Zạc"mà nhìn lên trần thì chả thấy thạch
sùng, mối đâu cả. Có đêm điện tắt thì thấy ánh sáng xanh bắt chéo ở phòng bên cạnh
rọi sang, chẳng biết ở đâu ra, cứ chập chờn. Tức là tôi nghe tất cả mọi biến thể
âm thanh, mầu sắc, không ngừng, ngày đêm, có thể lúc tôi ngủ họ cũng vẫn phát
ra những tiếng động như thế.
Một tuần họ mở cửa cho mình được ra sân tắm giặt vài tiếng đồng
hồ, mình cũng vẫn nghe thấy những tiếng ấy, như ở sân bên cạnh. Nhìn lên thì chỉ
thấy tường cao có mảnh chai và dây điện, nhưng vẫn có tiếng nói văng vẳng, họ
nói chuyện với nhau, thỉnh thoảng chen vào nói mình, thí dụ lúc thì có giọng một
ông già nói: "À ! Cái lão ấy ở trên Cao Bằng có gặp, dạo ấy đẹp trai
lắm, hăng hái lắm!"
Trong suốt cả năm giời tôi ở xà lim, liên tục ngày đêm là như thế.
Về âm thanh, họ có để ổ điện hay một cái máy nghe, máy phát nào đấy, ở chỗ nào
đó, trên cao, hay ngang tầm mình; bởi vì tôi có trông thấy một chùm dây điện,
hàng chục dây chui vào một lỗ, cụm dây chui vào độ 10 phân thôi, rồi hở ra có một
cục đen như đầu máy, họ trét xi măng gồ ra như cái hộp, nhưng trét nham nhở để
mình đoán là cái đầu máy, để mình hiểu là có thể có máy thu thanh hay máy gì
đó. Hoặc như cái thềm xi măng mình nằm, tưởng nó đặc nhưng một hôm đánh rơi cái
thìa thì thấy nó rỗng. Mình đi một vòng thềm xem xét thì thấy về một phía tường
có lỗ hở độ bàn tay trẻ con, nhìn vào thấy rỗng; vậy đúng là đường dây thông, để
chứa những máy mà họ phát ra những âm thanh tắc kè, mối, hay những tiếng rì rào
nói chuyện.
Tâm trạng tôi lúc bấy giờ xuống dốc đến thế nào, hay là tôi hèn
kém quá, khiến tôi luôn luôn nghĩ đến cái chết nhưng lại sợ. Muốn đập đầu vào
tường chết, lại sợ không biết phải đập như thế nào mới chết được, mà không chết
thì có chịu nổi không. Tôi nghĩ đến viết thư về nhà xin gửi thuốc gì cũng được,
độ 30 viên mà nuốt vào, rồi không uống nước, nó sẽ sưng phù trong bụng, mà chết;
nhưng cũng không được vì gửi thuốc phải qua kiểm soát. Hôm ấy vào lúc được ra
sân tắm, mà lại không thấy quản giáo đâu, tôi có một cái quần rách mà cạp còn
dai lắm. Tôi xé cái cạp ra, lấy hết sức buộc hai ngón chân cái lại với nhau rồi
lê ra bể nước, lết lên miệng bể thả mình vào, định chết chìm. Nhưng cái bể nó lại
nông, uống chỉ được hai ba ngụm nước thì bản năng sinh tồn vùng dậy, lại quờ quạng
lấy tay ngoi lên mặt bể, bò ra, bị lạnh, rét run. Chết kiểu ấy cũng không được.
Trong khi ấy, gần một năm rồi, những âm thanh vẫn tiếp tục như cái trò giải
trí, không tha mình giây phút nào.
Mình ở trong cái thế giới hiu quạnh, một mình, thỉnh thoảng nhìn
qua khe hở lỗ khoá xích sắt, để xem có ai qua lại hành lang. Lúc thì thấy anh
quản giáo, lúc thì thấy con chó berger hẳn hoi. Một hôm nhìn sang cái xà lim
trước mặt thấy có người, một ông già độ 70, bị giam cùng với đứa cháu gái 14,
15. Ông già nói: "Mày đứng đấy chờ cán bộ đưa cơm thì mang vào cho
tao nhá!" Rồi thấy ông già đi vào trong xà lim không trở lại nữa. Có
hôm thấy một ông già nhà quê, và đứa con gái, khác, cũng ngoan ngoãn hầu hạ, rồi
cũng biến mất. Không biết họ tạm giam hay sao, thế là mình mất cái dịp nhìn thấy
con người.
Vì vậy, khi nghe thấy bất cứ tiếng động gì thì bám lấy, bám như
bám vào cái xã hội mà mình không được sống ở trong ấy nữa. Dăm hôm sau, bên cạnh
có hai cô, ngoài 20, cũng nửa quê nửa tỉnh, đi lấy cơm rồi mang vào xà lim bên
cạnh, họ cười nói khúc khích, như chả có vẻ gì đi tù cả. Tôi thèm được nói chuyện
với họ, thèm như đói thèm cơm, cứ mong đến giờ ăn để họ ra cho mình nhìn một
tý, nhưng đến chiều không thấy họ ra nữa.
Loáng thoáng những hình ảnh, luôn luôn thay đổi như thế, nó làm
cho thần kinh mình cứ loạn dần, loạn dần. Mình thèm sự sống, thèm được đi cung,
để được nói dăm ba câu, chứ giam như thế này thì đúng là hoang đảo. Có khi hàng
tháng chả nhìn thấy bóng công an, mỗi ngày chỉ có anh tự giác bưng cơm tận miệng,
nhưng hỏi gì nó cũng không nói, hoạc chỉ trả lời qua loa. Mình xin: "Bác
ơi! làm ơn cho tôi xin điếu thuốc lào." Thì nó bảo: "Ơ, tù
mà còn đòi thuốc lào!" Một sự thèm muốn ghê gớm đến khủng khiếp, có cảm
tưởng là mình bị chôn sống trong xà lim này. Mình thèm muốn tiếng người, dù là
tiếng nó chửi mình, còn hơn sự im lặng. Nghe thấy tiếng người là thấy sống.
Nghe cái thứ âm thanh ám chỉ, dù không phải là tiếng người trực tiếp, cũng còn
hơn im lặng hoàn toàn.
Ngày tháng trong xà lim chỉ đại khái, không thể biết rõ. Lúc đầu
tôi còn đếm ngày, tôi nhớ ngày 8/4 lễ Phật Đản năm 83 là ngày giỗ con gái tôi,
nó tên là Hoàng Yến. Giỗ đầu. Hôm ấy tôi ở trong xà lim. Sáng dậy, tôi đã nhớ
con gái lắm, bỗng có một con bướm trắng nhỏ, nó không bay mà lại bò đến chỗ
mình nằm. Tôi nhớ lại lúc tôi còn ở nhà, khi con tôi chết được 35 ngày, thì đến
11 giờ 15 đêm, nó hiện ra con bướm màu hoàng yến, nó bay vào giường ngủ của
tôi. Tôi ra thắp hương cho nó, rồi nó bay không biết bao nhiêu vòng nữa, tôi biết
là con gái tôi về thăm bố. Hôm nay nó lại hiện ra, nó là con bướm trắng nó về
thăm bố trong tù.
Khoảng cuối tháng 9/83, anh quản giáo đến bảo: "Anh Việt
mặc quần áo vào lên ban quản trị!" Lên đến nơi, họ cho biết: "Báo
cho anh biết: Anh được về thăm gia đình!" Tôi vừa ngạc nhiên vừa sung
sướng. Họ đưa lên xe bịt về, tôi ngồi giữa hai cán bộ. Họ đã dặn kỹ: "Tuyệt
đối không được nói chuyện tù, giam ở đâu, đã khai những gì, chỉ về thăm nhà
thôi." Tôi tưởng được về Lý Quốc Sư, nhưng ô tô đỗ lại ở phòng thường
trực của Bộ ở phố Trần Bình Trọng. Bà Yến đã ngồi ở đấy với thằng Anh, thằng
Phi và cô Huyền là bồ của Phi. Nó mua sẵn tô phở còn nóng, và gói quà để đấy.
Cán bộ bảo: "Anh ăn đi, rồi nói chuyện với gia đình".Thằng Anh
đã chuẩn bị sẵn một cái bát nhỏ sẻ ra: "Bố ăn đi, phở tái ngon lắm".Nhưng
tôi không ăn được, không thể nuốt được, đưa lên miệng lại nghẹn, lại oẹ ra, nước
mắt trào vào bát phở. Thằng Anh cảm động, nó bỏ ra ngoài. Bà Yến bình tĩnh hơn
tôi nhiều: "Thôi cũng là số phận, kể như ông bị tai nạn thôi. Ông chả
việc gì phải buồn, đáng nhẽ tôi còn buồn gấp vạn ông, mà có dám buồn đâu, phải
lo bao nhiêu là việc". Bà càng săn sóc, an ủi, càng nói thì tôi càng
khóc nức nở như đứa trẻ con, không sao cầm lại được. Cả cuộc thăm rồi cũng
không nói được gì.
Cùng thời điểm ấy, trong xà lim có một tay đến làm quen, bảo nó
là cán bộ công an, chẳng tham ô gì nhưng bị bắt bừa. Tôi đang thèm người nói
chuyện, nó lại giúp đỡ tôi, lúc tắm nó kỳ cọ cho, tôi cũng quý mến chuyện trò với
nó, nhưng nhiều lúc nó cứ hỏi như thẩm vấn về chuyện mình làm "gián
điệp" thì tôi lại bực mình. Độ hai tuần, nó được lệnh chuyển trại, thấy
nó quấn gói đi thản nhiên, trông như đóng kịch, chứ không phải ở tù. Sau này
tôi đoán nó được gài lại để kích mình, xem mình có nói gì không, xong việc nó
rút đi.
Thế rồi mình lại sống một mình, từ tháng 10 đến cuối năm, lại được
gọi đi cung tới tấp, vẫn là hỏi về mối liên lạc với cô Cần Thơ ở Pháp, việc gửi
băng ngâm thơ cassette, bị địch lợi dụng, rồi trở lại cuốn Về Kinh Bắc,
anh muốn ám chỉ ai, v.v... loanh quanh chỉ ngần ấy thứ.
Đến gần Noël, trời rét lắm, 5 giờ sáng, nghe tiếng hét rất to:
"Bùi Đăng Việt! Chuyển trại!" Mình nghe thế thì nghĩ ngay: Thôi
thế là hết rồi! Lần này chắc đi Thanh Chương, Nghệ An hoặc Thái Nguyên, Phúc
Lưu đây. Cuộc đời mình kể như chết rồi, là cái giẻ rách chứ chẳng còn khí tiết
gì. Chán chường. Tuyệt vọng. Anh công an bảo: "Anh viết kiểm điểm đi,
từ ngày ở Hỏa Lò sang đây anh có bị ai đánh đấm tra khảo gì không, có ai ăn cướp
quần áo gì không, thì nói hết ra rồi ký vào!" Thế là tôi ngồi viết: "Từ
hồi Hoả Lò chuyển sang đây gần một năm trời rồi, không ai đánh đập, xỉ vả gì nặng
quá. Tôi không có đồ đạc gì đáng giá nên không ai bóc lột lấy cắp một tý
gì" Tôi ký tên, và hỏi: "Thưa cán bộ, tôi được đổi đi trại
nào đấy ạ?" Thì được trả lời: "Đây không biết, chỉ biết có
lệnh chuyển trại thôi!" Họ cho tôi ăn cơm sáng sớm hơn mọi hôm rồi
cho lên xe bịt kín đi. Tôi đang suy nghĩ không biết họ đưa đi đâu, thì lại thấy
sông Tô Lịch, rồi về thành phố vào Khâm Thiên, đến gần toà án thì mình nghĩ: họ
đưa mình ra toà. Nhưng qua toà án, thấy nó rẽ ra Hoả Lò rồi đỗ. Nghĩ bụng thôi
được về Hoả Lò cũng tốt, có người, đông vui hơn.
Họ đưa vào một cái buồng bảo anh ngồi đây, chờ cấp trên. Rồi thấy
anh Tú và anh Hòa bá cổ nhau đi đến, anh Hoà bông đùa: "Anh Cầm à,
tôi nói có sai đâu, hôm anh dọn xuống xà lim, tôi nói anh cứ tin vào ngày mai tốt
đẹp!". Tôi nghe chả hiểu gì. Độ nửa tiếng sau, ông Nguyễn Doãn Nhạ bước
vào, người cao, gầy, da mặt bám sát xương, hai con mắt của ông có gì rờn rợn,
tôi vẫn còn nhớ lần trước ở Hoả Lò, ông ấy doạ: "Tôi sẽ cho anh gặp
con gái anh." Tức là gặp con Hoàng Yến nó mới chết! Ông ấy cho mình
xuống âm phủ gặp con gái. Cái ông Nhạ này thâm và ác. Mặt lạnh lùng, khi ông đến
gần mình thì hai mắt ông quắc và sắt lại, đăm đăm như có gì hằn thù, tức giận,
hoặc có mưu mẹo gì, làm cho mình rờn rợn, có cảm tưởng đứng cạnh tử thần.
Thấy ông vào thì tôi cũng đứng dậy chào ông, vẫn theo thường lệ: "Chào
cán bộ!" Tôi biết bây giờ ông là đại tá rồi, ông có thư ký đi theo.
Ông bảo: "Hôm nay đưa anh từ xà lim bộ lên đây là anh được tạm tha
theo yêu cầu của bà Yến, vợ anh, có đơn làm lên phường. Chúng tôi sẽ trao trả
anh về phường, anh ngồi viết kiểm điểm lại đi".
Được tha thì tôi cũng mừng nhưng lại viết kiểm điểm nữa thì mình
biết viết gì? Lại Kinh Bắc à? Viết đến bao giờ cho xong? Tôi cầm bút ngần ngừ,
thì ông bảo: "Hay thôi, để tôi đọc, anh viết cho nhanh, tên tôi là...
anh nói sơ qua lý lịch một tý, bị bắt ngày... vì tội danh dám làm cả một tập
thơ Về Kinh Bắc nội dung phản động, chống Đảng... ngày hôm nay được nhà nước
khoan hồng cho về thì tôi xin hứa điểm thứ nhất: Tuyệt đối ngừng bán rượu. Tuyệt
đối tuân thủ chínhsách của Đảng. Không được phá hoại..." Ông đọc chầm
chậm như thế nào thì tôi viết như thế. Rồi ký. Sau đó anh thư ký đọc lệnh, tôi
phải đứng nghiêm nghe lệnh. Họ cho về nhưng có tha đâu. Họ bảo chỉ tạm tha, lúc
nào muốn bắt trở lại cũng được. Cứ hai, ba ngày họ lại đến, lại hỏi bài này anh
chưa khai hết, phải khai thêm cho rõ, cho kỹ, anh làm lại đi, hai ngày nữa
chúng tôi đến lấy.
Qua những trận như thế, tinh thần tôi ngày càng sa sút. Tôi bị bệnh
tâm thần. Dạng trầm uất. Cả ngày chả nói năng gì, trông thấy ai cũng sợ người
ta sắp bắt mình. Có lần đạp xe ra phố, thấy camion lao vào nhưng người lái xe
phanh lại kịp rồi thò cổ ra chửi rủa thằng già muốn tự tử hả? Có lần định nhẩy
vào đường sắt ở chỗ Trần Phú, đã đứng rình sẵn đợi xe lửa đến lao vào, thì có một
bà đứng đằng sau kéo giật trở lại, ngã giập đầu vào tường.
♦ Bùi Thị Cần Thơ - Nguyễn Mạnh Hùng
Năm 1978, tôi nhận được thư của một người bạn học cũ tên là Nguyễn
Bùi Chấn, địa chỉ 10 B Sương Nguyệt Ánh, Sài Gòn, giới thiệu với một Việt kiều,
tên Bùi Thị Cần Thơ, làm bác sĩ ở Pháp. Anh Chấn cho biết cô này rất hâm mộ thơ
tôi và muốn liên lạc thường xuyên để nói chuyện thơ văn với tôi. Anh có hỏi, cô
ấy muốn gửi một món quà cho tôi để làm quen, vậy tôi muốn quà gì? Thấy không có
gì trở ngại, tôi đồng ý, vì biết cô ấy là bác sĩ, tôi xin ít thuốc trụ sinh vì ở
đây khó mua. Bẵng đi một dạo không có tin tức, đến đầu năm 1979, cô Cần Thơ gửi
cho tôi một ký thuốc. Chúng tôi tiếp tục liên lạc, sang năm 80, cô gửi nhiều
quà lắm, ba lần, mỗi lần một gói 5 kí lô thuốc, và từ đó về sau, cô luôn luôn
tiếp tế cho gia đình tôi đều đặn. Cô kể chuyện đời cô. Tôi tìm cách gửi tặng cô
đầy đủ các sáng tác cũ, mới của tôi.
Một Việt kiều khác là Nguyễn Mạnh Hùng, giáo sư tiến sĩ dạy kinh
tế ở đại học Montréal, từ Canada về Việt Nam luôn luôn, ngay từ 1975-76. Hùng
nói được ông Phạm Văn Đồng giao cho công tác về kinh tế. Năm 1980, Hùng lại về,
nói sẽ ghé qua Paris trước khi về Canada. Tôi nhờ Hùng cầm băng cassette tôi
ngâm thơ qua Pháp cho cô Cần Thơ.
Tháng 8/1982, khi tôi bị bắt đưa vào Hoả Lò, bà Yến có viết thư
cho cô Cần Thơ nói rõ chồng tôi bị bắt về tội liên lạc với người nước ngoài,
tôi biết cô rất quý mến chồng tôi, vậy mong cô thông cảm, xin cô ngừng liên lạc
với chồng tôi. Nhận được thư, cô Cần Thơ gửi 100 đô la cho vợ tôi để săn sóc
tôi, và cô cho vợ tôi biết: Thầy em là Thích Nhất Hạnh có thể can thiệp để anh
ra sớm. Sau này tôi mới biết cô chính là Cao Ngọc Phượng, đệ tử của thầy Nhất Hạnh
và sau cô đi tu là Sư Chân Không.
Khi tôi được về thì bà Yến cũng cho tôi xem bài báo của công an
trung ương tức là báo của Hữu Ước, nó tả Nguyễn Mạnh Hùng bị khám xét ở Tân Sơn
Nhất và bắt được mang 500 cuốn băng chống Đảng. Chúng nó bịa. Sự thực thì năm
1982, tôi có đưa một tập Về Kinh Bắc cho Hùng đem ra ngoại quốc. Khi
vào Nam để đi Pháp, Hùng đi cùng với Dương Tường. Tôi bị bắt hôm trước, hôm sau
Dương Tường báo cho Nguyễn Mạnh Hùng biết, đừng mang gì của Hoàng Cầm ra ngoài
cả. Hùng gửi cả Kinh Bắc, cả Bên kia sông Đuống, đi tay không. Lần
trước, năm 80, cậu đã mang cassette cho tôi trót lọt. Lần này, cậu không mang
theo cái gì cả, vì thế khám xong, cậu về Canada như thường.
Sau này ra tù, cô Cần Thơ cho tôi biết là khi tôi bị bắt, ông Nhất
Hạnh có trao đổi với 4, 5 trí thức Pháp, đã từng ủng hộ miền Bắc và thân với
ông Lê Đức Thọ trong phái đoàn hoà bình ở Paris. Họ bàn nhau rồi viết kiến nghị
gửi ông Lê Đức Thọ về việc nhà thơ Hoàng Cầm bị bắt: Nếu xét Hoàng Cầm không phạm
điều gì thuộc về luật nhà nước Việt Nam, mà chỉ vì về văn học, thì chúng tôi
yêu cầu nước Việt Nam Dân Chủ Công Hoà trả ngay tự do cho nhà thơ Hoàng Cầm.
Sau đó, tôi cũng lại được nghe một số anh em quen biết, ở cấp khá cao, kể lại
như thế này:
- Ông Lê Đức Thọ nhận được cái thư ấy, liền điện cho Sở Công An
Hà Nội, bảo họ xem xét việc Hoàng Cầm thế nào, nếu không có chuyện gì nghiêm trọng
lắm thì thả anh ấy ra kẻo mang tiếng.
- Lại có ý kiến cho rằng chính vì cái điện của ông Lê Đức Thọ,
mà anh bị giam thêm. Bởi vì, tuy chức ông Thọ có cao thật, nhưng ông Thọ không
phải là cấp trên trực tiếp của ông Nhạ. Cấp trên của ông Nhạ là một ông nào đó
trong Bộ Chính Trị, ông này bảo: "Nhờ ngoại quốc can thiệp à? Đã can
thiệp thì giam thêm nữa cho biết". Vì thế mà anh bị giam vào xà lim bộ
thêm một năm nữa.
- Có người nói thẳng là ông Tố Hữu. Ông Tố Hữu và ông Lê Đức Thọ
quyền hành ngang nhau, chả ai ngán ai. Chính ông Tố Hữu bảo: "À đã thế
thì giam thêm cho nó biết!". Bắt anh cũng là lệnh Tố Hữu. Giam anh tới
18 tháng cũng là Tố Hữu.
- Theo một số người, kể cả Đặng Đình Hưng vì Hưng cũng có quan hệ
với một số công an nào đó, thì họ nói rằng: Ông Tố Hữu có một số công an làm việc
trực tiếp dưới quyền của ông ấy. Công An Hà Nội do ông Tố Hữu chỉ huy, bởi vì
phần lớn anh em Nhân Văn ngày trước đều ở Hà Nội, trừ Hữu Loan bỏ về Thanh Hoá.
Cho nên nói chung trí thức nào bất mãn hoặc có ý chống đối thì ông Tố Hữu huy động
bộ máy Công An Hà Nội để bắt. Việc bắt Hoàng Cầm cũng là do Tố Hữu chỉ thị cho
Công An Hà Nội, mà việc thả ra cũng là do Tố Hữu. Vì cái thư của trí thức Pháp
và điện yêu cầu của ông Lê Đức Thọ, chạm đến tự ái của ông Tố Hữu, nên ông ra lệnh
cho giam kéo dài thêm, để cho nó biết thế nào là kỷ luật, thế nào là chuyên
chính vô sản.
Sau khi tôi ở tù ra, công an luôn luôn theo dõi và gây áp lực,
de dọa sẽ bắt lại... việc này đến năm 1993 mới chấm dứt. Những tháng đầu tiên,
mỗi tuần tôi phải trình diện, phải kiểm điểm rất chi tiết: ai đến thăm, như thế
nào, thế nào... mình đi chơi với ai... Và cứ 2, 3 ngày, ông Nhạ lại phái 2 người
công an, mỗi lần khác nhau, đến hành tôi: còn bài này, bài kia, anh chưa
kiểm điểm hết...
Sau khi được "phục hồi", công an vẫn không
buông tha tôi. Đến tháng 5 năm 1988, ông Nguyễn Doãn Nhạ, vẫn ông Nhạ ấy, cho
người mời tôi đến Sở để thảo luận về việc in tập Về Kinh Bắc, lúc ấy tiếng
tăm của tôi đã trở lại dần dần. Họ đưa tôi vào một phòng rộng, ông Nhạ ngồi với
ba bốn người, thái độ đầu tiên của ông cực kỳ thân mật: "Này anh Cầm
nhỉ? Hôm nào giỗ chị Yến cho tôi biết nhé, để tôi đem vàng hương đến lễ - Bà
Lê Hoàng Yến mất năm 1985 vì quá cực khổ -phải lo nuôi gia đình tám người con-
bị căng mạch máu, trong lúc Hoàng Cầm bị bệnh tâm thần - Chị Yến là người
rất tốt, một phần nhờ chị ấy làm đơn mà anh được về đấy, còn anh cả đời chỉ làm
khổ chị ấy...". Mình cứ nghe xem ông xoay giọng thế nào, quả nhiên,
ông ấy nói tiếp: "Nhưng mà dù anh có được phục hồi thì ảnh hưởng tác
hại của thơ anh vẫn kéo dài, các bài Lá Diêu Bông, Cây Tam Cúc, người ta vẫn
ngâm nga, rồi người ta muốn in thơ anh, người ta bốc thơ anh, nguy hiểm cho anh
lắm! Chính anh đã làm kiểm điểm tập thơ ấy ở Hoả Lò rồi, nay anh lại tuyên truyền
đi khắp nơi, rất nguy hiểm!". Ông chỉ mấy quyển sách luật để trên
bàn, có quyển mở sẵn: "Đây này, luật cấm tuyên truyền, cấm cái này...
cấm cái kia... anh mắc cả. Anh vi phạm luật rõ ràng chứ không phải chúng tôi bắt
anh viết kiểm điểm đâu. Vậy anh phải làm gì đi chứ!" Rồi ông quay ra
vui vẻ: "Thôi ta uống bia đã! Nào, các đồng chí mang giúp tôi bia, kẹo
bánh lên đây!" Ông lại tiếp tục thân mật pha lẫn đe dọa: "Như
thế nó nguy hiểm lắm, nguy hiểm cho anh, thế anh không nhớ chị Yến đã khổ với
anh như thế nào à? Chính anh đẩy chị ấy chết nhanh như thế đấy! Anh có hối hận
không? Anh phải nghĩ cách ngăn chặn việc đó lại, chứ không thì nguy cho anh lắm!"
Tôi hiểu ông ấy còn căm cái chuyện Lá Diêu Bông lắm,
ông là công an, muốn bắt ai chả được, hai chữ "phục hồi" đối
với ông chẳng có nghiã gì. Hội Nhà Văn đối với ông chẳng có giá trị gì. Tôi
nói: "Việc người ta chép và đọc thơ tôi, kể cả tập Về Kinh Bắc, làm
sao tôi kiểm soát được". Ông ấy bèn gợi ý tôi viết cái thư ngỏ. Tôi đồng
ý: "Vâng, tôi sẽ viết cái thư ngỏ gửi độc giả trong và ngoài nước về
tập Về Kinh Bắc", - "Thế thì tốt lắm! Chúng tôi chỉ muốn cứu
anh chứ có muốn phiền anh làm gì!" Tôi nói: "Hay anh cứ
dùng cái bản kiểm điểm tôi viết trong Hoả Lò". Ông bảo: "Bản
ấy dài dòng lắm, bây giờ anh viết ngắn thôi, viết cho dễ đọc! Vậy mai nhé, mai
anh vào đây, viết mấy ngày cũng được!"
Hôm sau tôi vào ông không có mặt, hai người cấp dưới đón tôi ở cửa,
đưa vào phòng có giấy bút sẵn, tôi ngồi viết ngay, như một bức thư gửi bạn trẻ,
nói đại khái "Tập thơ Về Kinh Bắc nó giống như một cô gái đẹp, nhưng
nó đen tối, tai hại cho chế độ này, mà con người cần phải sáng sủa để tiến lên.
Tôi cũng dẫn chứng vài câu, đoạn "đen tối" hai nghiã, với giọng hết sức
thành thật, tôi yêu cầu độc giả trong và ngoài nước nếu ai có đọc thì quên nó
đi, đừng truyền bá nó, vì đó là những tư tưởng độc hại..." Ra về tôi
thấy nhẹ người vì nghĩ từ nay mình xong nợ với chuyện Về Kinh Bắc.
Mấy ngày sau, ông Nhạ gọi lên, đưa bức thư bảo tôi đọc lại. Đọc
xong, ông bảo: "Cám ơn anh, khá lắm! Bây giờ thế này nhé: Anh đọc lại!
Cứ đọc tự nhiên như thế để chúng tôi ghi âm". Ông lại dùng đúng
phương pháp trước: cả giọng nói của mình, chữ viết của mình, rành rành đây, còn
chối cãi gì nữa! "Chính anh tự viết, tự đọc, có ai bắt buộc anh
đâu!"
Đó là phương pháp làm việc của công an, mình phải vâng thôi, làm
sao cưỡng lại được. Tôi làm đúng như ý ông muốn, quả nhiên sau đó, tôi thấy nhẹ
người"Thôi xong nợ."[55]
● Tố Hữu dưới mắt Hoàng Cầm
Hoàng Cầm kể trong băng ghi âm:
Trong hai năm 1962 và 1963 tôi làm việc tại nhà máy gỗ, hướng dẫn
công nhân về văn nghệ, tức là làm phim đèn chiếu: chiếu phim rồi đọc thuyết
minh, mỗi tháng lĩnh thêm độ 25 đồng, bằng 2/3 lương công nhân bình thường, gia
đình đỡ khổ hơn.
Đến năm 1965, khi Mỹ ném bom Vịnh Hạ Long, chúng tôi nhận được
thư của Đảng Đoàn Hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật mời lên để chuẩn bị công tác
mới, có: Trần Dần, Lê Đạt, Thanh Châu, Trần Duy, Tử Phác, Phùng Quán... Hai người
tiếp chúng tôi là Phùng Thị và Bảo Định Giang, ủy viên Đảng Đoàn. Anh Phùng Thị
là nhân vật chính, nói:
"Vì Mỹ đổ bộ miền Nam và ném bom miền Bắc, chúng ta sẽ có một
cuộc kháng chiến gian khổ và quyết liệt kéo dài không biết đến bao giờ, cho nên
phải huy động lực lượng toàn quốc để chiến đấu. Chúng tôi theo chỉ thị của Bộ
Chính Trị, cụ thể là ông Lê Đức Thọ và thủ tướng Phạm Văn Đồng, anh Lê Đức Thọ
nói thế này: "Bây giờ Hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật phải chú ý đến anh
em NVGP, trước đã bị kỷ luật, bây giờ phải đưa họ trở lại để phục vụ Đảng và
nhân dân, vì trong cuộc chiến chống Mỹ chúng ta cần lực lượng toàn dân thì mới
có thể thắng và thống nhất đất nước được".
Sau 7 năm kỷ luật, chúng tôi rất mừng. Năm ấy, tôi mới 43, Trần
Dần 39, Lê Đạt 36, còn nhiều tiềm năng lắm. Anh Phùng Thị cho biết anh Tố Hữu
hiện nay đang đi chữa bệnh ở Đức, chưa biết bao giờ về. Như thế là chúng tôi biết:
Vắng ông Tố Hữu; ông Lê Đức Thọ, trưởng ban Tổ Chức Trung Ương và cả thủ tướng
Phạm Văn Đồng cũng đồng ý ra chỉ thị phục hồi, đưa chúng tôi trở lại làm việc.
Trong 3, 4 ngày, anh Phùng Thị nói về tình hình đất nước, về chủ
trương chống Mỹ và nhiệm vụ của người công dân, văn nghệ sĩ. Sau đó, anh mới
nói đến việc phân công:
Anh Phùng Quán không còn ở trong biên chế, vì đã ra khỏi
quân đội, chúng tôi đưa trở lại biên chế, sang làm việc ở Sở Văn Hoá trong cụm
Văn Hoá Quần Chúng, đi sưu tập văn hoá dân gian; anh Hoàng Cầm về Sở Văn Hoá Hà
Nội làm việc với anh Nguyễn Bắc. Anh Trần Dần xuống vùng mỏ 6 tháng, nhưng
không phải đi lao động, xuống để nghiên cứu đời sống công nhân và sáng tác, thời
gian này anh có viết được một truyện rất hay. Anh Lê Đạt lên Phú Thọ để làm
công tác kinh tế miền núi. Còn hai anh Tử Phác và Đặng Đình Hưng thì để bên hội
âm nhạc sắp xếp, anh Trần Duy do Hội Mỹ thuật lo... Cuối tháng 8/1965 tôi đến
Phòng Sáng Tác Sở Văn Hoá, lúc ấy gọi là Nhà Sáng Tác, có khá đông anh em quen
biết, anh Nguyễn Bắc giao cho tôi diễn ca các nghị quyết, chính sách, của thành
phố, thành văn vần cho nhân dân dễ đọc, dễ nhớ. Họ có in ra thành tập sách mỏng.
Tháng 11/1965 xẩy ra việc Nguyễn Văn Trỗi bị xử tử. Tôi được gợi
ý viết bài trường ca hoặc kịch ngắn để ca ngợi. Lúc bấy giờ tin tức ở từ Nam ra
Bắc rất lủng củng, lúc đầu người ta bảo là Nguyễn Văn Trôi, sau chữa thành Trỗi.
Một cái tên còn sai như thế, thì các sự việc còn sai lạc đến thế nào, nhưng tôi
chỉ biết là người ấy có hành động can trường, làm tôi xúc động. Đầu năm 1966,
tôi làm bài thơ dài "Tiếng gọi của người anh hùng", trong đó không
nói đến tên Nguyễn Văn Trỗi và thành tích gì cả. Lúc ấy có một anh tên là Đức,
cục phó Cục Văn Hoá Quần Chúng đến yêu đến cầu tôi đọc thơ, mỗi lần anh ấy nói
chuyện ở các hội nghị, các đại học, về đề tài Nguyễn Văn Trỗi, để làm gương cho
thanh niên.
Anh Đức đề nghị mỗi khi anh diễn thuyết, sẽ nghỉ hai lần, và mỗi
lần tôi ngâm thơ, lần đầu tôi ngâm bài thơ của ông Tố Hữu, lần sau ngâm bài thơ
nào, tùy ý tôi chọn. Dĩ nhiên là họ không giới thiệu tên tôi, mà chỉ coi như một
cán bộ Sở Văn Hoá. Tôi đồng ý. Lúc đó, chúng tôi vẫn chưa được lộ tên thật, anh
Phùng Thị bảo phải dần dần độ một năm rồi mới tính. Tôi ngâm bài thơ Tố Hữu với
tất cả tinh thần thì được vỗ tay rất ghê. Đến lần thứ nhì tôi đọc bài thơ của
tôi, đọc chứ không ngâm trong 10 phút, tôi thấy cử tọa khoảng 300 người toàn
trí thức, kỹ sư, đều im phăng phắc nghe đến hết, không vỗ tay. Lúc sau mới có một
phụ nữ lên tiếng: Tại sao một bài thơ như thế này mà không thấy đăng đâu cả.
Tôi phải giải thích vì Sở Văn Hoá chúng tôi sưu tầm trong quần chúng thôi, nên
chỉ giữ làm tài liệu chứ không đăng ở đâu. Sau đó hai ba người yêu cầu tôi đọc
lại cho họ chép. Đấy là buổi đầu tiên. Anh Đức dự tính sẽ có khoảng 20, 25 buổi
khác ở các đại học và nhiều cơ sở khác nhau. Anh hẹn tối hôm sau sẽ đến đón tôi
khoảng 7g30. Nhưng anh mất hút luôn. Cuối cùng, không bao giờ gặp lại anh nữa.
Sau này, tôi có trao đổi với Trần Dần, Lê Đạt; thì Trần Dần nói
ngay: "Cái bài thơ của mày thì đâu có gì, nhưng tất nhiên là phải báo đến
tai Tố Hữu. Nếu mày chỉ ngâm thơ Tố Hữu không thôi thì mày còn đi kiếm ăn được[56]. Mày đưa cái bài thơ của mày ra là mày chết.
Không đời nào Tố Hữu dung túng bài thơ của mày bên cạnh bài của nó".
Trở lại việc Phùng Thị, sau khi ông đã xếp đặt công việc cho mọi
người được hơn một tháng, tôi lên gặp ông ở 21 Trần Hưng Đạo để khiếu nại về
chuyện lương bổng; bởi vì tôi đã đi làm rồi mà hiện vẫn chỉ được lĩnh lương tối
thiểu. Ông trả lời: "Việc chúng tôi định phục hồi cho các anh là do ý của
anh Lê Đức Thọ, được anh Phạm Văn Đồng đồng ý, lúc ấy anh Tố Hữu đi dưỡng bệnh ở
Đức. Tôi trực tiếp làm việc với anh Thọ, anh Đồng. Tôi bố trí cho các anh làm
việc ở đâu thì cứ ở đó. Nhưng bây giờ sự việc khác đi rồi, những điều tôi hứa với
các anh: nếu in ấn gì trong vòng 6 tháng, thì chưa được để tên mình, nhưng dần
dần rồi sẽ được ký tên thật, sẽ được phục hồi toàn vẹn, không làm được nữa, vì
anh Tố Hữu mới về. Cách đây mấy hôm anh ấy có gọi tôi lên, cũng không gắt gỏng
gì cả, chỉ hỏi: "Cái chủ trương phục hồi cho NVGP là chỉ thị của ai? Tôi
nói: "Báo cáo với anh là tôi làm theo chỉ thị của anh Lê Đức Thọ và thủ tướng
Phạm Văn Đồng cũng đồng ý, vì đất nước bước vào giai đoạn chống Mỹ cứu nước nên
cần đến tất cả mọi người. Anh ấy bảo: "Anh làm thế cũng tốt thôi, nhưng
anh là người phụ trách trực tiếp thì phải bảo đảm được là các anh NVGP đã có tiến
bộ về tư tưởng. Anh lấy cái chi để bảo đảm điều đó?" Tôi nói: "Thưa
anh, tôi chỉ biết là từ 6, 7 năm nay họ đã đi học tập, ở các nơi đều nói họ lao
động tốt, không chống đối gì nữa, tôi cho là họ có tiến bộ". Anh Tố Hữu
nói: "Cái đó cũng được thôi. Nhưng mà có thể bề ngoài họ làm ra vẻ ngoan
ngoãn phục tòng, mà bên trong họ vẫn âm mưu chống lại mình. Nếu họ giả dối, đợi
được phục hồi, được giao cho chức vụ này, chức vụ kia, mới quay lại chống phá
cách mạng thì anh lấy chi bảo đảm tư tưởng của họ?" Nghe anh Tố Hữu nói thế
thì tôi chịu, làm sao tôi dám bảo đảm tư tưởng các anh được? Kể ra thì anh ấy
nói cũng có phần đúng, có thể người ta ngoan ngoãn phục tòng mấy chục năm trời
để sau này họ phản lại, thì tôi cũng chịu. Tôi bất lực rồi, tôi không làm gì được
nữa".
Một tuần sau, tôi xuống 51 Trần Hưng Đạo, chả thấy Phùng Thị
đâu. Từ đấy mất hẳn ông Phùng Thị. Có người phao tin: Phùng Thị sở dĩ muốn phục
hồi cho Nhân Văn vì ông là chú Phùng Quán. Chỉ biết Phùng Thị mất tăm sau khi
ông Tố Hữu ở Đức về. Bị ông căn vặn như vậy thì coi như mất tích, ông tống đi
đâu chả biết, cho về hưu hoặc đổi đi xa, sống chết thế nào không biết. Khi
Phùng Quán mất, cũng không thấy Phùng Thị đi đưa đám. Ông là chú ruột Phùng
Quán.
Ông Nguyễn Đình Thi cho lệnh cắt lương tôi lần thứ nhì. Lần thứ
nhất, sau vụ Thái Hà, năm 1958, lương tôi đang 146 ngàn, lúc đó chưa đổi, còn
tiền cụ Hồ, ông ký giấy hạ xuống 92 ngàn, mình cũng hiểu. Lần này, 1965, Phùng
Thị chuẩn bị cho chúng tôi phục hồi nhưng thất bại, ông Thi lại ký giấy giảm
lương tôi từ 92 đồng xuống 60 đồng. Lê Đạt và Trần Dần bị ông cắt hết, không có
lương, mỗi người chỉ được trợ cấp mỗi tháng 50 đồng.
Ngay sau 1975, Lê Đạt bàn với tôi: "Tao và thằng Trần
Dần mà xin thì khó, nhưng mày có tiếng, lãnh đạo nể, nhân dịp này, mày viết thư
cho Trần Độ -lúc bấy giờ là Bí Thư Đảng Đoàn Bộ Văn Hoá, ngang chức thứ trưởng-
nhân dịp thắng trận, xin nhà nước phục hồi để xây dựng đất nước." Nghe
lời Lê Đạt, tôi viết thư cho Trần Độ nói đại ý như thế.
Anh Trần Độ cử ngay hai người thư ký riêng là anh Huỳnh Ngọc Lý
và anh Thanh đến thăm gia đình tôi và cho biết là anh Trần Độ đã nhận được thư
của tôi, nhưng hiện giờ anh ấy bận quá vì mới giải phóng, nhưng anh cứ yên tâm,
anh Trần Độ rất chú ý đến chuyện này và khi nào phục hồi được cho các anh thì
anh ấy sẽ làm ngay.
Thế là chúng tôi chờ, chờ từ 75 đến 82, tôi bị bắt. Trần Độ ân cần
như thế mà sao không làm được, thì phải có cái gì nó ngăn trở. Tôi mới nghĩ ra
là ông Trần Độ tuy chức cao về văn hoá, nhưng người lãnh đạo tối cao về văn hoá
vẫn là Tố Hữu. Ông Tố Hữu lúc bấy giờ là người có vị trí gần như cao nhất trong
Đảng, là uỷ viên Bộ Chính Trị, rồi Phó Thủ Tướng. Nhiều nguồn dư luận khác nhau
ở trong và ngoài Đảng đều cho rằng ông Tố Hữu sẽ lên làm Tổng Bí Thư thay ông
Lê Duẩn nếu ông Lê Duẩn qua đời.
Nhưng ông Tố Hữu không muốn bọn NVGP mọc mũi xủi tăm lên được,
ông chỉ muốn tiêu diệt địa vị xã hội của anh và tác phẩm của anh sẽ bị chôn vào
quên lãng. Thậm chí chúng tôi nghĩ, những bài thơ hay những gì của NVGP đã bị tịch
thu, họ đốt hết đi rồi. Đốt hết để không còn dấu vết gì.
♦ Nguyễn Văn Linh
Anh Đào Phan tức Đào Duy Dếnh, là nhà nghiên cứu, em ông Đào Duy
Anh, lúc còn sống chơi thân với tôi, anh có viết một bản thảo 2000 trang, tựa đề Bi
kịch Hồ Chí Minh, rút gọn lại cũng được 1000 trang, anh đã trích gửi vài nơi
nhưng họ không đăng.
Khi ông Lê Duẩn[57] mất, ông Trường Chinh đứng ra làm tổng
bí thư trong 6 tháng, lúc ấy ông Trưòng Chinh ủng hộ ông Nguyễn Văn Linh. Đến đại
hội VI, ông Trường Chinh từ chức để làm gương, sau đó các ông Phạm Văn Đồng, Lê
Đức Thọ, Đồng Sĩ Nguyên và 5, 7 người nữa từ chức theo. Đại hội VI, họp trù bị
gần 20 ngày, đấu nhau kinh khủng lắm, sau phe Nguyễn Văn Linh thắng.
Ông Nguyễn Văn Linh lên làm tổng bí thư, lúc đầu chủ trương đổi
mới theo Đông Âu; ông để báo chí, nhà văn được tự do, nhưng chỉ được hơn một
năm, ông Lê Đức Thọ kiềm chế ông lại. Thí dụ ông Linh muốn xoá bỏ đặc quyền đặc
lợi của giới lãnh đạo, nên khi đi công tác, Hà Nội - Sài Gòn, hay đi Mát-Cơ-Va,
ông đi máy bay hành khách với một vài người thư ký tháp tùng, dân chúng hoan
nghênh lắm nhưng một hôm -chuyện này tôi nghe người ta kể lại- ông Lê Đức Thọ
sang chơi, bảo: "Này anh Linh, cái việc anh không dùng chuyên cơ để
đi công tác rất tốt, nhưng hôm qua anh em bảo vệ đến nói với tôi: "Đồng
chí Tổng Bí Thư cứ đi như thế này thì chúng em không biết cách nào để bảo vệ đồng
chí cả!"
Nguyễn Văn Linh hiểu ngay là một câu đe doạ: "Anh cứ
đi như thế này thì anh chết không ai chịu trách nhiệm đâu!" Ông bắt đầu
thấy rợn người và ông đành phải hãm cải cách lại. Đến kỳ đại hội VII[58],
dù ông vẫn được tín nhiệm nhưng ông từ chối, lấy cớ nhiều bệnh không làm tổng
bí thư nữa.
Nhờ Nguyễn Văn Linh làm tổng bí thư nên Trần Độ mới có thể thực
hiện việc đổi mới văn học và làm rất nhanh việc phục hồi NVGP. Trần Độ là Trung
Ương Ủy Viên, được ông Nguyễn Văn Linh rất tín nhiệm, chính Trần Độ thảo nghị
quyết số 5 về vấn đề văn nghệ[59].
♦ Nguyễn Khải
Năm 1988, Trần Độ làm trưởng Ban Văn Hoá Tư Tưởng Trung Ương,
anh thúc giục Hội Nhà Văn phục hồi nhanh chóng cho anh em NVGP. Không ai dám
hay muốn đứng ra nhận lỗi, từ trên Trung Ương Bộ Chính Trị, tức là từ ông Tố Hữu,
không dám thẳng thắn nhận mình sai lầm. Hội Nhà Văn giao cho Nguyễn Khải làm việc
này. Khải muốn không một ai trong Hội Nhà Văn phải đứng lên nhận lỗi gì vì đã xử
sự với anh em NVGP phẩm tàn nhẫn như thế trong suốt 30 năm. Nó muốn giữ sĩ diện
cho Đảng. Đảng đúng mà chính các anh sai, nhưng các anh bị kỷ luật lâu rồi thì
Đảng khoan hồng phục hồi, chứ Đảng không sai gì cả. Thế thì các anh phải viết
cái thư yêu cầu được phục hồi. Nguyễn Khải làm việc đó.
Nguyễn Khải là một tay rất khôn và láu cá. Đầu tiên nó đến ông
Lê Đạt vì nó biết Lê Đạt là cán bộ chính trị và ông này cũng mưu thần chước quỷ
lắm, lại là nhân vật tối ư quan trọng của Nhân Văn. Nó biết nếu nó nói được với
ông Lê Đạt thì mọi việc có thể xong hết, thế là nó đến Lê Đạt trước. Lê Đạt đồng
ý, sau đến Trần Dần, Trần Dần cũng đồng ý, thôi thì viết cái thư cũng chẳng
quan hệ gì theo như Lê Đạt và Trần Dần nghĩ. Sau đó Nguyễn Khải, Xuân Thiều đến
tôi, đi kèm với Phùng Quán và Lê Đạt. Nguyễn Khải nói với tôi: "Tôi
biết việc các anh trở lại với Đảng cũng khó, mà Ban chấp hành chúng tôi đến với
các anh cũng khó. Vậy thì nhân dịp Đảng đổi mới, Ban Văn Hoá Tư Tưởng giao cho
chúng tôi việc này. Nhưng nếu chúng tôi tự ý phục hồi cho các anh, nhỡ các anh
lại không đồng ý, các anh chửi ầm lên: Chúng tôi cần chó gì cái Hội Nhà Văn của
các anh mà các anh phục hồi, thì có phải bẽ mặt cho chúng tôi không. Vậy
theo yêu cầu của Hội Nhà Văn, xin anh viết cho mấy câu. Các anh Lê Đạt, Trần Dần,
Phùng Quán đã làm cả rồi, anh viết ngắn gọn đại ý: "Kỷ luật đã kéo dài gần
30 năm rồi, anh bị quá thiệt thòi vậy yêu cầu hội nhà văn phục hồi cho
anh". Nguyễn Khải nói thì tôi không tin lắm vì lúc anh ta là tổ trưởng
đã đấu tôi rất ghê ở Thái Hà ấp, nó trấn áp tôi, nó bảo "Im mồn đi,
gái đĩ già mồm". Thấy Nguyễn Khải thì tôi khó chịu, nhưng chết một
cái là Lê Đạt, Phùng Quán đã làm rồi. Thấy mọi người đã làm thì mình cũng đành
làm.
Thế rồi trong một buổi họp mặt ở nhà Phùng Quán có cả mọi người
để ăn mừng việc phục hồi này thì Trần Dần nêu lên ý kiến phải đăng báo để cả nước
biết, chứ việc này không chỉ trong nội bộ Hội Nhà Văn. Tôi cũng đồng ý phải
thông tin. Nhưng không ngờ khi Xuân Thiều viết bài trên báo Văn Nghệ thì nó gài
vào một câu: "Ban chấp hành đã họp ngày ấy... trong chương trình làm
việc, có phục hồi cho một số anh em NVGP..." Nhưng nó viết đểu ở chỗ
này, nó chêm vào câu sau cùng "theo đơn yêu cầu của các đồng chí ấy".
Đấy là cái đuôi mà Xuân Thiều thêm vào. Để làm gì? Để nói rằng các anh yêu cầu
chứ Đảng không có lỗi gì cả. Các anh yêu cầu thì Đảng khoan hồng phục hồi cho
các anh thôi! Tôi chắc là Xuân Thiều nó được lệnh ngầm để viết câu đó.
Về sau chúng tôi nhận được nhiều phản ứng từ Nam ra Bắc, chỉ
trích việc ấy lắm: Tại sao lại phải xin phục hồi nhỉ? Nhất là Dương Thu Hương
cô ấy bỗ bã nói thẳng: "Các anh hèn lắm việc gì phải viết đơn xin cái
Hội Nhà Văn chúng nó cho phục hồi". Tôi chỉ cười: "Cô mắng
anh là hèn thì anh cũng chịu thôi. Nhưng chúng tôi không làm đơn lên xin như thế.
Sở dĩ chúng tôi viết cái thư, là do Nguyễn Khải nó yêu cầu các anh viết cho nó
mấy chữ, bởi nếu nhỡ nó phục hồi rồi mà các anh không chịu, các anh chửi ầm
lên, chúng tôi cần chó gì cái Hội Nhà Văn các anh phục hồi, thì chúng nó mất mặt.
Vì thế chúng tôi mới viết cho nó mấy chữ, nghĩ chẳng quan trọng gì, đâu ngờ
chúng nó lại dùng cái thư đó để viết những câu như thế này trên báo Văn Nghệ".
♦ Thái độ của Tố Hữu sau đổi mới
Hoàng Cầm kể:
Trần Độ trong kháng chiến, ban đầu làm báo Vệ Quốc Quân, sau đó
đi chiến đấu thì ông làm chính uỷ sư đoàn 302, là một nhân vật rất hay, được Trần
Dần tả trong cuốn Người người lớp lớp. Ngay thời kỳ ấy, Trần Độ đã
cho Tố Hữu là anh ít học, hãnh tiến, kiêu căng, hợm hĩnh, nên không ưa, ông lại
không trực tiếp ở dưới quyền Tố Hữu, chỉ liên quan thôi, chứ không dính, nên
ông coi thường Tố Hữu.
Cuối năm 1988, Trần Độ là Trưởng Ban Văn Hoá Tư Tưởng Trung Ương
dưới thời Nguyễn Văn Linh, một hôm ông sang chơi nhà Tố Hữu, không phải vì tình
nghiã mà để xem thái độ của Tố Hữu đối với văn nghệ sĩ thế nào. Trong câu chuyện
có đoạn này hết sức quan trọng, Trần Độ hỏi: "Anh nghĩ gì về số anh
em NVGP mới được phục hồi". Tố Hữu trả lời: "Cái bọn chúng
nó bây giờ được ngóc đầu dậy, chúng nó lại láo lếu lắm. Tôi tiếc là ngay từ lúc
đó (tức là lúc NVGP ra đời) tôi không giết hết chúng nó
đi". Đó là nguyên văn câu Tố Hữu nói với Trần Độ, sau này Trần Độ kể
lại cho Ngô Thảo và Ngô Thảo nói lại với tôi.
Nếu phân tích thì thấy cái ghét này không còn là chính trị, vì
quá trung thành với Đảng nữa, mà những người văn nghệ sĩ được nhân dân tín nhiệm
và yêu mến như Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Trần Lê
Vân... nói chung tất cả những anh em nghệ sĩ đủ các ngành, ít nhiều tham gia NVGP,
cả bên hội họa như anh Dương Bích Liên, Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái... đều
là những nhân tài và được quần chúng yêu mến, thì Tố Hữu ghét cay ghét đắng.
Sau Đại Hội VI rồi mà ông còn nói: «Tôi tiếc là ngay từ lúc đó tôi không
giết hết chúng nó đi!»
Đại hội VI kết thúc một thời gian ngắn, thì Tố Hữu lập một nhóm
cùng chí hướng với mình, do ông và Chu Huy Mân cầm đầu. Việc này do một vài anh
em gần Trung Ương làm báo Nhân Dân và vài người công an ngày trước đã hỏi cung
tôi, nhưng là những người tốt, kể lại. Nhiều nguồn chập lại thì mình có thể tin
được: Ông Tố Hữu lập ra một nhóm 27 người, đã thảo hẳn kế hoạch lật đổ Bộ Chính
Trị mới dưới quyền ông Nguyễn Văn Linh, bởi vì tới đại hội VI thì có 7 uỷ viên
chính trị, hoặc xin từ chức hoặc bắt buộc phải thôi việc. Ông Tố Hữu tập trung
những người bất mãn với chế độ mới, thảo một kế hoạch lật đổ Nguyễn Văn Linh. Tất
nhiên công an mật bảo vệ Trung Ương Bộ Chính Trị theo dõi và họ bắt trọn ổ 27
người họp nhau ở một căn nhà gần hồ Ha Le, thu thập tài liệu và làm biên bản, rồi
báo cáo lên ông Linh. Ông Linh gạt đi, bảo: "Chỉ lưu trữ tài liệu,
còn 27 người, không truy tố ai. Anh Tố Hữu và anh Chu Huy Mân đều có đóng góp lớn
cho Đảng. Vậy không đưa ra công khai, kể cả trong nội bộ Đảng, cứ coi như hoàn
toàn không có việc này".
Tôi cho một người cầm quyền mà xử sự như thế là rất đúng, rất
hay.
● In Về Kinh Bắc
Xuân Quỳnh[60] vợ
Lưu Quang Vũ, là nhà thơ và bạn thân của Hoàng Yến, con gái tôi, làm ở nhà xuất
bản Tác Phẩm Mới, đã đọc tập thơ này khoảng 74-75 và rất thích.
Khi tôi ra tù, Xuân Quỳnh nói với tôi ý muốn in, tôi dặn,
đừng lấy tên Về Kinh Bắc mà nên cho thêm bài Bên kia sông Đuống vào
rồi đề tên Bên kia sông Đuống. Xuân Quỳnh cự tôi: "Khổ, chú bị
tù rồi chú đâm nhát quá!". Xuân Quỳnh cũng gây gổ với Vũ Tú Nam, giám
đốc, ông này bảo: "Trên người ta đã có ý kiến, không nên in cuốn sách
này". Xuân Quỳnh cãi lại: "Cuốn này tốt, anh không in thì
tôi in, tôi lo tiền bạc, tôi in lấy, trách nhiệm tôi chịu". Thế là
Xuân Quỳnh tự lo liệu, sắp in, thì công an đến yêu cầu đình chỉ.
Ở Huế, khoảng 1987-88, Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Trọng Tạo
cũng định đưa nhà xuất bản Thuận Hoá in Về Kinh Bắc và cũng lấy
tên Bên kia sông Đuống, hay Thơ Hoàng Cầm. Chuẩn bị xong, sắp in, thì
một hôm, tôi đang ngồi giặt ở máy nước trước cửa nhà, anh Ngọc Bảo[61] đi
qua, vẫy tôi ra nói:"Này, cậu định in tập thơ gì ở Huế phải không? Cậu
đánh điện bảo thôi đi, nếu không tay Nhạ nó bắt cậu trở lại đấy!" Thế
là tôi đâm hoảng. Thơ mình có giá trị thì in lúc nào chẳng được, chứ vào tù nữa
thì sợ lắm, lần này có thể nó đánh đập, làm sao chịu nổi. Tôi đánh điện cho
Hoàng Phủ Ngọc Tường bảo ngừng. Nguyễn Trọng Tạo nói với Hoàng Phủ Ngọc Tường: "Cái
ông Hoàng Cầm này ông ấy nhát lắm, chắc có ai dọa ông ấy đây!" Hoàng
Phủ Ngọc Tường chín chắn hơn:"Giá ai đánh điện thì mình cứ làm, đây chính
anh Hoàng Cầm đánh điện, nếu mình làm có phải là đẩy anh ấy vào chỗ chết
không?"
Đến anh Lý Hải Châu, giám đốc nhà xuất bản Văn Học, trước khi về
hưu cũng định in ít bài trong Về Kinh Bắc, và không được, anh ấy cằn nhằn
tôi: "Khổ quá tập về Kinh Bắc anh cứ để cho chúng tôi lo, tại sao anh
lại ra công an anh khai cái này cái nọ, làm cho công an họ gây sức ép không in
được". Tôi chán quá, tôi bảo: "Thôi tốt nhất là không in gì
cả, tôi chào các anh, tôi về!"
Đến lượt anh Sinh ở nhà xuất bản Phụ Nữ cũng muốn in những bài nổi
tiếng như Lá Diêu Bông, Tam Cúc, cũng bị ông Quang Phòng, tổng cục
phó thứ nhất Cục An Ninh Chính Trị viết thư khuyên: "Anh Hoàng Cầm có
thể in tất cả những bài thơ tình của anh ấy, riêng tất cả những bài trong tập Về
Kinh Bắc thì còn phải chờ chúng tôi quyết định".
Năm 1987, một hôm, tôi mang tập thơ tình, có những bài tôi mới
làm, tậpMưa Thuận Thành cho anh Quang Huy, trách nhiệm nhà xuất bản Văn
Hoá xem, thì anh Quang Huy, ngỏ ý muốn in ngay, anh đề nghị: "Ta nên
cho thêm bẩy tám bài thơ nổi tiếng trong tập Về Kinh Bắc đã được in trên báo
hai ba lần rồi, như các bài Lá Diêu Bông, Tam Cúc..." Tôi có ý ngần
ngại, anh bảo: "Thôi anh cứ để tôi lo liệu". Công an của
ông Quang Phòng có xuống đòi mượn bản thảo để xem. Anh Quang Huy rất mềm dẻo
nhưng cũng rất cứng rắn trả lời như thể anh không biết tập Về Kinh Bắc: "Thưa
các đồng chí tập thơ này đã vào chương trình xuất bản của chúng tôi, những bài
được chọn, có một số bài, hình như nghe nói có trong tập Về Kinh Bắc, nhưng là
những bài thơ đã xuất hiện trên báo hai ba lần rồi, mà dư luận cũng không có gì
phản đối, vậy nếu các đồng chí muốn mượn bản thảo, thì cũng xin trả ngay để tôi
in đúng thời hạn hợp đồng".
Nhờ sự cứng rắn của anh Quang Huy, tập Mưa Thuận Thành in được,
năm 1987, thấy ghi 1000 bản, quá ít, bán hết ngay. Khoảng 1990-91, Trần Tiến phổ
nhạc Lá Diêu Bông, và từ đó, nó được phổ biến rộng rãi, cả người hát xẩm
cũng hát. Đến 1994, anh Lữ Huy Nguyên, nhà xuất bản Văn Học, được một cán bộ an
ninh trên Trung Ương cho biết là chỉ thị cấm in Về Kinh Bắc đã hủy bỏ
từ tháng bẩy tháng tám năm nay rồi. Thế là năm 1994, nhà xuất bản Văn Học được
chính thức in tập Về Kinh Bắc, thấy họ ghi in 1000 cuốn, còn nội bộ bên
trong họ giấu tác giả.[62]
◙
Về Kinh Bắc là bản hùng ca chống lại thanh trừng bức
bách. Về Kinh Bắc là về quê hương, về đất mẹ Luy Lâu (Kinh Bắc), kinh đô văn
hoá đầu tiên của nước Việt, để dâng sớ kể tội "triều đình" đàn áp tư
tưởng, càn quét nhân tài.
Nội dung ấy được giấu trong những câu thơ kín đáo, lại đảo lộn
thứ tự như sấm Trạng Trình, đọc qua không thể hiểu.
Tác giả còn chen vào những bài trữ tình quan họ: Váy Đình Bảng,
Lá Diêu Bông... làm lạc hướng, khiến phần đông người đọc và phê bình, chỉ chú ý
vào những chỗ lãng mạn, trữ tình, dễ hiểu. Nhưng kẻ ra lệnh bắt Hoàng Cầm đã hiểu.
Một bản hùng ca bi tráng, vào đêm. Đêm của người thất trận,
nhưng không thoái gót. Hoàng Cầm tiếp tục cõi hùng ca bi đát từ Hận
Nam Quan, qua Kiều Loan và trở về Kinh Bắc, giọng vẫn sang
sảng:
Về Kinh Bắc phải đâu con nghẹn khóc
Con không cười
Con thoảng nhớ thoảng quên.
Về Kinh Bắc phải đâu con hé miệng
Về Kinh Bắc phải đâu con nhắm mắt
Về Kinh Bắc tìm chơi đàn kiến lửa
Và những bức tranh cuồng loạn: bức bách tự do, giam cầm nghệ sĩ,
đàn áp trí thức, xé sách, cùm thơ, giam chữ, sống lại, sống mãi trong ký ức
muôn đời của dân tộc:
Trăng lên chém đầu ngọn gió
Cành si bưng chậu máu chát chao (...)
Chợt mê thét giữa sân
Nét Mác chữ thiên toạc lưng trâu mộng
Máu đổ
Mây đùn
Gió lộng
Sớm mai đi
Xé trang Luận Ngữ
lau gươm
lên đường (..).
hỏi tội nghịch thần
mắt Chúa đảo thiên
Kéo áo che ngai
Né mũi kiếm vô hình xốc tới
Phanh hầm nhét vội một vầng
dương
Cắn nhọn móng tay
Thơ cùm lim khắc máu (...)
Vùng chặt xích bẻ gông
phá cửa
cướp ngựa hình tham tri
phóng lên ải bắc
Nâng lụa ngang mày câm tiếng khóc
Nghiến oán thù tím ngắt nắng Phong Châu
Đó là Hoàng Cầm.
Hoàng Cầm viết lịch sử thời đại ông, thời chúng ta, thời thơ bị
treo cổ.
[1] Hoàng Cầm văn xuôi, nxb Văn Học 1999, trang 129.
[2] Vũ Hoàng Chương, Nhớ Đinh Hùng,
Loạn trung bút, Khai Trí 1970, trang 182.
[3] Năm 1959 in lại đổi tên
thành Từ ấy.
[4] Đặng Thai Mai, Mấy ý nghĩ, viết
ngày 10/4/1959, in trong tập Từ ấy, thơ Tố Hữu, Văn Học, 1959.
[5] Cái gì thúc đẩy thơ, Hoàng Cầm văn
xuôi, trang 221.
[6] Cả hai là em ruột Hoàng Tích Chu.
[7] Vũ Hoàng Chương, Duyên thơ nợ kịch,
trong tập hồi ký Ta đã làm chi đời ta, Hội Nhà Văn in lại 1993, bị cắt nhiều
chương, đoạn, so với bản 1974, ở Sàigòn.
[8] Cha Lưu Quang Vũ.
[9] Anh Nguyễn Bính.
[10] Lận đận Kiều Loan, Hoàng Cầm văn
xuôi, trang 54.
[11] Nguyễn Tuân có đóng phim này.
[12] Ngày 19/12/1946, toàn quốc
kháng chiến, ban kịch Đông Phương rời Hà Nội.
[13] Tức Đinh Hùng.
[14] Thuộc Thái Bình.
[15] Chắc là Kiều Loan, con Hoàng Cầm và
Tuyết Khanh, lúc đó chưa đầy tuổi.
[16] Vũ Hoàng Chương, Duyên thơ nợ kịch,
bản in năm 1974 ở Sàigòn.
[17] Vũ Hoàng Chương, bđd.
[18] Xuất bản tại Sài Gòn, 1961.
[19] Hoàng Cầm, Nguyễn Đình Thi
trong tôi- Nguyễn Đình Thi ngoài tôi, Talawas.
[20] Đây là lần II, do Trường Chinh
tổ chức ở Việt Bắc mà sau đó Nguyễn Hữu Đang bỏ về Thanh Hoá.
[21] Hoàng Cầm, bđd.
[22] Đêm liên hoan, thơ Hoàng Cầm.
[23] Đường ta ta cứ đi, Hoàng Cầm văn
xuôi, trang 151-161.
[24] Tiếng Pháp đặt thay Việt ngữ: tên gọi
là đập Thác Huống (Chú thích Hoàng Cầm).
[25] Đường ta ta cứ đi, Hoàng Cầm văn
xuôi, trang 151-161.
Trong năm 1947, Phạm
Duy đã sáng tác hơn 20 ca khúc: Nhạc Tuổi Xanh (Phú Thọ), Về đồng
hoang (Phú Thọ), Đường về quê (Bắc giang) Thanh niên ca,
Thanh niên quyết chiến (Yên bái), Khởi hành (Tuyên Quang), Thiếu
sinh quân, Dân quân du kích, Ngọn trào quay súng (Bắc Giang), Việt Bắc,
Đường Lạng Sơn (Lạng Sơn), Nhớ người thương binh (Vĩnh
Yên), Dặn dò(Bắc Giang), Ru con (Thái Nguyên), Mùa đông chiến
sĩ (Thái Nguyên), Nhớ người ra đi (Thái Nguyên), Bên ni bên
tê(Tuyên Quang), Tiếng hát trên sông Lô (Tuyên Quang), Nương chiều (Lạng
Sơn), Bên cầu biên giới (Lào Kai). Sau khi chia tay Hoàng Cầm, xuống
Bình Trị Thiên, Phạm Duy sáng tác ba tác phẩm hay nhất thời kháng chiến của
ông: Quê nghèo(Quảng Bình 1948), Bà mẹ Gio Linh (Gio Linh,
1948), Về miền trung (Đại Lược, 1948).
[26] Phạm Duy sinh ngày 5/10/1921- Hoàng
Cầm 22/2/1922.
[27] Phạm Duy, Hồi ký Thời Cách mạng
Kháng chiến, trang 126-128, Phạm Duy Cường, California, 1989.
[28] Hoàng Cầm sáng tác tháng 10/1947.
[29] Hoàng Cầm sáng tác tháng 4/1948.
[30] Phạm Duy, Hồi ký Cách Mạng
kháng chiến, trang131-137-148.
[31] Hoàng Cầm trả lời phỏng vấn RFI.
[32] Hồ Dzếnh, Quyển truyện không
tên, Thanh Văn, California, 1993, trang 42.
[33] Hồ Dzếnh, sđd, trang 47.
[34] A.N, Những cuộc họp Văn hoá,
văn nghệ ở Việt Bắc, đầu tháng Tám, Văn Nghệ số 25, tháng 8/1950 (in lại
trong Sưu tập Văn Nghệ 1948-1954, Hữu Nhuận, Tập 3, Hội Nhà Văn, trang
603). Về ngày tháng họp hội nghị này, có chỗ ghi tháng 3 (trang 637, 655), có
chỗ ghi tháng 5 (trang 619). Chắc đánh máy sai.
[35] Sưu tập Văn Nghệ 1948-1954 của
Hữu Nhuận, tập III, trang 621.
[36] Chắc là 22/8, ghi nhầm thành 22/3.
[37] Sđd, trang 654.
[38] tức Hoàng Cầm
[39] Anh ruột Vũ Tú Nam.
[40] Vũ Cao, Ý thức phá hoại và tư
tưởng đồi trụy của Hoàng Cầm, VNQĐ, số 4, tháng 4/1948.
[41] Hận Nam Quan.
[42] Tô Hoài, Cát bụi chân ai, trang
133.
[43] Cả hai bài đều được trích đăng trong
cuốn Bọn Nhân Văn Giai Phẩm Trước Toà Án Dư Luận.
[44] Tức Quê nghèo.
[45] Phạm Duy, Hồi ký Cách Mạng
Kháng Chiến, chương 32, trang 275-295. Dinh tê là vào thành.
[46] Theo băng Hoàng Cầm nói chuyện với bạn
bè.
[47] Trương Chi, Văn số 24 ra
ngày 18/10/57, Hoàng Văn Chí in lại trên Trăm hoa đua nở trên đất Bắc.
[48] Kiều Loan.
[49] Nguyên chủ nxb Minh Đức, bị tù 10
năm vì vụ NVGP, chú thích BTPhương.
[50] Bùi Thanh Phương, Vết thương
tình đời, tài liệu Internet.
[51] Hoàng Cầm trả lời RFI.
[52] Sau tập hợp thành tập Tỉnh Mẹ.
[53] Kiều Loan con gái Hoàng Cầm ở California, Mỹ.
[54] Tức là ngày 17/2/1983.
[55] Tóm tắt theo băng ghi âm Hoàng
Cầm nói chuyện với bạn bè.
[56] Sau buổi trình diễn, ông Đức đưa cho
Hoàng Cầm 5 đồng thù lao.
[57] Lê Duẩn (1907-1986) mất 10/7/1986.
Trường Chinh (1907-1988) lên thay ngày 14/7/1986. Tháng 12/1986, Đại Hội VI,
Trường Chinh từ chức, Nguyễn Văn Linh (1915-1998) được bầu làm tổng bí thư. Trường
Chinh mất ngày 30/9/1988.
[60] Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ và con bị chết trong một tai nạn
xe hơi, điều kiện bí ẩn, ngày 29/8/1988.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét