Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2013

HIỆN TƯỢNG BÙI GIÁNG


Thụy Khuê

Sinh thời, Bùi Giáng bảo: "Hãy để cho tôi yên, tôi dại. Ðừng ai nói đến tôi. Và nhất là đừng có ai bàn đến thơ tôi ."  (1) Có lẽ vì tôn trọng nhà thơ, cho nên ít ai bàn đến thơ ông (2). Ca tụng Bùi Giáng thì nhiều, nhưng phê bình Bùi Giáng thì ít.


     Như thơ, Bùi Giáng sống tiêu dao suốt cõi mù sa bên rừng, cả đời lục bát. Tại sao lục bát? Lục bát bởi vì, đối với Bùi Giáng: "Lục bát Việt Nam là cõi thi ca hoằng viễn nhất, kỳ ảo nhất của năm châu bốn biển, ba bẩy sông hồ." (3) Ðó là lộng ngôn Bùi Giáng.

Về bản thân mình, Bùi Giáng tự họa: "Nhe răng cười trong bóng tối... Không bao giờ bắt chuồn chuồn mà cứ bảo rằng mình luôn luôn bắt chuồn chuồn... Không thiết chi đọc sách mà vẫn cặm cụi đọc sách hoài... Chán chường thi ca mà cứ làm thơ hoài... Chuốc sầu vạn đại thì bảo rằng mua vui cũng được một vài trống canh." (4) Ðó là mâu thuẫn Bùi Giáng.


Hỏi về tiểu sử, Bùi Giáng trả lời:



  Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu 
  Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất xa. 
  Gọi tên là một hai ba, 
  Ðếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm. 
 Ðó là vô căn Bùi Giáng.



Trên báo Văn, số 26 tháng 8 năm 1984, Mai Thảo kể lại rằng khi hỏi về cái lực viết phi phàm của Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền lắc đầu cười: "Chịu, không giải thích được. [...] Nói đến mấy ngàn bài thơ Bùi Giáng là đúng. Mà nói thơ Bùi Giáng chỉ có một bài, vô tận, vô cùng là đúng hơn. Ngủ ra thơ. Thở ra thơ. Ði ra thơ. Ðứng ra thơ. Chứ không phải nghĩ thơ, làm thơ."



Vẫn theo lời Mai Thảo, ông Thanh Tuệ, giám đốc nhà xuất bản An Tiêm, thuật lại: "Ảnh lang thang suốt ngày, chẳng thấy lúc nào ngồi viết hết. La cà hết nơi này đến nơi khác, uống rượu say ngất rồi về lầu lăn ra sàn ngủ, nhiều ngày bỏ cả bữa ăn. Ðêm cũng không thức, chỗ nằm tối thẳm. Tôi in không kịp, nói ảnh tạm ngừng thì ảnh ngừng. Nói có máy, có giấy, nói buổi sáng, buổi chiều ảnh đã tới ném bịch xuống cả năm bẩy trăm trang. Cứ thế đem sắp chữ thôi, đâu có thì giờ đọc."



     Mai Thảo kể tiếp, khi làm số Văn, đặc biệt về Bùi Giáng: "Tôi hỏi xin ông những bài thơ mới nhất. Ông gật. Tưởng lấy ở túi vải ra. Hoặc nói về lấy, hoặc nói hôm sau. Tất cả đều không đúng. Ông hỏi mượn một cây bút, xin một xấp giấy, một chai bia lớn nữa, đoạn ngồi xuống và trước sự kinh ngạc cực điểm của chúng tôi, bắt đầu tại chỗ làm thơ [...] Lần đầu tiên tôi thấy Bùi Giáng viết, thoăn thoắt, vùn vụt, nhanh không thể tả. Như thơ không thể từ đầu, từ tim chảy xuống, xa quá, lâu quá, mà ngay từ ngọn bút, từ đầu ngón thôi [...] Lần đó, tôi đã thấy, đã hiểu tại sao Bùi Giáng, cứ cánh bướm rong chơi, cứ phiêu bồng lãng du mà vẫn có ngay nghìn câu một buổi."



     Về những cơn điên Bùi Giáng, Phạm Xuân Ðài kể trong lời tựa tập Thơ Bùi Giáng (5): "Chỉ có thơ và những cơn điên [...] Bây giờ (năm 1992) anh ít làm thơ lắm, còn các cơn điên thì vẫn viếng thăm anh gần như định kỳ. Những lúc ấy anh đi nhiều nơi, nhưng thường xuất hiện ở vùng chợ Trương Minh Giảng (chỗ Ðại Học Vạn Hạnh, là nơi ngày xưa anh thường trú ngụ) đứng giữa đường vung tay, điều khiển xe cộ, cử chỉ rất linh động, đặc biệt đôi mắt sáng quắc bừng bừng [...] Có khi anh múa may trong một lớp áo lòe loẹt, động tác mạnh mẽ chính xác gần như múa võ, miệng hò hét như đang nạt nộ với một đối tượng vô hình."



     Ðó là hiện tượng Bùi Giáng, qua lời kể của những người thân trong giới văn học.



Bùi Giáng là ai? Bùi Văn Vịnh, em của Bùi Giáng, cho biết (6): Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 tại làng Thanh Châu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. 
     Thuở nhỏ, học trường Bảo An tại Ðiện Bàn, Quảng Nam, trung học ở trường Thuận Hóa, Huế. Năm 1950, đậu Tú Tài II văn chương ở Liên Khu V. Sau đó ra Liên Khu IV học tiếp đại học. Nhưng sau khi nghe qua bài diễn văn khai giảng của ông viện trưởng, Bùi Giáng quay về Quảng Nam và bắt đầu quãng đời được gọi là "Mười lăm năm chăn dê ở núi đồi Trung Việt". 
     Tháng  năm 1952, Bùi Giáng về Huế thi Tú Tài tương đương và vào Sài gòn ghi danh Ðại Học Văn Khoa. 
     Lần này, sau khi nhìn danh sách giáo sư giảng dậy ở Văn Khoa, Bùi Giáng quyết định chấm dứt việc học ở trường và bắt đầu viết khảo luận, sáng tác, dịch thuật và đi dạy học tại các trường tư thục.



 Từ 1957 đến 1997, Bùi Giáng có khoảng 55 tác phẩm đã in về thơ, dịch và triết. Như lời Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Thanh Tuệ, thơ có đến nghìn bài. Và nội trong một ngày, có thể ném bịch một vài trăm trang sách. Ðúng là một kỷ lục có một không hai.




     Chúng ta thử tìm hiểu bản chất của kỷ lục ấy qua một vài trang sách của Bùi Giáng trong Con Ðường Ngả Ba Bước Ði Của Tư Tưởng, do An Tiêm xuất bản lần thứ nhất tại Sài gòn năm 1972, và tái bản tại hải ngoại.



     Có thể nói trong cuốn sách này, cái gọi là điên của Bùi Giáng phát hiện rõ rệt dưới hình thức loạn ngôn, ngộ chữ cao độ. Về Heidegger, Bùi Giáng viết: "Tất cả con đường tư tưởng của Heidegger là mọi lối nhiếp dẫn bước đi về những vùng u kín trong cổ lục uyên nguyên." (trang 13)



     Về Nietzsche, ông viết: "Nietzsche không phải là đại hải đại dương. Nietzsche đã đón vào lòng mình một dòng sông dơ bẩn. Và từ đó? Từ đó, Nietzsche biến thành một loại người mạt hậu theo mọi nghĩa thái thậm ly kỳ. Con người mạt hậu và hư vô chủ nghĩa, con người mạt hậu và sa mạc tinh hoa, con người mạt hậu và Mạt Hậu "Tử Sinh Môn" Hoạt Tinh Thể, con người mạt hậu và Siêu Hình Học Lãnh Ðịa, con người mạt hậu và Ðịnh Mệnh Phối Tiết Sử Lịch Tồn Lưu, Ðịnh Mệnh Phối Tiết Sử Lịch Tồn Lưu và Siêu Hình Học theo nghĩa Sử Lịch chân lý của Hiện Thể như là Hiện Thể, Sử Lịch chân lý của Hiện Thể và Ðịnh Mệnh Tồn Lưu thoái tàng ư mật, Tồn Lưu thoái tàng ư mật và Hằng Thể bước vào vòng di vong trầm một, từ di vong trầm một, còn chút hậu tình ân ốc nào sẽ "trột mầm" cho một trận Dịch Chuyển thông hành của Ðịnh Mệnh hay không? hay là Siêu Hình Học vẫn mãi mãi kiên trì tồn lập trong cuộc đù đỡn "trệ lưu ư ngoại" bất khả tư nghì khuyết phạp từ Hoạt Tinh Thể của Hư Vô? ..." (trang 17)



      Và cứ như thế, Bùi Giáng sản xuất 499 trang Con Ðường Ngả Ba, Bước Ði Của Tư Tưởng. 



     Ðiểm thích thú nhất của người đọc trong cuốn sách này là những trích đoạn thơ Bùi Giáng, phần lớn là những câu thơ hay, tỏa ra những suy tư sâu lắng về bản chất con người. 

     Nhưng trong 499 trang chữ ấy, người đọc tìm thấy rất ít dòng đứng đắn và tỉnh táo bàn về những vấn đề triết học như hiện sinh và bản thể, tồn tại và thời gian, mặc dù ông rất ngưỡng mộ Heidegger, người thầy hiện sinh được ông trích, dịch một cách kỳ cục. Ví dụ như câu này, dịch ra từ tiếng Pháp, tiếng Ðức: "Nhưng mà lời thuyết thoại trì ngự, trong (khởi từ) Ðịnh Mệnh Phối Tiết mở phơi, sẽ ra sao nếu như cái Sở Khải Khai trong Song Trùng Tịch Hạp bị Ðịnh Mệnh Phối Tiết (ruồng rẫy) bỏ phó mặc cho cuộc thể hội vất vơ nhân tuần (dung thường nhật lệ) của con người từ diệt chúng tử chúng sinh?" 
(Con Ðường Ngả Ba Bước Ði Của Tư Tưởng, trang 12-13)



     Dù đặc sệt những tên tuổi triết gia, nặng ký trích dẫn thiên kinh, vạn điển, dù có một số ý trội lên về vấn đề đọc sách, đọc Nguyễn Du, đọc Bùi Giáng, về sự gặp gỡ giữa những nhà tư tưởng lớn, đả kích một số nhà xuất bản không tôn trọng văn bản của tác giả, Con Ðường Ngả Ba vẫn không phải là cuốn sách bàn về triết học, hoặc đưa ra một hệ thống tư tưởng mạch lạc; mà có thể nói đây  chỉ là cuốn phiếm luận bí hiểm, ngôn ngữ thần chú, nhại triết học, nhạo người đọc. Cho nên khi Tạ Tỵ viết: "Bùi Giáng đối thoại với Nietzsche, Sophocle, Parménide, Khổng Tử, Lão Tử, Sartre, Camus..."  thì e rằng Tạ Tỵ quá lời. Sự tìm kiếm siêu hình nơi Bùi Giáng, như chỉ dừng ở phần vỏ của ngôn từ: tồn sinh, tồn lưu, hằng thể, hư vô, logos, ... mà không đi vào nội tâm của suy tưởng. Hoặc có lẽ Bùi Giáng chỉ muốn rỡn chơi. Nếu ông có nhắc tới Như Lai, Bồ Tát, Heidegger, Parménide, Platon, Socrate cũng chỉ như ông nói đến Nam Phương Hoàng Hậu, Dương Quý Phi, Marilyn Monroe, đười ươi, chuồn chuồn, châu chấu v.v... vậy thôi, trong một trạng thái "tẩu hỏa nhập ma", một tinh thần anarchiste toàn diện. Một "người phá", để nói theo ngôn ngữ Trần Dần. "Người phá" trong cái nghĩa tiêu cực của nó, chứ không phải trong cái nghĩa sáng tạo, ít nhất là ở cuốn sách Con Ðường Ngả Ba. 

Phải chăng Bùi Giáng chỉ muốn "hù dọa" người đọc không chuyên môn? Hay ông muốn nhại, diễu, những hệ thống suy tưởng mà một số trí thức quen dùng như mẫu mực hoạt động tinh thần? Biến chúng thành một thứ charabia, ngôn ngữ vấn đáp chuồn chuồn, châu chấu, nói trẹ, nói xàm, nói bá láp và ông có khả năng sản xuất mỗi ngày vài trăm trang như thế?


 Thái độ anarchiste toàn diện này mở rộng trong đời sống, trở thành một bản năng phản kháng quẫy đời: Cởi quần áo giữa lớp học, tắm nơi công cộng, ngủ vỉa hè, trở thành clochard (hành khất say rượu), mặc áo rằn ri lính ngụy,  để chỉ đường..., tất cả những "cơn điên" ấy của Bùi Giáng chứng minh sự sáng suốt của một Bùi Giáng không điên.



     Không điên vì ông chỉ đẩy đến cùng trạng thái hiện sinh, chứng nghiệm ý thức trần trụi về bản thể. Cởi dần năm bẩy lớp quần áo chẳng qua chỉ là hình ảnh "rút gọn hiện tượng", bóc vỏ các tầng lớp bề ngoài của "hiện tượng" để tìm ra bản chất trong hiện tượng luận Husserl. 
     Trở thành clochard là một cách thể nghiệm tự do và tự hủy.



     Trong những đệ tử của hiện sinh thời ấy, Bùi Giáng là người đi xa nhất trong hành động tự hủy và hành xác. Tự hủy để chứng minh: Cá nhân con người đã chán ngấy cuộc sống, nó có một quyết định tự do lựa chọn, và sự hủy hoại bản thân là sự lựa chọn tiến gần nhất đến tự do tuyệt đối. 
     Sau 75, người ta càng yêu Bùi Giáng hơn, vì trong một xã hội được bị lồng vào khuôn phép, một xã hội đã ổn định cơ chế, công chúng yêu mến những gì bất thường, yêu những kẻ ngoại đạo, bất ổn.



     Bùi Giáng là người ngoại đạo duy nhất dám làm lũng đoạn môi trường ổn định bằng thái độ tự hủy. Cái điên của Bùi Giáng là cái điên sáng suốt trong một tình thế không có cứu cánh nào khác nếu không tìm về bản thể của con người. 
Thơ Bùi Giáng, hiện sinh trong đoạn trường và định mệnh



Những "dạ thưa", những "tồn sinh", những "phố thị", những "cố quận", "đười ươi", đã trở thành những cốt cách, những địa chỉ rất Bùi Giáng:



  Dạ thưa phố Huế bây giờ 
  Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương



  Dạ thưa Vỹ Dạ về gần 
  Ðã từ xa lắm thiên thần nhớ em



     Thơ Bùi Giáng, ngay từ thuở đầu đã rong chơi, lãng mạn, đã tinh nghịch, nhẹ nhàng, hóm hỉnh, luôn luôn là những lời vấn đáp lẩn thẩn về ý nghĩa cuộc đời, về lẽ tồn sinh, về những chuyện phù du, dâu bể, ẩn khuất một dục tình khép mở Xuân Hương:



  Cá ở ngoài khe có ít nhiều 
  Cồn lau cỏ lách có hoang liêu 
  Em về có hỏi răng ri rứa 
  Nhắm mắt đưa chân có bận liều. 
                      (Bờ trần gian)



hoặc:



  Bỏ hai chân xuống một vùng 
  Nước truông là lá thu rừng xuống khe. 
                      (Bỏ hai chân)



     Những dòng thơ trên đây, theo như lời Mai Thảo, Bùi Giáng đã làm một mạch, tại chỗ, xuất bút thành thơ. Huyền thoại Bùi Giáng, thi sĩ bẩm sinh, poète né, trong thập niên 60-70, được xác định như một hiện tượng văn học độc đáo. Như thể ông đã biết trước đường đi nước bước của thơ. Có khả năng thiên bẩm về sự lang thang ngơ ngẩn của chữ trên đời, và chỉ cần huơ tay, bắt chúng, nhốt vào câu lục bát, như Bình Nguyên Lộc "nhốt gió", là có ngay thơ Bùi Giáng:



  Một hôm đếm một ra ba 
  Thật là lạ lắm, ấy là cái chi



 hay:



  Người con gái lội qua khe 
  Bàn chân với nước lạnh đè lên nhau 
  Nỗi niềm tưởng lại xưa sau 
  Bàn chân với nước cùng nhau lại đè. 
                       (Lá hoa cồn)



  Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu 
  Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất xa 
  Gọi tên là một hai ba 
  Ðếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm



     Bốn câu tự họa trên đây dường như đã gói trọn bản chất thơ ca và tư tưởng Bùi Giáng. Một bản chất đa mang nỗi hiện sinh hoang tưởng trong một "đạo khờ" gắn bó với đoạn trường tái tân thanh (chữ của Bùi Giáng) tiếp nhận Nguyễn Du như một thông đạo, thông thư, thông mệnh văn học. 

     Thân phận dâu bể của con người, nỗi hoài nghi về số kiếp, ta từ đâu lại? Ta là ai? Những trầm luân, biến đổi làm sao đo, đếm, đặt tên được? Ðến bản thân ta, ta còn không biết, nữa là... Nếu trường phái hiện sinh (Sartre) bác bỏ tính chất định mệnh, thì ở Bùi Giáng, định mệnh (Kiều) và hiện sinh giao hưởng với nhau thành một cấu trúc tư tưởng mới, tạo nên những vần thơ đậm dấu Ðạm Tiên, hắt ra những ánh siêu thực:



  Em chết bên bờ lúa 
  Ðể lại bên đường mòn 
  Một dấu chân bước của 
  Một bàn chân bé con 
  Anh qua miền cao nguyên 
  Nhìn chân trời bữa nọ 
  Ðêm cuồng mưa khóc điên 
  Trăng cuồng khuya trốn gió 
  Mười năm sau xuống ruộng 
  Ðếm lại lúa bờ liền 
  Máu trong mình mòn ruỗng 
  Xương trong mình rã riêng 
                          (Mưa nguồn)



     Bùi Giáng có những câu thơ rất cao, rất tĩnh, rất sâu, thanh thản, gợi đến hư vô trong một không gian lãng mạn trữ tình, ít thấy xuất hiện trong thơ Việt.



  Buổi trưa đi vào giữa lòng lá nhỏ 
  Tiếng kêu kia còn một chút mong manh 
  Dòng nức nở như tia hồng đốm đỏ 
  Lạc trời cao kết tụ bóng không thành 
              (Hư vô và vĩnh viễn - Mưa Nguồn)



     Không gian Bùi Giáng, một cõi hư không đầy dấu hỏi, bồng bế nhau đi, năm này qua tháng khác, một cõi trùng sinh, di động luân hồi.



  Những nhịp bước trên đường còn dội mãi 
  Vang về đâu không vọng lại hồi âm 
  Của réo rắt riêng một lần mãi mãi 
  Gió phương trời ủ mộng giữa hoa tâm 
  Em hỏi mãi tuy biết lời đáp lại 
  Chẳng bao giờ thỏa đáng giữa đời câm 
  Em ngó mãi những chiều về trở lại 
  Mang những gì về trong cõi trăm năm... 
                      (Chiều - Mưa Nguồn)



     Từ Nguyễn Du, Bùi Giáng trích tạo nên một mô típ bạc mệnh hiện đại, mầu sắc siêu thực, tài tử và tài hoa, một chất thơ giao thoa Nguyễn Du Bùi Giáng



  Lớp phiêu bồng mọc trăng ngàn 
  Thành xưa phố cũ muôn vàn phía sau 
  Ðạp thanh vẽ bóng lộn mầu 
  Góp dâng cữ gió nghiêng đầu sương mây 
  Ngõ ban sơ hạnh ngân đài 
  Cổng xô còn vọng điệu tài tử qua 
  Xin chào giữa bước chân ra 
  Chết từ sơ ngộ mầu hoa trên ngàn 
                      (Mầu hoa trên ngàn)



     Nơi Bùi Giáng còn một mô típ bạc mệnh, cuồng khất, tổng hợp đoạn trường, tồn sinh, ngông ngôn, rất liều và rất loạn, mà cũng là vọng âm của niềm hoang mang tuyệt đối:



  Hồng quần rất mực bước ra 
  Trường quần duệ địa phong hoa lá cồn 
  Phải rằng nắng quáng dập dồn? 
  Hay là đèn trút linh hồn oái oăm? 
  Phải là nguyệt giữa đêm rằm? 
  Nguyên tiêu lãng đãng lá nằm ngẩn ngơ? 
  Kể từ hằng thủy ban sơ? 
  Kể từ sơ thủy về tờ vẽ trang? 
  Kể từ thu tạ lên đàng? 
  Rừng phong thu đã quan san nhuộm mầu? 
  Phải rằng đó trước kia sau? 
  Hay là sau trước còn tao ngộ gì? 
                      (Con đường ngả ba)



     Nhưng bi kịch của Bùi Giáng là ông lập lại chính mình. 

    Trong gần nửa thế kỷ làm thơ, Bùi Giáng để lại hàng ngàn bài, có những câu thơ tuyệt hay, nhưng chính sự lập lại những khám phá ngôn ngữ buổi đầu khiến thơ ông trở thành khuôn sáo, về mặt từ ngữ cũng như tư tưởng. Những dạ thưa, tồn sinh, trùng lai, phố thị của Bùi Giáng, tà huy của Nguyễn Gia Thiều, mù sa, trăm năm của Nguyễn Du... ban đầu làm xuyến xao người đọc: Em về rũ áo mù sa, trút quần phong nhụy cho tà huy bay. Nhưng vì lập lại nhiều lần chúng bị phá giá. Hiện tượng phá giá này có mặt ngay ở những tác phẩm đầu và chủ yếu của Bùi Giáng.



     Từ Mưa Nguồn, Lá Hoa Cồn, năm 62, 63 đã thấy xuất hiện tính chất đoạn trường, tồn sinh như tinh thần chính trong tư tưởng Bùi Giáng: Nguyễn Du, Tản Ðà gặp gỡ Heidegger, Breton phóng sinh một tạng chán đời mới lạ. Bài Rượu Uống trong Lá Hoa Cồn, một thứ đoạn trường ngông rất lãng mạn siêu thực, tiêu biểu cho tính chất lang thang trong cấu trúc thơ Bùi Giáng:



  Thưa em rượu uống bây giờ 
  Là trăm năm gục hai bờ tử sinh 
  Ðộng hờ hững chúa điêu linh 
  Em làm Hoàng Hậu mọc tình cỏ phơi 
  Nhà ma cửa quỷ đi đời 
  Chìm hơi thở đục trong lời sương xanh 
  Càn khôn xiêm mỏng che mành 
  Về trong thiên hạ em thành thiên thân.



  Thưa em rượu uống bây giờ 
  Là thiên cổ lụy còn trơ bên mình 
  Tài hoa tiếng vọng điêu linh 
  Phạm Ðan Phượng chết theo Quỳnh Như sao. 
  Thưa em từ bữa nghiêng chào 
  Chớm trang đầu chợt sóng trào trường giang 
  Em đi rắc lá trên đàng 
  Cỏ xanh rì mọc suốt càn khôn kia 
  Mùa xuân mưa rưới mộng lìa 
  Về trong nắng hạ mép bìa sai bâu



  Thưa em rượu uống bây giờ 
  Là trong lát nữa lên bờ đuổi ma 
  Chạy quang cồn cụm lá già 
  Rách như bươm suốt ruộng sa mạc đồng 
  Càn khôn gió đổ chất chồng 
  Rú như beo rống như hùm đổi hang 
  Trên rừng dưới lũng tan hoang 
  Vẫn sừng sững bóng chắn ngang quỷ sầu



  Thưa em rượu uống bây giờ 
  Là trong lát nữa trăng mờ hỏi ma 
  Hỗn mang về giữa hiên nhà 
  Bây giờ cố quận tên là chiêm bao 
  Nhìn nhau trong lũy ngoài hào 
  Lời phôi dựng một điệu chào dị sai 
  Trên đầu thế kỷ chia hai 
  Nguồn man mác lạnh tìm ai bây giờ



  Thưa em rượu uống bây giờ 
  Là thiên thu lại còn trơ hận trường 
  Chung cầm dâu biển khôn lường 
  Chân trời mộng lý con đường chia ba 
  Nam đình doanh trại dàn qua 
  Trống chầu trùng ngộ thưa là không mong 
  Hoạt tồn phát tiết sầu đong 
  Tràng giang thế kỷ xô dòng xuống lên



     Bài thơ gồm năm nhịp nối tiếp nhau bằng điệp khúc Thưa em rượu uống bây giờ. Mở đầu Thưa em rượu uống bây giờ, điệp khúc mấu chốt, mở cửa dẫn đến câu thơ thứ nhì: Là trăm năm gục hai bờ tử sinh. Cả hai nằm trong cấu trúc song song, tổng hợp quan niệm ngông, đoạn trường và hiện sinh của toàn bài. Câu ba, câu bốn: Ðộng hờ hững chúa điêu linh, Em làm Hoàng Hậu mọc tình cỏ phơi, đệm thêm chất lẳng lơ dục tính, nhưng đã loãng đi vì loại hình này được Bùi Giáng dùng nhiều. Rồi Chìm hơi thở đục trong lời sương xanh, một câu rất hay bị đặt bên một câu lãng xẹt: Nhà ma cửa quỷ đi đời. 
     Nếu chúng ta đọc đến nhịp thơ thứ nhì:



  Thưa em rượu uống bây giờ 
  Là thiên cổ lụy còn trơ bên mình



cũng vẫn thấy nguyên những nhược điểm như nhịp thơ đầu, tức là trong phần thơ đệm có những vội vàng, dễ dãi, ghép chữ, ghép ý rất sáo: Tài hoa tiếng vọng điêu linh, Phạm Ðan Phượng chết theo Quỳnh Như sao.



     Ở những nhịp sau, thì ngay chính điệp khúc mấu chốt:



  Thưa em rượu uống bây giờ 
  Là trong lát nữa lên bờ đuổi ma



  Thưa em rượu uống bây giờ 
  Là trong lát nữa trăng mờ hỏi ma



  Thưa em rượu uống bây giờ 
  Là thiên thu lại còn trơ hận trường



đã có sự lập lại chính mình, như thể nhà thơ tiện tay bắt được chữ nào vội bỏ ngay vào lục bát, không màng nhìn lại những câu thơ đầu nữa.


Tất nhiên láy là một quy ước rất thường trong thi ca. Nhưng láy chỉ làm tăng giá trị thơ khi nó đưa đến những dồn dập hoặc trong cảm xúc, hoặc trong nhịp điệu, hoặc trong sinh động... Tức là láy phải đưa tới một trạng thái căng thẳng, tới một vận tốc khác trong tiến trình âm và ý. 

     Ví dụ:



  Này chồng, này vợ, này cha 
  Này là em ruột, này là em dâu



là một trong những cách láy của Nguyễn Du, vừa tăng vận tốc miêu tả, vừa gia tốc sức ép của hiện thực, rành rành, chính xác, chỉ mặt, chỉ tên. 
     Hoặc:



  Làm cho cho mệt cho mê 
  Làm cho đau đớn ê chề cho coi



     Láy ở đây lũy thừa mật độ ác liệt của Tú Bà. 
     Hoặc:



  Buồn trông cửa bể chiều hôm 
  Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa 
  Buồn trông ngọn nước mới sa 
  Hoa trôi man mác biết là về đâu



     Mỗi lần láy này là một lần Nguyễn Du chuyển cảnh, chuyển tình.



     Sự láy lại, nơi Bùi Giáng, rất thường khi chỉ là láy dập dình tại chỗ, láy lười, thấy hợp vần, tiện thể thì láy. Láy hồ đồ ít khi mang tới trạng thái mới, cảm xúc mới, hoặc một sức ép gia tăng, mà chỉ cho ta một cảm tưởng dằng dai, lai tạp:



  Hãy mang tôi tới giữa đời 
  Giết tôi chết giữa cõi đời mốc meo 
  Hãy mang tôi tới nắng chiều 
  Giết tôi chết giữa một chiều khe mương 
  Hãy mang tôi tới dặm trường 
  Giết tôi chết giữa con đường bơ vơ 
  Hãy mang tôi tới bất ngờ 
  Giết tôi ngẫu nhĩ trong giờ ngẫu nhiên 
  Hãy mang tôi tới diện tiền 
  Giết tôi chết giữa người thuyền quyên kia 
                  (Sa mạc trường ca, Cầu Nguyện Ca)



     Jacques Brel, năm 1966, khi tuyên bố ngừng hát ở tột đỉnh danh vọng, trả lời câu hỏi: "Tại sao ông ngừng hát lúc này?" Brel bảo: "Tôi ngừng vì muốn giữ lòng ngay thẳng với thính giả và với chính mình. Bởi vì khi người nghệ sĩ như tôi, đã nắm vững được tất cả những yếu tố kỹ thuật làm lay động lòng người, thì người đó sẽ có khuynh hướng ăn gian (tricher), phong tỏa người nghe bằng tất cả những kỷ sảo của mình, và khi tôi biết mình sắp đi đến chỗ bước vào kỷ sảo , tôi ngừng." Tất nhiên, Brel chỉ ngừng hát hai năm và năm 68, khi ông trở lại với âm nhạc, đã với một tinh thần khác, hẳn Brel biết mình đã đoạn tuyệt được với ý định dùng kỷ sảo để thu phục lòng người. Và Brel ở lại với âm nhạc thêm sáu năm nữa. 
     Ở Bùi Giáng hình như không có sự tự giới ấy. Cho nên biết bao lần người đọc tiếc, giá Bùi Giáng đừng ham chơi, chịu khó dừng lại ở chỗ đáng dừng để những câu thơ sáng giá như:



  Bụi thu mờ ai phủi với hai tay



hoặc:



  Em về mấy thế kỷ sau 
  Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không 
  Ta đi còn giữ đôi giòng 
  Lá rơi có dội ở trong sương mù



khỏi bị lọt vào khu rừng hoang, ôm đồm những lời thơ vội vàng, mọc lên như cỏ dại.



     Ám ảnh đoạn trường, tư tưởng và ngôn ngữ Nguyễn Du theo đuổi Bùi Giáng suốt đời. Những tập thơ mới nhất, in ở hải ngoại những năm gần đây càng lộ rõ. Trong những cuốn Thơ Bùi Giáng(sđd), Bùi Giáng 94 (in tại California năm 95),  và một phần tập Chớp Biển (sđd), Bùi Giáng tìm về người thầy Nguyễn Du như một cứu cánh. Hầu như mỗi bài thơ của ông đều có ít nhất một chữ hoặc một câu của Nguyễn Du. Và cấu trúc toàn bài thường dựa vào ý một câu Kiều:



  Rằng xưa ký ức đàn bà 
  Tên là phụ nữ, tuổi là dấn thân. 
  ..... 
  Trước đèn một tập mở ra 
  ..... 
  Biển dâu lục địa cõi miền 
  ..... 
  Cảo thơm lần giở gió giăng dậy thì



     Ám ảnh "mù sa", ám ảnh "chỉn e", ám ảnh "vân mòng", "mai sau", "trăm năm", "ngẫu nhĩ", "phong tình", "cổ lục", "dặm về", "tử sinh"... trở thành lớp da thứ nhì của Bùi Giáng:



  Rừng phong thu đã nhuốm màu 
  Quan san ngần ấy tư trào ngần kia 
  ..... 
  Chốn nào mộng mị chiêm bao 
  Chốn này tỉnh táo tiêu tao vân mồng



     Từ cảnh sang tình, từ mơ sang thực, ám ảnh ngôn ngữ trở thành ám ảnh tư tưởng. Bùi Giáng đã cạn dần hồn mình và sống hồn Nguyễn Du trong đoạn cuối đời:



  Em đi từ tỉnh mộng đầu 
  Một mình anh ở mang sầu trăm năm



  Em từ vô tận xa xăm 
  Trùng lai chất vấn: Từ trăm năm nào?



     Những câu hỏi mà Bùi Giáng trải suốt đời thơ, thắc mắc, tìm kiếm, đặt nghi vấn về cõi đi, cõi ở, cõi có, cõi không, biết đâu hôm nay Bùi Giáng chẳng đã tìm được Nguyễn Du ở một cõi trùng lai nào đó, và ông đang chất vấn người thầy về nỗi đoạn trường ấy, từ trăm năm nào?



Tháng 10/1998 
Thụy Khuê



Chú thích: 
(1) trích theo Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng, Hồn Thơ Bị Vây Khổn, Văn, số đặc biệt Bùi Giáng, tháng 5 năm 1973. 
(2) Trừ một số bài như bài của Tạ Tỵ, trong cuốn Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay, in năm 1972, tại Sài gòn, tái bản ở Hoa Kỳ và các bài viết của Thanh Tâm Tuyền, Cao Huy Khanh, Trần Hữu Cư, Nam Chữ, Tuệ Sỹ, Trần Tuấn Kiệt và Thục Khưu trên báo Văn, số đặc biệt Bùi Giáng, tháng 5 năm 1973 tại Sài gòn. 
(3) trích theo Thanh Tâm Tuyền, s đ d. 
(4) trích theo Thanh Tâm Tuyền, s đ d. 
(5) nhà xuất bản Thế Kỷ in năm 1994 tại Hoa Kỳ. 
(6) trong cuốn Chớp Biển, thơ Bùi Giáng in tại Canada năm 1996.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét