![]() |
Enver
Số người tử vong: 1,1-2,5 triệu
Năm cầm quyền: 5 (1913-1.918)
Tội phạm: diệt chủng người Armenia
Chế độ: Quân Sự
Nguyên nhân chết : thiệt mạng trong chiến đấu |
“Kẻ hèn nhát hỏi: ‘Có an toàn không?’ Kẻ cơ hội hỏi: ‘Có khôn khéo không?’ Kẻ rởm đời hỏi: ‘Có được tiếng tăm gì không?’ Nhưng, người có lương tâm hỏi: ‘Có là lẽ phải không?’ Và có khi ta phải chọn một vị trí không an toàn, không khôn khéo, không để được tiếng tăm gì cả, nhưng ta phải chọn nó, vì lương tâm ta bảo ta rằng đó là lẽ phải.”
Thứ Năm, 1 tháng 1, 2026
NHỮNG TÊN ĐỘC TÀI KHÁT MÁU NHẤT THẾ KỶ 20
ĐÂY, CHÂN DUNG NHỮNG TÊN ĐỘC TÀI KHÁT MÁU NHẤT THẾ KỶ 20
NỢ CỨT
Phạm Thế Việt - Ngày đó hợp tác xã ra một chiến dịch thu gom
phân bắc (cứt người), mỗi gia đình một tháng phải đóng đủ mười cân, nếu không
đóng đủ thì bị cắt gạo. Thật là một chiến dịch có một không hai trong xã hội
loài người. Vậy nên, khi chiến dịch ra đời, cái cầu tiêu trở nên vô cùng quan
trọng và cấp thiết.
50 NĂM CUỘC THẢM SÁT MẬU THÂN 1968-2018

Linh Mục Phê Rô Phan Văn Lợi – Đả Đảo Cộng Sản
-Toàn
thể dân Việt đang bước vào thời điểm tưởng niệm 50 năm biến cố Tết Mậu Thân
(1968-2018). Đây là sự kiện thuộc hạng đáng ghi nhớ nhất trong Việt sử vì nhiều
mối liên hệ: ý nghĩa thiêng liêng của ngày Tết dân tộc, cuộc tấn công của Cộng
sản VN bất chấp tuyên bố hưu chiến, sự thất bại thảm hại của cuộc tổng tấn công
về mặt quân sự và chính trị, tội ác đã gây ra cho chính Đồng bào Việt Nam, thái
độ cố chấp của Cộng sản không nhìn nhận sai phạm của họ, dù đã nửa thế kỷ.
HỒI KÝ ĐẾN MÀ KHÔNG ĐẾN CỦA XUÂN VŨ - KỲ 1
(Trích Hồi ký của Phạm Thành Tài)
Hồi còn ở quê nhà, sau tám năm
“cải tạo học tập” về, tôi có mở một phòng mạch chữa bệnh cho bà con để kiếm
sống qua ngày. Chữa bệnh bằng Tây Y kiếm cơm hơi khó vì thuốc hiếm, mắc quá,
bệnh nhân mua không nổi nên tôi chuyển sang chữa bằng Đông Tây Y kết hợp. Nhờ
trời cũng đắp đổi bữa có bữa không. Nhưng tôi quyết không bỏ nghề, không chỉ vì
sợ mất cần câu cơm, mà còn vì tôi không thể bỏ ngang thân chủ mình. Bà con lành
được bệnh tôi cũng có niềm an ủi, hơn nữa cái thế giới quen biết của mình ngày
càng rộng khắp với bao nhiêu tâm sự vui buồn trong thời ly loạn nhân tâm. Trong
số đó có một người con gái tên Thư. Cô gái này hình như là sinh viên cũ của
Sàigòn không được vô Đại Học Nhà Nước, rất thích đọc sách. Lạ một điều là cô ta
chỉ thích loại tiểu thuyết lịch sử. Cô kể cho tôi nghe gần như thuộc lòng nào
là “Tiêu Sơn Tráng Sĩ” của Khái Hưng, nào là “Chiến Tranh và Hoà Bình”, nào là
“Ana Karenina” của Tolstoi. Cuốn này cô kể thật hấp dẫn, đây là cuốn có tình
tiết rất tinh tế, rất khó kể sao cho hấp dẫn, thế mà tôi nghe phải mê luôn các
nhân vật trong ấy. Có một lần nghe cô kể, không hiểu sao tôi buột miệng hỏi:
HỒI KÝ ĐẾN MÀ KHÔNG ĐẾN CỦA XUÂN VŨ - KỲ 2
Chiều hôm đó, chúng tôi đến với
tư cách đại biểu chính thức của tổ văn là tổ đứng ra tổ chức buổi tiễn đưa này.
Theo qui định của anh Hai Lý thì mỗi đại biểu đều mang khẩu phần thường lệ của
mình đến bữa tiệc. Giữa nền đất trơ khấc là hai cái nồi, nồi cháo loãng như
Biển Hồ, trên mặt lềnh bềnh mấy vệt mỡ vàng nhạt lấp lánh mặt trời chiều không
có tí hành nào bập bềnh biểu hiện tư tưởng bấp bênh của cán bộ trong lúc này.
HỒI KÝ ĐẾN MÀ KHÔNG ĐẾN CỦA XUÂN VŨ - KỲ CUỐI
Hết vượt núi, ở rừng bây giờ
tới lội sình. Toàn những cực đoan của sự đi đứng. Leo núi thì có đoạn đường hai
ngày không có nước, ở rừng thì không thấy ánh nắng mặt trời, da bủn xì như da
người chết còn lội sình thì ngâm nước suối suốt ngày đêm, thân mình như con mắm
sống. Đường đi thật là dài và vô cùng ngao ngán với sức khỏe xuống dần từng
ngày.
Những người đã đi đồng bằng như
Mỹ Tho, Long An, Bến Tre, Rạch Giá, Cà Mau vẽ lại cho tôi con đường đó bằng mồm
một cách chi tiết. Nghe xong, muốn nghĩ chơi luôn, nằm tại R tiếp tục lãnh
thưởng của muỗi đòn xóc. Nhưng… sứ mệnh thiêng liêng của tôi là về tận Bến Tre
viết cho được quyển tiểu thuyết về Đồng Khởi kia mà ! Đâu có “sọc dưa” nửa
chừng như vậy được ! Hơn nữa, tôi còn có một thúc giục khác có lẽ còn to hơn.
Đó là trở lại quê nhà thăm lại ông bà cha mẹ và hàng xóm mà khi ra đi từ 45 tôi
mới mười lăm tuổi bây giờ đã ba mươi ba.
CUỘC TẤN CÔNG MẬU THÂN 1968 TRONG HOÀN CẢNH CHÍNH TRỊ LịCH SỬ THẾ GIỚI

Chu Chi Nam và Vũ Văn Lâm – Đả Đảo Cộng Sản - Sau 50 năm tết Mậu
Thân, một cái Tết ghi rõ tội ác của cộng sản vô thần Việt Nam, đánh dấu một vết
nhơ trong lịch sử Việt với cả chục ngàn người chết, bắt đầu đúng vào đêm Giao
Thừa, thời điểm linh thiêng mà mọi người dân Việt tưởng niệm công ơn các anh
hùng, liệt sĩ, ơn đức sinh thành dưỡng dục của ông bà, cha mẹ, thì cộng sản xé
bỏ hiệp định đình chiến vào 3 ngày Tết, khai hỏa và tạo ra những cuộc thảm sát
khắp miền nam Việt Nam. Cao điểm là cuộc thảm sát dã man tại Huế.
Thứ Tư, 31 tháng 12, 2025
HỒI KÝ XƯƠNG TRẮNG TRƯỜNG SƠN CỦA XUÂN VŨ - KỲ 1
LỜI GIỚI THIỆU CỦA NHÀ XUẤT BẢN
Đã ngót hai mươi năm qua kể từ
quyển hồi ký Đường Đi Không
Đến ra mắt độc giả ở Sài
gòn. Lớp thanh niên đọc quyển sách ấy nay tóc đã hoa râm, còn lứa tuổi trung
niên thì nay đã ra lão. Thời gian đi nhanh, nhưng con đường mà tác giả đã trải
qua mãi mãi còn đậm nét trên những trang sách và trong lòng người
Nếu chúng tôi nhớ khônglầm thì
quyển hồi ký Đường Đi Không Đến ra mắt độc giả trước tiên năm 1969 trên nhật
báo Tiền Tuyến do nhà văn Phan Lạc Phúc làm Chủ Nhiệm và nhà báo Huy Vân làm
Chủ bút. Nhà văn Phan Lạc Phúc bi bắt đi cải tạo, đến nay vẫn còn trong tù. Còn
nhà báo Huy Vân thì đã hy sinh cũng trong trại cải tạo của bạo quyền.
HỒI KÝ CHIỀU CHIỀU CỦA TÔ HOÀI - KỲ 1
Nghé ơ nghé
Nghé bông hay là nghé hoa
Như cà mới nở
Mẹ cõng xuống sông
Xem rồng lấy nước
Mẹ gọi tiếng trước
Cất cổ lên trông
Mẹ gọi tiếng sau
Cất lồng lên chạy
Lồng ba lồng bảy
HỒI KÝ XƯƠNG TRẮNG TRƯỜNG-SƠN CỦA XUÂN VŨ - KỲ 2
Trưa rừng sau cơn mưa, lá cây
chuyền động trong sự lặng lẽ âm thầm, những búp non nảy thêm ra. Nhựa cây chảy
rạt rào trong thân cây.
Tôi cứ quên đi những luồng thán
khí do cây thở ra và làm hại đến sức khỏe con người mà tôi cứ tưởng đây là cảnh
rừng thơ mộng với các áng hương thơm lâng lâng sực nức lòng người.
HỒI KÝ CHIỀU CHIỀU CỦA TÔ HOÀI - KỲ 2
![]() |
Chương V
Chợ lèo tèo ngay giữa phố, gió lùa đùng đùng. Bánh ngô, bánh đúc
bị táp cát, ăn nhai cả sạn, thì vẫn ăn thế. Một chốc chợ tan, các cọc lêu được
nhổ lên, đàn vịt lại uà vào rúc cái bãi trống. Chỉ còn lại một hiệu ảnh người
xúm đông xúm đỏ xem bác phó nháy lúi húi tô màu. Khách chụp ảnh thích ngồi ghế,
môi má tô màu đỏ, áo hồng sau lưng có phông chậu hoa và hồ Hoàn Kiếm.
Trong kháng chiến, bộ đội tỉnh đã tấn công san bằng bốt Diêm Điền, không biết bốt
ở chỗ nào. Chắc hỏi thì cái Hến, thằng Toàn cũng chẳng biết. Tây về đóng lại,
xây đồn sang Quang Lang. Một lần xuống khu Ba công tác hậu địch đồng bằng sông
Hồng, Hoàng Trung Thông- tổ trưởng Thông của chúng tôi đã đi với đoàn cán bộ
vào tận Quang Lang này. Thông kể: Quang Lang có tề hai mang, ngày ở hầm, tối
lên gặp và họp với cán bộ cơ sở, ngay cạnh đồn. Trông ra biển, ngọn hải đăng
Hòn Dáu và đèn điện bên Đồ Sơn nhấp nháy. Hoàng Trung Thông đã bí mật ở Quang
Lang cả tháng. Khi trờ ra, đóng vai người thuyền buôn các nơi về chợ Diêm.
HỒI KÝ XƯƠNG TRẮNG TRƯỜNG-SƠN CỦA XUÂN VŨ - KỲ 3
Sáng hôm sau, mở mắt ra tôi
bàng hoàng, tâm tư quay cuồng hồi lâu tôi mới lấy lại sự bình thường.
Một cái tin không vui đến ngay
với chúng tôi trong buổi sáng đó. Kẹt đường ! Kẹt đường nghĩa là cuộc hành
trình không tiếp tục được nữa. Đó là một đại họa.
Hôm qua khi tới đây thì tôi
tưởng chỉ leo heo có mấy đứa sứt tay gãy gọng của chúng tôi chẳng ngờ sáng nay
tôi thấy dầy đặc trong rừng nhung nhúc những người là người.
Có lẽ những chuyến trước tới
đây rồi cũng nằm ỳ tại đây chớ không đi vô được nữa cho nên người mới đông đúc
đến thế.
Tấn lân la đến chỗ chúng tôi
chơi. Tôi bèn hỏi chuyện kẹt đường thử xem ra sao. Bởi vì chúng tôi đã từng bị
kẹt nhiều lần rồi, kẹt vì mưa suối to, vì biệt kích. Không rõ lần này kẹt vì lý
do gì.
HỒI KÝ CHIỀU CHIỀU CỦA TÔ HOÀI - KỲ 3
![]() |
1 2 3 4 5 6 7 8
Chương IX
Tôi gặp Trần Đức Thảo ngoài cổng bệnh viện Hữu Nghị. Cả
thành phố đã thuộc cái ông đi chiếc xe đạp con vịt trẻ con sơn xanh, không
phanh, ngồi phải doạng chân cho đầu gối khỏi đụng lên ghi đông, đấy là nhà triết
học Trần Đức Thảo. Ông dịch sách lý luận kinh điển cho nhà xuất bản Sự Thật để
lấy lương ăn. Người biết đôi chút thì thắc mắc: không biết ông có được dạy, ông
có được phong giáo sư không. Tôi thì biết bây giờ ông dông dài lam làm chơi
chơi thế thôi. Tôi cũng chẳng biết ông có Nhân Văn Giai Phẩm gì không và tại
sao ông lại càng ngày càng bị quên lãng dưới đáy.
HỒI KÝ XƯƠNG TRẮNG TRƯỜNG-SƠN CỦA XUÂN VŨ - KỲ 4
Tôi và Năm Cà Dom đi đốn nứa
cất hẳn một cái nhà bếp con con để trời mưa khỏi ướt củi. Nóc nhà lợp cả bằng
những thanh nứa bổ làm đôi, cứ úp vào nhau, cái sấp cái ngửa như lợp ngói ống.
Một hôm Năm Cà Dom mày sáng
kiến làm cơm mẽ. Tôi nói: thế thì hay quá. Mỗi bữa ăn mình nhín lại vài muỗng.
Làm được một ga-men cơm mẽ thì mình sẽ tìm lá nấu chua. Như vậy sẽ có món ăn lạ
miệng, ăn ngon hơn.
HỒI KÝ CHIỀU CHIỀU CỦA TÔ HOÀI - KỲ 4
![]() |
Chương XII
Bộ máy tổ chức ta dựng
lên thì khoa học, trong ý nghĩ và trên giấy, nhiều cấp và cán bộ lại thu thập
tài liệu và dư luận bằng nghe ngóng. Chu Văn, trưởng ty văn hoá tỉnh Nam Định
được dự kiến đề cử tỉnh uỷ khoá mới. Đấy lên tin đồn anh ấy là Nhân Văn, thế là
bị nhấc ra. Chu Văn viết thư kể nỗi oan và đề nghị can thiệp- tôi đã được phân
công xuống gặp bí thư tỉnh, nhưng rồi cũng không lại được lời đồn. Can thiệp
với dư luận “có tin bảo, có người nói” thì như đánh nhau với bóng tối, cứ phòng
sẵn cho chắc đã. Và cái việc Chu Văn bị dính đến những lôi thôi mập mờ này, đã
làm cho Chu Văn hóa ra cứng rắn khác thường. Những ai đã công tác cùng Nguyễn
Bính ở ty văn hoá Nam Định có thể biết Chu Văn đã quần Nguyễn đến điều thế nào.
Nguyễn Bính về Nam Định rồi quyết định ở hẳn dưới ấy chỉ vì Nguyễn Bính đã sắp
nên vợ nên chồng với cô hàng cà phê thành Nam. Nguyễn Bính đã bỏ không ở nhà
xuất bản Hội Nhà Văn với tôi để xin ra làm báo Trăm Hoa. Khi Trăm Hoa hết tiền
phải đình bản, Nguyễn Bính không còn ở biên chế nào thì Hội Nhà Văn đã giới
thiệu Nguyễn Bính về Nam Định.
HỒI KÝ XƯƠNG TRẮNG TRƯỜNG-SƠN CỦA XUÂN VŨ - KỲ 5
Một hôm tôi và Năm Cà Dom buồn
quá, mới bèn rủ nhau đi vào cái bệnh xá của ông bác sĩ Cường chơi. Thực ra đi
chơi mà vô một cái bệnh xá thì còn lý thú gì, nhưng vô đó có thằng quen là xếp
bệnh xá, may ra nó sẽ giúp đỡ mình chút đỉnh. Ở đây thì chỉ có thế, hễ đi ra là
mong gặp được một sự may mắn gì, nhất là mong gặp được một cái lợi bất ngờ.
Nhưng hôm đó chúng tôi lại gặp
rủi. Không phải gặp rủi nhưng lại gặp một cái biểu trưng của sự rủi ro.
Đang đi, chúng tôi bỗng dừng
lại, vì nghe trên đầu có tiếng gió như có một nhánh cây gãy đang giáng xuống
đầu mình. Cả hai đứa đều nhảy qua một bên để tránh theo bản năng tự vệ chứ
không kịp dòm ngó gì.
“Pạch. ” Một vật đen thui dài
nhằng rơi đánh phịch xuống đất và nằm im. Chúng tôi nhìn. Và Năm Cà Dom kêu
lên:
HỒI KÝ CHIỀU CHIỀU CỦA TÔ HOÀI - KỲ 5
![]() |
Đầu năm ấy, chiến dịch lao động đào sông Tô Lịch. Lao động công ích, mỗi năm một công dân thành phố góp bảy ngày bằng sức hoặc bằng tiền. Đào sông cũng như đắp công viên Thống Nhất, được trừ điểm lao động công ích lại được trả công đào. Không đi, thuê người khác đi hộ. Lấp mạch sủi đê sông Cái, đào hố chứa rác, vét bùn, đều được tính cả. ấy thế nhưng phải tổng vệ sinh trước lễ Quốc Khánh đã Sáng chủ nhật, sáu tổ lấy sáu người đem chổi và cái hót rác lên trường Trưng Vương tiễn đồng bào chạy nước về lại dưới bãi- thông tri viết thế, nhưng cung cách chỉ dẫn các thứ vậy thì hiểu nghĩa là lên quét dọn làm vệ sinh cho nhà trường các chỗ đồng bào đã tạm trú cả tháng qua.
HỒI KÝ XƯƠNG TRẮNG TRƯỜNG SƠN CỦA XUÂN VŨ KỲ 6
Đơn vị đang xôn xao vì thiếu
gạo, nội bộ rã rời, và thêm vào những hiện trạng đó là những trận bom liên
tiếp, bom của “còng cọc” dội (tức Skyraiaer) và B52 tiếp thêm. Có một cái hiện
tượng kỳ lạ, là hễ đơn vi dời tới đâu, thì ăn bom tới đó, mặc dù là hành quân
ban đêm để tránh mọi sự dò xét của máy bay do thám, nhưng hễ đóng quân xong,
hôm trước thì hôm sau lại bị bom.
Mạnh và Tuất đang cho họp chi
bộ tìm nguyên nhân. Chi bộ họp bên cạnh chỗ ngủ của tôi, nên tôi nằm lắng tai
nghe hết ráo.
HỒI KÝ CHIỀU CHIỀU CỦA TÔ HOÀI - KỲ 6
Đầu mùa đông 1957, tôi đi Matxcơva, dự hội nghị quốc tế về văn học
thiếu nhi. Người dịch tiếng Nga cho tôi là Marian Tkchôp. Năm ấy, Marich trên
hai mươi tuổi đôi chút. Tốt nghiệp khoa tiếng Việt ở Matxcơva rồi làm việc ban
đối ngoại hội Nhà Văn Liên Xô. Thoạt trông, tưởng người ít ra đã trạc bốn mươi.
Một lọn tóc vắt che trán hói lên gần đỉnh đầu, cái đuôi tóc còn thừa thòng lòng
ra đằng gáy. Vừng trán cao phẳng lặng thật lạc lõng với người trẻ tuổi mới có
người yêu.
HỒI KÝ XƯƠNG TRẮNG TRƯỜNG-SƠN CỦA XUÂN VŨ - KỲ CUỐI
… Một buổi sáng chúng tôi đang
vui cơm nước bỗng có tiếng máy bay tới. Tôi có cảm giác là máy bay sẽ bỏ bom
xuống đầu mình. Thì quả thật vậy. Ba chiếc phản lực kiểu gì không rõ rà xuống
thật thấp, cánh to bè ra như những tấm phản đen ngòm, ném một lúc năm, sáu quả
bom.
Rồi một đợt khác nữa tiếp tục.
Tôi và Năm Cà Dom chỉ ngồi nép vào gốc cây chờ dứt trận bom. Chúng tôi vừa hé
mắt nhìn ra thì lại nghe máy bay tới, ù… ù… tiếng động cơ quen thuộc của một
chiếc L19. Rồi tiếng người cất lên từ trên máy bay nghe oang oang. Có lẽ tiếng
người khi phát ra bị tốc lực của phi cơ làm cho méo mó đi cho nên ở dưới này
nghe không rõ là người đó nói cái gì.
Mặc dù không biết trên đó người
ta nói cái gì nhưng tâm linh tôi nghe buốt lạnh. Tôi ngước cổ nhìn lên.
Chiếc L19 lắc lư như con diều
giấy chao nhẹ trong gió và những tiếng nói như những tràng đá sỏi rơi xuống đầu
tôi.
HỒI KÝ CHIỀU CHIỀU CỦA TÔ HOÀI - KỲ 7
![]() |
(Nhật ký)- Hà Nội đã
vào tháng chạp 1972. Hàng ngày cứ căng thẳng rồi lại bình thường. Nhưng với tâm
lý muốn bình yên thì tưởng tượng của người ta ngả về bình yên nhiều hơn. Đường
phố đông người khác thường, hình như ai cũng ra đường. Vẫn giục từng nhà đi sơ
tán. Nhưng trong bụng người giục cũng cho là nếu có bom xuống thì hoạ may người
ta mới đi.
Họp khối phố, thu được
150 đ, hôm nào thu đủ thì đem lên khu lấy tem phiếu đợt 1. Nửa đêm, tiếng bom
bên kia sông phía Gia Lâm. Tháng vừa rồi yên yên, lại ra vẻ bắt đầu đây. Gần
sáng, tiếng bom kéo dài nặng nề hơn. Phúc thức giấc, nói: “Con nghe như tiếng
B52". Nó có kinh nghiệm chiến trường. Mình đoán vu vơ: “Không có lẽ".
Tiếng bom đến tận tảng sáng, trời cứ vừa hửng vừa sẫm lại.
HỒI KÝ CHIỀU CHIỀU CỦA TÔ HOÀI - KỲ CUỐI
![]() |
Về đến sứ quán ở Bắc
Kinh thấy đông nhộn khác cái thoáng vắng hôm trước. Giữa vườn cây lê cây táo
trơ trụi mùa đông, những đống cao lù lù như cây rơm phủ kín ni lông xanh, ni
lông xám. Hỏi mới biết đấy là những núi đồ đạc mới đưa về, để trong nhà không
có chỗ, phải chất ra giữa trời. Bắc Kinh đương mưa tuyết, mưa cả đêm. Những
mảng băng đầu mùa bám ngoài ni lông, khi tuyết rơi nhiều, băng xụt xuống như
bùn trắng nhão quanh chân các gò đống đồ đạc.
Người
về ở đông kín các phòng chiêu đãi sở, khắp cả nhà cơ quan làm việc. Xe lửa
Matxcơva về Hà Nội bị cắt lưng chừng, giữa khi qua Cát Lâm trên Đông Bắc. Sứ
quán phải thuê xe lên đón. Cán bộ và sinh viên đi công tác, về phép, về hết
hạn, người và hành lý đưa cả về đây. Tạm ở, đợi bao giờ lại có đường có tàu thì
chưa biết.
HỒI KÝ CÁT BỤI CHÂN AI CỦA TÔ HOÀI - KỲ 1
![]() |
1 2 3
Độc giả sẽ có cảm tưởng như đang ngồi quây quần quanh vuông chiếu
hoa, trong ngôi nhà thừa tự của tổ tiên, dưới ánh sáng chập chờn của ngọn đèn dầu
lạc, láng nghe tiếng kể trầm tĩnh, đôn hậu, nhẹ nhàng, nhưng vô cùng sâu lắng của
một ông già đã có trên nửa thế kỷ hệ lụy cùng quê hương. Ông già đó, nhà văn Tô
Hoài, tác giả của Dế mèn Phiêu Lưu Ký mà chắc chắn không một người Việt
Nam nào chưa từng ê a học thuộc lòng vào cái thời còn mài đũng quần ở ghế trung
học, sẽ đưa chúng la về lại với thổ ngơi liền chiến, nơi có những nhân vật từng
"vang bóng một thời": Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính, Nguyên Hồng, Thế Lữ,
Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tam Lang, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Vũ Bằng...
Và hầu hết các tác giả của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, cùng nhiều "chức sắc"
quyền cao chức trọng trong giới văn nghệ, nói riêng, nhà nước, nói chung. Nơi, ở
đó, họ đã sống, đã sinh hoạt, đã vui chơi, đã sáng tác, đã "rất người"
trong thân phận con người. Nơi, từ đó, họ ra đi, họ lên đường, họ nhập vào dòng
đời, để rồi mỗi người, bằng cá tính rất riêng của mình, tự chọn lựa hoạc bị chọn
lựa một thế sống nào đó. Những thế sống, góp chung lại, làm nên dòng chảy bão
táp của văn học, chính trị Việt Nam trong vài thập niên qua.
Có lẽ Cát Bụi Chân Ai là cuốn hồi ký trung thực nhất của một nhà văn,
viết về các bạn văn cùng thời, và về chính mình.
HỒI KÝ CÁT BỤI CHÂN AI CỦA TÔ HOÀI - KỲ 2
Chuyến
tàu hoả từ Phnôm Pênh ra đến Poipet vừa chập tối. Bấy giờ vào mùa thu 1930. Đường
sắt tà vẹt tám thước Nôm Pênh vừa hội khánh hành đoạn cuối nối với bên Xiêm ở
Poipet còn như chạy thử, vài ngày mới có một chuyến không nhất định. Bên Xiêm vẫn
tăng bo một quãng chưa nối thẳng được xuống Vọng các.
- Những chuyến tàu thất thường này xộc xệch, còn thưa khách. Chỉ có người đi
buôn hay phu phen rừng cao su ra. Lắm hôm vào ga thị trấn Poipet, chỉ còn vài
người trên tàu xuống. Hôm ấy cả một toa hạng tư, có ba người. Một người luống
tuổi xách cái bị, mặc áo bà ba xuyến đen đã bạc, râu ria lởm chởm. Dáng như một
người ở đây về trong xứ có việc, bây giờ trở lại. Hay một chủ hiệu tạp hoá, một
người cai ở đồn điền cao su ra chợ thị trấn cất hàng.
HỒI KÝ CÁT BỤI CHÂN AI CỦA TÔ HOÀI - KỲ CUỐI
Năm cùng
tháng tận, tết nhất đến nơi mà thành phố vẫn phấp phỏng không biết bom đạn trên
trời ập xuống lúc nào. Dáng ai cũng vội. Mưa bụi hơi nặng hạt. Tiếng pháo rải
rác. Con chuột cống trụi hết lông trong rãnh nước lép nhép ra, gặp ánh điện lại
lõm bõm thong thả quay vào. Ngày mùng một, những bộ quần áo mới và những người
đẹp loé lên như nắng sớm. Kiểu áo Thái Lan vạt không viền gấu ngổ ngáo được các
ông phó may đất Kẻ Chợ làm cho dịu đi, ưa mắt. Thì cái áo đại cán ở Thái Nguyên
về chẳng ra sao mà đến Hà Nội cũng hoá nhũn nhặn, dễ trông. Chiếc chả giò Sài
Gòn bé bằng ngón út mà ra đây hoá thành cái nem rán nhân cua bể, món ăn quốc tế.
Chỉ những mái tóc xun xoăn lên như cô gái châu Phi thì hình như các tay thợ
ngôi chịu, vẫn để nguyên mẫu thế trên đầu các cô gái đời mới.
HỒI KÝ THÁNG BA GÃY SÚNG CỦA CAO XUÂN HUY - PHẦN 1
Tựa
Tôi không phải là một nhà văn, mà tôi
chỉ là một người lính, lính tác chiến đúng nghĩa của danh từ, và những điều tôi
viết trong quyển sách này chỉ là một câu chuyện, câu chuyện thật một trăm phần
trăm được kể lại bằng chữ. Tôi viết những điều mà những thằng lính chúng tôi đã
trực tiếp tham dự nhưng không ai viết lại, trong khi nhiều người đã viết về những
chuyện chiến trường thì hình như chẳng có ai dự.
HỒI KÝ THÁNG BA GÃY SÚNG CỦA CAO XUÂN HUY - PHẦN 2
Phần 3
Huế
đang là một thành phố chết và đang là một thành phố bị bỏ ngỏ. Cả thành phố chỉ
còn lại vài ba ngọn đèn đường, cái sáng cái tối, đạn pháo Việt Cộng nã đều vào
cầu Trường Tiền và khách sạn Hương Giang, đó đây người ta đang đạp xe ba bánh,
xe xích lô đi hôi của.
Ði
lối cầu mới thì được an toàn, nhưng tôi sẽ đi lối cầu Trường Tiền mặc dù cầu
này đang bị pháo. Một chút lãng mạn trong người tôi nổi dậy, chẳng gì cũng chỉ
còn là lần chót. Ngay đầu cầu, một chiếc M-48 nằm chình ình, máy vẫn còn nổ mà
không có người. Lên đến giữa cầu, tôi nói với mấy thằng lính đệ tử.
HỒI KÝ THÁNG BA GÃY SÚNG CỦA CAO XUÂN HUY - PHẦN CUỐI
Phần 5
Lên
đến trên tàu, không khí quá nặng nề ngột ngạt. Không phải nặng nề ngột ngạt vì
số người trên tàu quá đông, mà vì cả tàu đang bị bao trùm bằng mùi giết chóc,
căng thẳng.
Huy
mập nhét vào tay tôi khẩu súng ngắn, dặn dò:
"Súng
tôi lên đạn sẵn, ông giữ cẩn thận."
"Còn
gì nữa để mà phải thủ súng lên đạn sẵn?"
"Thì
ông cứ giữ đề phòng. Biết đâu có lúc phải xài tới."
Chưa
kịp tìm chỗ ngồi, tôi nghe một tiếng súng nổ.
Hai
người lính Thủy Quân Lục Chiến cúi xuống khiêng xác một người lính Bộ Binh vừa
bị bắn chết ném xuống biển. Một người lính Thủy Quân Lục Chiến khác đang gí
súng vào đầu một trung úy Bộ Binh ra lệnh:
"Ðụ
mẹ, có xuống không?"
"Tôi
lạy anh, anh cho tôi đi theo với."
"Ðụ
mẹ, tao đếm tới ba, không nhảy xuống biển tao bắn."
"Tôi
lạy anh mà, tôi đâu có gia đình ở ngoài này."
"Ðụ
mẹ, một."
"Tôi
lạy anh mà, anh đừng bắt tôi ở lại, anh muốn lạy bao nhiêu cái tôi cũng lạy hết.
Tôi lạy anh, tôi lạy anh."
"Ðụ
mẹ, hai."
"Trời
đất, mình đồng đội với nhau mà, anh không thương gì tôi hết. Tôi lạy anh
mà."
"Ðụ
mẹ, ba."
Tiếng
ba vừa dứt, tiếng súng nổ.
Người
trung úy Bộ Binh ngã bật ngửa ra, mặt còn giữ nguyên nét kinh hoàng. Viên đạn
M-16 chui vào từ đỉnh đầu. Xác của anh ta được hai người lính Thủy Quân Lục Chiến
khác khiêng ném xuống biển.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)

















