Thứ Bảy, 4 tháng 1, 2014

ĐẠI ĐỘI 3 MIKE FORCE

8/11/1966 – 12/11/1966
Clyde J. Sincere Jr., Commander, II Corps MF October ’66 – May ‘67

        Bối cảnh: trong thời gian tháng Mười Một năm 1966, lực lượng Xung Kích Mike Force trên quân đoàn II gồm có ba toán A LLĐB/HK, A-217, A-218, và A-219. Sau đó, thêm một toán A LLĐB được bổ xung để thành lập bộ chỉ huy B LLĐB, B-20. Lực lượng xung kích Mike Force co trên 1000 quân DSCĐ, đa số thuộc sắc dân Jarai và Rhade, một số ít thuộc các bộ lạc người Koho, Sedang, và các bộ lạc người Thượng khác trên vùng cao nguyên. Đạo quân DSCĐ này được sự chỉ huy của quân nhân Mũ Xanh, LLĐB/HK trong các toán A. Trong thời gian tôi phục vụ, không có quân nhân LLĐB/VN được chỉ định vào chức vụ chỉ huy.
        Tài liệu này ghi lại các hoạt động của đại đội 3 xung kích Mike Force, Mike Force quân đoàn II, trong chuyến hành quân phối hợp với các đơn vị Bộ Binh thuộc sư đoàn 4 BB/HK trong thời gian từ ngày 8 đến ngày 12 tháng Mười Một năm 1966 trong khu vực gần biên giới Việt-Miên và nơi phiá bắc thung lũng Plei Trap.
        Vào khoảng ngày 6 tháng Mười Một năm 1966, tôi được lệnh trình diện trung tá Eleazer “Lee” Parmly IV, chỉ huy trưởng, bộ chỉ huy B, liên đoàn 5 LLĐB/HK trên Pleiku. Lúc trình diện, trung tá Parmly chỉ thị cho tôi, chuẩn bị một đại đội xung kích Mike Force để tham dự hành quân phối hợp với hai đại đội Dân Sự Chiến Đấu, lấy từ trại LLĐB Dức Cơ, và Plei Djereng. Lực lượng DSCĐ hoạt động độc lập trong khu vực trách nhiệm của họ, thăm dò mục tiêu, tìm địch quân cho các cuộc hành quân “Lùng và Diệt” do sư đoàn 4 Bộ Binh Hoa Kỳ tổ chức trong khu vực phiá bắc trại LLĐB Plei Djereng, phiá nam sông Sa Thay, lên đến khu vực tam biên.
        Tôi chọn đại đội 3 xung kích Mike Force dưới quyền chỉ huy của trung úy Robert C. Jacobelly, đại diện lực lượng xung kích Mike Force trên quân đoàn II tham dự cuộc hành quân. Đại đội 1 Mike Force dưới quyền chỉ huy của trung úy Larry Dring, vừa lên thay trung úy Neal Y. Pickett, thuyên chuyển qua đơn vị LLĐB khác. Đại đội 1 sẽ làm trừ bị, ứng chiến nhận lệnh trực tiếp từ trung tá Parmly, chỉ huy trưởng B-20 LLĐB, hoặc đại tá Francis Kelly, chỉ huy trưởng liên đoàn 5 LLĐB/HK.
        Ngoài ra còn đại đội 2 xung kích Mike Force dưới quyền trung úy Gilbert Jenkins, sẽ trở về hậu cứ ngày 9 tháng Mười Một, sau chuyến hành quân Blackjack 21 (Lực Lượng Du Kích Lưu Động 777) trong thời gian từ ngày 9 tháng Mười đến 9 tháng Mười Một năm 1966. Một sự trùng hợp, khu vực hành quân của Blackjack 21 cũng là khu vực hành quân được trao phó cho đại đội 3 xung kích Mike Force trong ngày 8 tháng Mười Một.
        Trong hành quân Blackjack 21, đại đội 2 xung kích Mike Force đặt dưới quyền chỉ huy của đại úy James Fenlon, do chính đại tá Kelly chọn lựa mặc dầu tôi phản đối. Đại đội 4 xung kích Mike Force dưới quyền chỉ huy của trung úy Andrew Irzyk, vẫn còn trong thời gian tuyển mộ, tổ chức, huấn luyện, chưa sẵn sàng tham dự hành quân.
        Sáng ngày 8 tháng Mười Một năm 1966, đại đội 3 xung kích Mike Force gồm có trung đội trinh sát, bốn trung đội kinh binh được trực thăng vận từ căn cứ ở Pleiku đến bãi đáp Lane gần biên giới Miên, đã được một đại đội thuộc sư đoàn 4 Bộ Binh Hoa Kỳ an ninh. Đại đội 3 Mike Force dưới quyền chỉ huy của trung úy Jacobelly, còn có thêm trung sĩ nhất Frank Huff, Robert Ramsey và trung sĩ Danny Panfil.
        Đại đội xung kích Mike Force được lệnh lục soát khu vực hướng bắc, cách biệt với hai đại đội Dân Sự Chiến Đấu (Plei Djereng và Đức Cơ). Trong lúc thuyết trình kế hoạch hành quân cho vị chỉ huy trưởng, trung tá Parmly cố vấn, nên cho thêm mấy quân nhân Mũ Xanh tham dự cuộc hành quân. Tôi quyết định đi theo đại đội 3 Mike Force cùng với thượng sĩ Frank Quinn.         Các trực thăng UH1-D để đưa đại độỉ 3 Mike Force vào vùng hành quân không đủ nên phải bay nhiều chuyến, kết qủa trễ ba tiếng đồng hồ như dự trù.
        Sau đó đại đội Mike Force di chuyển lên hướng đông bắc. Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, toán quân tiền phương, đụng nhằm một đơn vị phòng không của địch đang lập vị trí đặt súng. Trông thấy lính Mike Force, địch quân phát hoảng bỏ súng chạy, có lẽ chúng nghĩ rằng trực thăng sư đoàn 4 Bộ Binh Hoa Kỳ đang chở quân, đồ tiếp liệu đến vùng hành quân, không ngờ quân LLĐB. Nghe tiếng súng nổ, sĩ quan chỉ huy đại đội 3 Mike Force, “Jake” Jacobelly cùng với tôi chạy lên, và Jake bị một vết thương nhẹ nơi cánh tay, đó cũng là tổn thất duy nhất của đại đội Mike Force. Một điều đáng chú ý là Danny Panfil bắn chết một người lính Bắc Việt rất to con, rất có thể là cố vấn Trung Cộng. Đại đội Mike Force tịch thâu hai khẩu đại liên phòng không 12.7 ly cùng với 35 ba lô (cả một trung đội phòng không).
        Jake xin trực thăng chở ba lô tịch thâu được về bộ tư lệnh sư đoàn 4 BB, để phòng 2 sư đoàn điều tra thêm tin tức về địch quân. Hai khẩu đại liên phòng không 12.7 ly, Jake muốn giữ lại vì đó là chiến công của đơn vị và sẽ được thưởng. Tuy nhiên đại đội Mike Force vẫn phải tiếp tục di chuyển, lục soát, đem theo hai khẩu súng tịch thu của địch cùng với những thùng đạn là một gánh nặng cho binh sĩ, nên cuối cùng phải xin trực thăng đến đem đi.
        Lần này trực thăng Jake báo cáo về bộ chỉ huy B-20 LLĐB, xin một trực thăng đến một khoảng trống trên đường tiến quân của đại đội Mike Force chở hai khẩu súng phòng không cùng đạn dược về Pleiku. Tiếp tục tiến quân, lục soát, đại đội 3 Mike Force tìm thấy một căn cứ đóng quân bỏ trống cấp trung đoàn của quân đội Bắc Việt, với những dẫy nhà làm bằng tre, dưới những tàn cây rậm rạp, che kín mặt đất. Căn cứ đóng quân của địch có nhà ăn, nhà ngủ, khu huấn luyện. Jake ra lệnh phá hủy căn cứ của địch, trước khi rời khu vực, vào sáng ngày hôm sau. (đại đội 3 xung kích Mike Force tặng đại tá Frances Kelly một khẩu 12.7 ly, được trưng bầy trong bộ chỉ huy liên đoàn 5 LLĐB/HK ở Nha Trang. Vị chỉ huy trưởng cuối cùng là đại tá Mike Healy, đem khẩu súng về Hoa Kỳ. Hiện tại khẩu đại liên phòng không 12.7 ly của quân đội Bắc Việt do đại đội 3 xung kích Mike Force tịch thâu ngày 8 tháng Mười Một năm 1966 được trưng bầy bên ngoài viện bảo tàng Chiến Tranh Đặc Biệt John F. Kennedy, vị tổng thống Hoa Kỳ xây dựng đạo quân Mũ xanh LLĐB Hoa Kỳ).
        Sáng sớm ngày 9 tháng Mười Một, đơn vị Mike Force tiếp tục tiến quân theo lộ trình bắc, tây bắc dọc theo con đường vừa mới khám phá, đủ rộng để xe vận tải Molotova di chuyển. Tôi đi theo trung đội có nhiệm vụ “khuân vác” hai khẩu đại liên phòng không 12.7 ly đến bãi đáp trực thăng để đem về Pleiku.
        Mọi chuyện diễn ra êm xuôi, sau đó tôi đi theo đại đội 3 Mike Force. Jake xử dụng toán trinh sát đi đầu trục tiến quân. Khu vực đoàn quân đang di chuyển, có vẻ trống trải vì con đường di chuyển của địch, nhưng đến buổi trưa, đoàn quân vào trong một khu rừng với cành lá rậm rạp, âm u. Jake không rõ vị trí chính xác của đơn vị, nên cùng với Frank Huff, và Bob Ramsey dắt theo một trung đội hộ tống đi tìm một khoảng đất trống để xác định điểm đứng.
        Họ lên một sườn núi nằm hai bên con đường mòn. Trong khi Jake đang xử dụng bản đồ, điạ bàn để xác định điểm đứng, một binh sĩ báo động, có và tên địch đang di chuyển trên một con đường mòn nhỏ hướng tây bắc, về hướng trung đội Mike Force. Cả trung đội Mike Force báo động, nằm im chờ đợi. Khi mấy tên địch đến một thân cây đổ, nằm vắt ngang một giòng suối, trung đội Mike Force nổ súng, mấy tên lính Bắc Việt chưa kịp bắn trả lại một viên.
        Jake cùng với DSCĐ ra lục soát, họ tìm thấy dấu vết có người chạy thoát. Toán quân trải rộng ra tìm thấy người lính Bắc Việt nằm chết trong rừng cách chỗ bị “phục kích” khoảng 50 thước. Trung đội Mike Force thâu nhặt chiến lợi phẩm rồi quay trở về đại đội. Trong khoảng thời gian đó, nhiều tổ báo động cho biết những toán quân nhỏ của địch xuất hiện tại nhiều nơi. Jake ra lệnh cho đại đội dừng quân lập tuyến phòng thủ đêm. (Sau này tài liệu tịch thu được trong trận đánh giữa tiểu đoàn 1/12, sư đoàn 4 BB Hoa Kỳ cho biết, trung đoàn 88 Bắc Việt được lệnh tránh đụng độ với các đơn vị DSCĐ người Thượng. Họ đợi lính bộ binh Hoa Kỳ vào trận điạ mới tấn công. Và kết quả đêm ngày 10 tháng Mười Một, trung đoàn 88 Bắc Việt tấn công tiểu đoàn 1/12 dưới quyền trung tá J. “Dick” Lay. Tài liệu cũng cho biết cấp chỉ huy trung đoàn 88 xử dụng hơn một tiểu đoàn tấn công các đại đội DSCĐ do LLĐB/HK chỉ huy ngày 11/11/1966).
        Sáng sớm ngày 10, đại đội 3 xung kích Mike Force tiếp tục tiến quân về hướng tây, biên giới Việt-Miên. Khoảng hai tiếng đồng hồ sau, toán quân đi đầu báo động, nghe tiếng người nói phiá trước, và cả đại đội tản ra hai bên, phục kích. Sáu người lính Bắc Việt đầu hàng, rồi bỏ chạy, bị bắn chết tại chỗ ba tên, một bị thương nhưng chạy thoát, hai bị bắt sống.
        Sau đó, đại đội Mike Force di chuyển đến một khu vực trên bản đồ có tên là “Pali Wali Dry Lake Bed”, biên giới giữa hai quốc gia Việt, Miên. Đó là một hồ cạn nước, và Jake quyết định cho đại đội lập tuyến phòng thủ đêm bên bờ phiá đông. Một trung đội được lệnh lên nằm tiền đồn cách tuyến phòng thủ đại đội 200 thước. Tôi xin trực thăng về Pleiku và đem theo hai tù binh bắt được lúc ban chiều.
        Trong khi đại đội Mike Force lập tuyến phòng thủ đêm bên bờ hướng tây của hồ cạn, Bob Ramsey, Frank Huff cùng với trung đội trinh sát đi thám sát phiá bên kia hồ, trên phần đất Miên. Họ khám phá ra nhiều con đường mòn, được xử dụng rất thường xuyên. Trong lúc thám sát khu vực, họ có linh cảm những toán trinh sát của địch cũng đang theo dõi các hoạt động của đại đội Mike Force.
        Lúc trở về, Bob báo cáo những điều này lên cho Jake, và anh ta ra lệnh cho cả đại đội sẵn sàng ứng chiến. Trung úy chỉ huy đại đội Mike Force cũng tin rằng địch quân đang chuẩn bị... chuyện gì đó. Để tránh bị theo dõi và để cho địch bối rối, Jake đợi cho đến lúc gần tối mới xắp xếp vị trí đóng quân đêm. Đồng thời ra lệnh cho Bob và Frank đem một trung đội qua bên kia bờ hồ cạn, góc tây bắc nơi giao điểm của nhiều con đường mòn, làm tiền đồn.
        Ra đến vị trí nằm tiền đồn, Bob mới nhận thấy có nhiều con đường rộng lớn chứ không phải đường mòn. Anh ta ra lệnh cho binh sĩ Thượng đặt mìn Claymore, căn dặn phải làm gì khi bị tấn công, đường rút lui về đại đội. Bên này Jake chuẩn bị yếu tố tác xạ cho pháo binh 175 ly yểm trợ nhưng được cho biết, vị trí đóng quân của đại đội Mike Force đã ra ngoài tầm bắn đại bác 175 ly.
        Khoảng sáu giờ sáng hôm sau, trung đội tiền đồn báo động. Bob ra chỗ người lính Thương canh gác, trông thấy rõ ràng, đoàn quân Bắc Việt đang di chuyển đến vị trí đóng quân của trung đội tiền đồn. Binh sĩ người Thượng khai hỏa quá sớm làm lính Bắc Việt nổi điên. Toán lính tiền phương Bắc Việt khựng lại rồi biến mất. Frank Huff lập tức báo cáo cho Jake và xin pháo binh yểm trợ, nhưng được trả lời không có vì đơn vị đã ra khỏi tầm bắn đại bác 175 ly.
        Chỉ vài phút sau, quân đội Bắc Việt bắt đầu tấn công trung đội tiền đồn. Bob báo cáo lên cho Jake và được lệnh rút lui trở lại bên này bờ hồ cạn cùng với đại đội. Bob bắn một viên đạn mầu (flare, hỏa pháo) lên ra lệnh cho trung đội băng qua hồ cạn trở về phiá bên kia. Trong lúc rút lui, một binh sĩ bị trúng đạn nơi chân, nhưng vẫn qua được.
        Lúc đó súng đạn nổ vang khu rừng. Địch quân tấn công vào tuyến phòng thủ của đại đội Mike Force, và phi cơ quan sát FAC cùng với khu trục cơ A1 đang bao vùng. Loại phi cơ cánh quạt từ thời đệ nhị thế chiến yểm trợ “cận phòng” rất hiệu qủa, vì tốc độ bay chậm và thời gian “bao vùng” lâu hơn. Quân Bắc Việt đã mở ba đợt tấn công vào tuyến phòng thủ đại đội Mike Force nhưng bị đẩy lui. Quân bạn đã có tổn thất, thương vong. Chiếc FAC yêu cầu ném khói mầu đánh dấu bạn và địch để điều động thêm mấy phi tuần phản lực lên yểm trợ.
        Jake cùng với một binh sĩ Thượng bò lên tuyến đầu để ném qủa lựu đạn khói. Anh ta trông thấy đông đảo lính Bắc Việt, và khi vừa tung qủa lựu đạn khói ra, súng của địch lại nổ liên hồi, một viên trúng Jake, bị thương nặng nhưng vẫn còn tỉnh táo. Jake được Bob gọi thêm Danny Pamfil lên tiếp tay, lôi Jake vào bên trong phòng tuyến. Danny băng bó cho Jake rồi cuốn poncho để giữ ấm thân thể trong khi chờ trực thăng đến di tản. Trong khi đó Frank Huff thay Jake liên lạc với FAC để điều chỉnh trận oanh kích.
        Cùng lúc đó, một trực thăng chở Clyde cùng với đồ tiếp tế vào cho đại đội Mike Force. Chiếc trực thăng trúng nhiều đạn súng trường, Clyde vội vàng nhẩy ra khỏi chiếc trực thăng khi còn cách mặt đất khoảng 12 bộ, nhặt khẩu M-16 lên rồi chạy biến vào trong rừng. Bob nhớ lại lời Danny nói với anh ta “Cục cứt! anh ta (Clyde) chạy lạc hướng!”.
        Danny và Frank Quinn được chọn để đi tìm Clyde. Chỉ một lúc sau họ đem về được Clyde và Clyde tạm thời lên nắm quyền chỉ huy đại đội Mike Force. Đồng thời quân đội Bắc Việt cũng rút lui.
        Theo lời Clyde kể lại, sáng sớm ngày 11, một người vào trong phòng của anh cho biết, Jake cùng với đại đội 3 Mike Force bị một đơn vị cấp lớn chính quy Bắc Việt tấn công. Clyde chạy vào bộ chỉ huy B LLĐB, yêu cầu cho một trực thăng đưa anh ta vào trận điạ. Thật may, lúc đó có thiếu tá Al Cartwright, một phi công thâm niên trong phi đoàn trực thăng 281, biệt phái cho liên đoàn 5 LLĐB/HK và B-20 LLĐB đang có mặt và ông ta sẵn sàng chở Clyde cùng với đạn dược đem tiếp tế cho đại đội 3 Mike Force.
        Trong lúc đang bận rộn chất những thùng đạn lên trực thăng, trung úy Paul Hess, phụ tá trưởng ban 4 (tiếp liệu) cũng muốn đi theo. Tôi đồng ý và anh ta lên ngồi cạnh trung sĩ Hank Leonard, xạ thủ đại liên M-60 cửa bên phải. Tôi nói sơ qua hướng bay cho thiếu tá Cartwright biết, hồ cạn mà trực thăng xuống đón tôi chiều qua.
        Khi đến gần mục tiêu, Cartwright liên lạc với đại đội Mike Force và nhận được dấu hiệu khói vàng. Tuy nhiên lúc đó, đại đội Mike Force đã bị địch tấn công từ sáng phải lui về phiá sau, nên chiếc trực thăng đã bay quá đà. Chiếc trực thăng trúng nhiều đạn đại liên phòng không, cả hai Hess và Leonard đều chết ngay tức khắc. Viên phi công phụ cũng bị thương, và có lẽ cả người xạ thủ đại liên cửa bên trái cũng vậy. Thiếu tá Cartwright nói với tôi, phải bay lên cao, do đó tôi thủ khẩu M-16 nhẩy ra khỏi chiếc trực thăng...
        Trong khi đó, thiếu tá Cartwright khó khăn lắm mới lái được chiếc trực thăng trúng nhiều đạn bay về Pleiku. Ông ta cũng báo cáo tình hình chiến trường đang xẩy ra dưới đất, giữa đại đội 3 xung kích Mike Force và quân đội Bắc Việt.
        Đại úy Clyde Sincere nắm quyền chỉ huy đại đội Mike Force, sau khi duyệt xét lại tình hình, ông ta yêu cầu tiếp tế đạn dược. Đó cũng là một vấn đề, LLĐB/HK xử dụng M-16, binh sĩ Thượng đa số được trang bị Carbine M-1, vài khẩu M-2, hai trung liên BAR, hai đại liên 30 và mấy khẩu phóng lựu M-79. Tôi (đ/úy Clyde) yêu cầu tăng viện và được trả lời, một đại đội bộ binh thuộc sư đoàn 4 sắp vào vùng hành quân.
        Khoảng 2:00 giờ chiều, khu trục A1 Skyraider lên thả bom Napalm xung quanh tuyến phòng thủ đại đội Mike Force để cho địch quân phải tránh ra xa. Khoảng hai tiếng đồng hồ sau, chỉ huy phó B-20 LLĐB ngồi trên trực thăng chở đạn bay vào. Kinh nghiệm chuyến trực thăng trước do thiếu tá Cartwright lái, viên phi công “lạnh cẳng”, đạp những thùng đạn xuống từ trên độ cao 500 bộ, nhưng tất cả đều không bị hư hại (thùng đạn bị vỡ).

        Mấy tiếng đồng hồ sau, quân Mike Force có thể nghe tiếng đoàn trực thăng đưa đại đội bộ binh vào bãi đáp trực thăng ngay trên mặt hồ cạn. Có thêm quân tiếp viện, vấn đề phòng thủ trở nên vững chắc, bảo đảm hơn. Các thương binh đại đội 3 xung kích Mike Force được trực thăng tản thương đến đem đi, trong đó có Jake đã nằm kẹt trong chiến trường gần tám tiếng đồng hồ. Chúng tôi yêu cầu trực thăng di tản những binh sĩ Thượng tử trận, bị thương, nhưng coi bộ mấy ông phi công Lục Quân không thèm để ý đến người Thượng. Họ trả lời để “từ từ”, lo cho người Hoa Kỳ trước, làm tôi nổi nóng, lớn tiếng phản đối. (mấy tay này chưa từng sống, làm việc với người Thượng như LLĐB).
        Cho chắc ăn, để đám phi công khỏi “dọt” luôn, tôi ra lệnh cho Frank Quinn, Frank Huff, và Danny Pamfil lên mỗi người một trực thăng chở thương binh người Thượng về Pleiku. Cả ba LLĐB/HK cũng được lệnh ở lại Pleiku để lo an ủi thương binh, phụ giúp gia đình tử sĩ trong việc chôn cất những quân nhân người Thượng. Bob Ramsey cùng với tôi phối hợp với đại đội B, tiểu đoàn 1/12, sư đoàn 4 Bộ Binh Hoa Kỳ và phần còn lại của đại đội 3 xung kích Mike Force.
        Trung đoàn 88 Bắc Việt đã rút lui khỏi trận điạ. Bộ binh cùng với chúng tôi đi thâu dọn chiến trường. Chúng tôi đào một hố lớn chôn xác 58 binh sĩ Bắc Việt nơi phiá nam hồ cạn. Chúng tôi tịch thâu được nhiều vũ khí đủ loại trong đó có hai khẩu súng ngắn (K-54) do Nga Sô chế tạo. Hai khẩu súng ngắn này lấy được từ hai xác chết có lẽ của viên tiểu đoàn trưởng và sĩ quan hành quân Bắc Việt. Tôi cho Danny Pamfil một khẩu vì anh ta chiến đấu can đảm, còn khẩu kia, tôi cho Jake đang nằm trong bệnh viện. Tôi nghĩ rằng, trong những ngày sắp tới, có thể tịch thâu thêm khẩu súng ngắn (K-54) nữa... nhưng dịp may đó không bao giờ trở lại với tôi.
        Sáng ngày 12 tháng Mười Một, đại đội bộ binh cùng với đại đội Mike Force di chuyển về gần nơi đóng quân tiểu đoàn 1/12. Lúc đó, trung úy Larry Dring cùng với đại đội 1 xung kích Mike Force đã được trực thăng vận đưa vào vùng hành quân. Đại đội này sẽ tăng phái cho Bộ Binh cho đến khi cuộc hành quân kết thúc vào đầu tuần tháng Mười Hai. Đại đội 3 Mike Force sẽ được đưa về Pleiku nghỉ dưỡng quân và bổ xung, chấm dứt nhiệm vụ trong chiến đoàn đặc nhiệm Prong.
 Dallas, TX.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét