“Kẻ hèn nhát hỏi: ‘Có an toàn không?’ Kẻ cơ hội hỏi: ‘Có khôn khéo không?’ Kẻ rởm đời hỏi: ‘Có được tiếng tăm gì không?’ Nhưng, người có lương tâm hỏi: ‘Có là lẽ phải không?’ Và có khi ta phải chọn một vị trí không an toàn, không khôn khéo, không để được tiếng tăm gì cả, nhưng ta phải chọn nó, vì lương tâm ta bảo ta rằng đó là lẽ phải.”
Thứ Ba, 19 tháng 3, 2013
CÔNG DÂN TRƯƠNG MINH ĐỨC NÓI KHÔNG VỚI BẢN DỰ THẢO SỬA HIẾN PHÁP CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013
HỒI KÝ NGUYỄN HIẾN LÊ - PHẦN 6 - CHƯƠNG 32 ĐẾN CHƯƠNG 33
PHẦN VI - Chương XXXII
TỪ NGÀY PHỎNG GIÁI (1975-80)
Ta Phải Biết Sống Theo Ta
Một Cuộc Đàm Thoại -
Bài Học Của Cổ Nhân
Mấy năm gần đây, một số cán bộ trẻ miền Nam lại thăm tôi. Họ đều là độc giả của tôi, biết tôi nhiều từ hồi tôi ủng hộ phong trào đòi viện Đại học Sài gòn dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ, có người hoạt động cho kháng chiến ở thành, sau ngày 30-4-75 được chính quyền tin dùng làm chuyên viên: bác sĩ, kĩ sư, kiến trúc sư v.v...
Mấy năm gần đây, một số cán bộ trẻ miền Nam lại thăm tôi. Họ đều là độc giả của tôi, biết tôi nhiều từ hồi tôi ủng hộ phong trào đòi viện Đại học Sài gòn dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ, có người hoạt động cho kháng chiến ở thành, sau ngày 30-4-75 được chính quyền tin dùng làm chuyên viên: bác sĩ, kĩ sư, kiến trúc sư v.v...
HỒI KÝ NGUYỄN HIẾN LÊ - PHẦN 6 - CHƯƠNG 30 - 31
CHƯƠNG XXX
Chế Độ Tập Thể ở Miền Nam
Chế Độ Tập Thể ở Miền Nam
Cảm Tình Của Tôi Với
Kháng Chiến
Cho tới năm 1974 tôi đã được biết ba xã hội: xã hội nông nghiệp của ông cha chúng ta, xã hội tư bản của Tây phương do ảnh hưởng của Pháp và vài nét xã hội tiêu thụ (Société de consommation) ở thời kì hậu kĩ nghệ (post-industriel) của Mĩ; ba xã hội đó tôi đã phác qua vài nét trong các phần trên.
Cho tới năm 1974 tôi đã được biết ba xã hội: xã hội nông nghiệp của ông cha chúng ta, xã hội tư bản của Tây phương do ảnh hưởng của Pháp và vài nét xã hội tiêu thụ (Société de consommation) ở thời kì hậu kĩ nghệ (post-industriel) của Mĩ; ba xã hội đó tôi đã phác qua vài nét trong các phần trên.
HỒI KÝ NGUYỄN HIẾN LÊ - PHẦN 5 - CHƯƠNG 25 ĐẾN CHƯƠNG 29
PHẦN V - Chương XXV
CHUYỆN LÀM VĂN HOÁ (1954-75)
NHỜ ĐÂU TÔI VIẾT ĐƯỢC NHIỀU?
NHỜ ĐÂU TÔI VIẾT ĐƯỢC NHIỀU?
TÔI GẶP HOÀN CẢNH THUẬN TIỆN VÀ ĐƯỢC THỜI CUỘC THÚC ĐẨY
Năm 1953, thi sĩ Đông Hồ bảo tôi lên Sài
Gòn sẽ không viết được nhiều như ở Long Xuyên và chẳng bao lâu sẽ cạn hứng. Lúc
đó tôi không tin rằng sẽ cạn hứng nhưng cũng chỉ mong viết được vài ba chục
cuốn nữa thì thôi; không ngờ luôn hai chục năm tôi còn viết mạnh hơn hồi ở Long
Xuyên, chẳng những viết sách mà còn viết báo, khiến cho một bạn văn phải ngạc
nhiên tại sao tôi ốm yếu, bệnh tật liên miên: loét bao tử, trĩ, viêm khí quản,
mất ngủ, lao phổi mà viết được nhiều hơn cả Trương Vĩnh Ký nữa, vị học giả mà
ai cũng biết trứ tác phong phú nhất trong một thế kỉ nay. Có người bảo tôi là
cái “máy viết”, thậm chí một thanh niên ở Trung Việt còn ngờ tôi đã mướn người
viết, tôi chỉ coi lại và kí tên!
HỒI KÝ NGUYỄN HIẾN LÊ - CHƯƠNG 23 - 24
Chương XXIII - XXIV
GIA ĐÌNH TÔI
VỢ DẠY HỌC, CHỒNG VIẾT
SÁCH
Cuối năm 1954 chúng
tôi đã lập xong cơ sở làm ăn rồi: một trường học mới đầu có hai lớp, sau bỏ lớp
mẫu giáo để làm kho chứa sách; và một nhà xuất bản mỗi năm chỉ ra ba bốn cuốn.
Từ đó công việc cứ tiến phát đều đều. Vợ dạy học, chồng viết sách, không mướn
một người nào ngoài chị bếp; mọi việc tự làm lấy hết theo lối tiểu công nghệ
gia đình.
HỒI KÝ NGUYỄN HIẾN LÊ - PHẦN 4 - CHƯƠNG 20 ĐẾN CHƯƠNG 22
PHẦN IV - Chương XX
NAM BẮC CHIA HAI – CHIẾN TRANH VIỆT MĨ
(1954-1975)
LẬP LẠI CUỘC ĐỜI
TRÊN ĐƯỜNG LONG XUYÊN
- SÀI GÒN
Thời đó con đường Long Xuyên – Sài Gòn không
được yên. Có vài khúc quẹo cứ dăm bữa nửa tháng quân
kháng chiến lại đặt mìn mà Pháp không có cách gì ngăn được, mặc dù cứ vài ba
cây số lại có một đồn canh, vì đêm lính không dám ra khỏi đồn. Nhiều khi quân
kháng chiến ngang nhiên đi thành hàng băng qua lộ, cách đồn vài trăm
thước, bắt loa khiêu khích mà lính trong đồn nữa mà lính trong đồn cũng làm
thinh, vì hễ nổ một phát súng thì đồn bị san phẳng liền. Như có một sự thoả
thuận ngầm với nhau: một bên cứ canh gác ban ngày, vô làng
xóm bắt gà bắt vịt, bẻ dừa, mận – vừa vừa thôi thì yên; một bên thong thả đi lại ban
đêm, đào đường, đặt mìn…
HỒI KÝ NGUYỄN HIẾN LÊ - PHẦN 3 - CHƯƠNG 16 ĐẾN CHƯƠNG 19
PHẦN III - Chương XVI
TRONG CHIẾN TRANH VIỆT – PHÁP (1945-1954)
TẢN CƯ VỀ TÂN THẠNH
TẢN CƯ VỀ TÂN THẠNH
Hôm đó chúng tôi rời căn nhà 50 đường Monceau,
có ngờ đâu tám năm sau mới trở lại.
Trời trong trẻo, mát mẻ. Trên đường xuống Phú
Nhuận, có nhiều nhà treo cờ thanh thiên bạch nhật: hôm đó là ngày quốc khánh
(lễ Song thập 10-10) của Trung Hoa, quân cách mạng thắng quân nhà Thanh ở Vũ
Xương năm 1911. Đa số xe đạp cắm một cây cờ Trung Hoa nhỏ bằng giấy trước ghi
đông. Trung Hoa đã leo lên địa vị cường quốc thứ năm trên thế giới; người ta
cho rằng cờ của họ là lá bùa hộ mạng khi gặp quân Anh, Pháp.
HỒI KÝ NGUYỄN HIẾN LÊ - PHẦN HAI TỪ CHƯƠNG 10 ĐẾN CHƯƠNG 15
HỒI KÝ NGUYỄN HIẾN LÊ - CHƯƠNG 5 ĐẾN CHƯƠNG 9
Chương 5
NHỮNG NĂM Ở TRUNG HỌC
TRƯỜNG BƯỞI
Năm tôi mới vào, trường Bưởi còn là trường Cao
đẳng tiểu học Pháp Việt (Collège) học bốn năm rồi thi ra lấy bằng Diplôme
d’études primaires supérieures franco – indigènes tương đương với bằng Brevet
élémentaire (sau đổi là Brevet d’études du première cycle) của Pháp. Một học
sinh giỏi thi cả hai bằng và đậu hết. Năm sau trường mở thêm ba lớp nữa để dạy
tới tú tài bản xứ (Baccalauréat local), và trường đổi tên là Lycée du
Protectorat (Trung học Bảo hộ); ban Cao đẳng tiểu học đổi là ban Trung học đệ
nhất cấp.
HỒI KÝ NGUYỄN HIẾN LÊ - CHƯƠNG 1 ĐẾN CHƯƠNG 4
Cuốn Hồi kí Nguyễn Hiến Lê, bản của nhà Văn hoá in năm 1993 gồm:
- Lời nhà xuất bản.
- Vài nét về học giả Nguyễn Hiến Lê của Nguyễn Q. Thắng (Tôi tạm lược bỏ bài này).
- Lời nói đầu của tác giả.
- 33 chương (Nhà xuất bản tạm lược bỏ lại 6 chương XXI, XXII, XXIV, XXX, XXXI và XXXII), chia làm 6 phần.
- 3 phụ lục.
Trong khi gõ cuốn Hồi kí này, khi gặp những chỗ ngờ sai, tôi thường đối chiếu với cuốn Đời viết văn của tôi (Nxb Văn hoá – Thông tin, năm 2006, về sau gọi tắt là ĐVVCT), nếu sai tôi sẽ châm chước sửa lại mà phần lớn không chú thích để khỏi rườm. Ví dụ đoạn sau đây: “Trong bộ Đại cương Văn học sử Trung Quốc, chỉ có một số ít bài do tôi dịch, mà toàn là những bài dễ, còn hầu hết đều do một ông bác tôi dịch cho và kí tên là Vô danh. Như thơ cổ phong loại “từ” một thể thơ và loại thơ mới của Trung Hoa thì tôi có thể dịch được vì không bị trói buộc vào niêm luật” (tr.403). Câu cuối của đoạn trên, trong ĐVVCT in là: “Nhưng thơ cổ phong loại “từ” (một thể thơ) và loại thơ mới của Trung Hoa thì tôi có thể dịch được vì không bị trói buộc vào niêm luật” (tr.168), nên tôi châm chước sửa lại câu cuối đó thành: “Như thơ cổ phong loại “từ” (một thể thơ) và loại thơ mới của Trung Hoa thì tôi có thể dịch được vì không bị trói buộc vào niêm luật”.
HOÀNG HOA THÁM: HÙM THIÊNG YÊN THẾ
Trong trên dưới 80
năm thực dân Pháp đô hộ nước ta đã bùng lên rất nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân
oanh liệt chống lại giặc ngoại xâm. Trong số này không thể không nhắc tới cuộc
khởi nghĩa Yên Thế kéo dài tới gần 30 năm dưới sự lãnh đạo tài tình và quả cảm
của Hoàng Hoa Thám, tức Đề Thám.
Khi cuộc khởi nghĩa
này bị coi là thất bại vào đầu năm 1913, nhà chí sĩ Phan Bội Châu trong bài
viết về Hoàng Hoa Thám đã buông những lời cảm khái: “Than ôi! Tội ác của kẻ thù
ngút trời, thế lực của kẻ thù gấp hàng trăm lần, thế mà ông Hoàng một mình đã
chống chọi được với chúng gần ba chục năm trời. Ông đã tập hợp và rèn luyện
những con người tầm thường thành một đội ngũ mạnh mẽ và ông đường đường là một
vị tướng quân tiếng tăm lừng lẫy. Ông thực xứng đáng là chân quốc nhân, xứng
đáng là chân tướng quân!”.
Thứ Bảy, 16 tháng 3, 2013
HUỲNH NGOC CHÊNH TRÒ CHUYỆN VỚI RFA
Nguyễn Khanh (RFA) - Ông Huỳnh Ngọc Chênh có buổi trò chuyện với RFA sau khi nhận giải Netizen 2013
Báo”Lề Dân” và báo “ Lề đảng”
Nguyễn Khanh: Thay mặt cho quý khán giả của đài Á Châu Tự Do một lần nữa xin chúc mừng anh Chênh và mừng gặp lại anh bạn của chúng tôi.Trong bài phát biểu của anh, anh có nói đến chuyện báo “Lề Dân” và báo “Lề đảng”, báo nào đang mạnh, thưa anh?
Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2013
GÓP Ý DỰ THẢO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992: MỘT TRÒ MÈO BỈ ỔI CỦA CỘNG SẢN VIỆT NAM
Nguyễn Thu Trâm, 8406
Làm trò mèo vốn là thói thường của chế độ cộng sản bởi Chủ Nghĩa
Xã Hội và Chủ Nghĩa Cộng Sản thực ra không hề tồn tại trong xã hội loài người,
mà chỉ là một sản phẩm của chứng hoang tưởng do một số triết gia bệnh hoạn về
tâm thần như Karl Marx, Engels và Lenin tưởng tượng ra. Bởi đồng thanh tương ứng,
đồng khí tương cầu mà những kẻ bệnh hoạn đó đã gặp nhau về phương diện tư tưởng,
và đã mang lại một mối hiểm họa khó lường cho nhân loại. Và, ở Việt Nam cũng có
một số kẻ đồng bệnh tương lân với các nhà tư tưởng tâm thần đó, nên cũng đã
mang họa hại khôn lường cho đất nước và dân tộc Việt Nam.
MỆNH LỆNH TỪ TRÁI TIM
![]() |
| Bác Sỹ NGUYỄN QUÝ KHOÁNG |
BS Nguyễn Quý Khoáng
Tâm sự của một trí thức Việt Nam trước hiện tình đất nước
Trước tình hình đất nước ngày càng xuống dốc về xã hội, văn hoá,
kinh tế, chính trị… nhất là tương lai Đất nước rất đen tối trước hoạ xâm lăng của
Trung Quốc, là người trí thức Việt Nam, tôi tự thấy lương tâm bị cắn rứt khi cứ
im lặng chấp nhận những điều chướng tai gai mắt diễn ra hàng ngày cũng như nghe
những lời than vãn của đồng bào mình.
Mục sư Martin Luther King có nói:
– “Kẻ nào chấp nhận cái ác mà không phản đối chắc chắn là tiếp tay cho cái ác lộng hành” (He who accepts evil without protesting against it is really cooperating with it); và:
CHUYỆN SÚC VẬT VÀ CHUYỆN KIỂM DUYỆT

Quyển truyện nổi tiếng của George Orwell, Trại Súc Vật, chống và
châm biếm chế độ độc tài kiểu cộng sản, được xuất bản ở VN, rồi có tin nó bị
thu hồi. Thực hư ra sao? Cây kéo khắc nghiệt của nền kiểm duyệt cộng sản họat động
ra sao?
Sợ cái “Xã Hội Chủ Nghĩa” từ những năm 40
Quyển sách truyện nổi tiếng của văn hào Anh George Orwell, Trại
súc vật (Animal Farm) vừa được xuất bản tại Việt Nam.
Thứ Năm, 14 tháng 3, 2013
GIẢI PHÓNG: NỖI KINH HOÀNG CỦA NGƯỜI DÂN NAM VIỆT
![]() |
| Tiến Sỹ Lê Hiển Dương |
Ngày nay hầu như nhân loại trên khắp hoàn cầu đều lấy năm Chúa Kitô giáng sinh làm mốc định thời gian, chúng ta đang ở vào năm 2010, tức là 2010 năm kể từ ngày Chúa giáng thế. Nhiều sự kiện khoa học hay lịch sử cũng được xác định dựa trên mốc thời gian này cho dù những dữ kiện đó hoàn toàn không liên quan gì đến niềm tin tôn giáo hay tín ngưỡng. Chẵng hạn nhà toán học Pythagore sinh năm 580 và mất năm 500 trước Công Nguyên, Tề Hoàn Công trị vì từ năm 685 đến năm 643 trước Công Nguyên… Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng xảy ra năm 42 sau Công Nguyên… Các văn bản bằng tiếng Anh thì dùng BC (before Christ) hoặc AD (Anno domini) để chỉ những sự kiện xảy ra trước hoặc sau Thiên Chúa giáng thế. Riêng người Việt nam chúng ta từ trong Nam ngoài chí Bắc từ sau 30 tháng tư năm 1975 lại có một mốc định thời gian mới: “hồi trước giải phóng” hay “hồi sau giải phóng”, tất nhiên người Việt mình nghe mãi rồi quen tai và không thấy gì phản cảm khi dùng hoặc nghe cụm từ này… Nhưng khi tôi vô tình dùng nó lúc nói chuyện với một đồng nghiệp người nước ngoài rằng “…after the liberation of the south…” thì ông ta sững sốt hỏi ngay rằng “… liberation from what?…” – Giải phóng khỏi cái gì? Thì tôi mới hốt hoảng với cách dùng cụm từ này để định mốc thời gian của người Việt… bởi đối với hầu hết người Việt, nhất là người miền Nam hoặc đối với cả đồng bào miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 nữa, thì “giải phóng” là một nỗi ám ảnh trong cả đời người…
Thứ Tư, 6 tháng 3, 2013
CÁI KHỐC HẠI CỦA ĐỘC ĐẢNG

Khi tôi gửi những bài viết đầu tiên cho Ban biên tập Cùng Viết Hiến Pháp, tôi có nhắn gửi rằng, tôi hiểu việc ký tên vào bản Dự thảo Hiến pháp của nhóm 72 trí thức, cũng như việc tham gia trang Cùng Viết Hiến pháp, không đơn thuần chỉ là để có một bản Hiến pháp tốt, mà cái quan trọng hơn là để thức tỉnh người dân về quyền và trách nhiệm công dân của mình.
Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2013
TÔI PHẢI SỐNG - PHẦN 5 VÀ 6
TÔI PHẢI SỐNG - PHẦN 5
Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
Vị Giám Mục Phó
Chúng tôi đi xuống trở lại ngang nhà ăn và qua dãy nhà kế bên để tới phòng Giám mục Nguyễn Văn Sang nằm ngay ở đầu nhà. Tôi cũng chỉ nghe nói tới Giám mục Nguyễn Văn Sang, nhưng chưa gặp bao giờ. Lúc còn trong tù tôi nghe Linh mục Lê Đức Triệu, tức nhạc sĩ Hoài Đức, cũng là người gốc Giáo phận Hà Nội kể chuyện. Năm 1954, Linh mục Nguyễn Văn Sang đã di cư vào Nam rồi, nhưng sau đó lại trở lộn ra Bắc, không hiểu vì lý do gì.
TÔI PHẢI SỐNG - PHẦN 7 VÀ 8
TÔI PHẢI SỐNG - PHẦN 7
Bút Ký của Lm Nguyễn Hữu Lễ
Bút Ký của Lm Nguyễn Hữu Lễ
PHẦN HAI: Chiếc
Lá Giữa Dòng
"Đêm Tân Hôn” Giữa
Tây Nguyên
Tôi còn nhớ buổi xế
trưa hôm ấy, vào một ngày cuối tháng 5 năm 1976, tôi có mặt trên chiếc xe khách
chở nhóm hơn 30 tù nhân từ huyện Đức Lập, nơi tôi bị bắt ngày hôm trước, chạy
lên thị xã Ban Mê Thuột. Tôi bị khóa tay dính với một người bạn tù khác bằng chiếc
còng số 8. Ngồi nhìn cảnh vật hai bên đường chạy ngược chiều với chiếc xe đang
ngon trớn phóng nhanh, lòng tôi ngổn ngang trăm mối và đủ điều lo toan, nhưng
chẳng nghĩ được chuyện gì đến nơi đến chốn. Bất giác, tôi quay sang anh bạn
chung còng với tôi, như tìm sự an ủi nơi một người đồng cảnh ngộ.
TÔI PHẢI SỐNG - PHẦN 9 VÀ 10
TÔI PHẢI SỐNG - PHẦN 9
Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
PHẦN HAI: Chiếc
Lá Giữa Dòng
Cơn sốt thời cuộc
Trong đêm khuya thanh vắng,
tôi trằn trọc không ngủ được và nằm ôn lại những biến động của cuộc đời như
đang xem cuốn phim quay chậm. Từ ngày miền Nam rơi vào tay cộng-sản, mặc dù mới
một năm qua thôi, nhưng đời tôi đã trải qua một bước ngoặt quá lớn. Kể từ cái
ngày 30 tháng Tư đen tối đó, tôi cảm thấy mình đã sống trong một thứ nhà tù lớn,
có tên là “Nhà Tù Việt Nam”, để rồi hôm nay lại rơi vào một nhà tù nhỏ tại một
tỉnh lẻ Cao Nguyên.
TÔI PHẢI SỐNG PHẦN 11 VÀ 12
TÔI PHẢI SỐNG (11)
Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
Vùng bóng đen
Lúc bấy giờ vì thời cuộc đổi thay và cuộc sống có nhiều áp lực từ mọi phía nên tôi rất buồn phiền. Trong vai trờ một cha sở, một mặt tôi lo chỉnh đốn lại đời sống của họ đạo sau bao nhiêu năm chiến tranh tàn phá, mặt khác tôi phải thường xuyên đương đầu với những vấn đề do một chính quyền vô thần gây nên. Tôi cố sống nhẫn nhục chờ cho cơn sốt thời cuộc qua đi và tôi có thể sống yên thân để phục vụ giáo dân vùng này được bền lâu. Ngoài các việc bổn phận trong họ đạo, lúc rảnh rỗi tôi tìm cách giải sầu bằng hai việc, câu cá và học đàn Vọng Cổ.
TÔI PHẢI SỐNG - PHẦN 13 VÀ 14
TÔI PHẢI SỐNG (13)
Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
Vùng kỷ niệm
Khi ngồi trên xe gắn máy trên con đường từ họ đạo La Mã lên tỉnh Bến Tre trong ánh nắng ban mai, lòng tôi buồn vô hạn và tự hỏi không biết có còn có dịp trở lại con đường này nữa hay không. Mặc dù trước kia vùng này xa lạ đối với tôi nhưng trong gần một năm qua kể từ khi về làm cha sở họ La Mã , tôi đã đi lại nhiều lần trên con đường đá sỏi loang lổ này để về thăm quê hay ghé qua thăm Thạnh. Khi còn cách tỉnh chừng 6 cây số tôi phải đưa xe xuống chiếc xuồng máy chở qua sông Chặt Sậy là một nhánh sông khá lớn nước chảy mạnh như thác vì chỗ này gần sông cái.
TÔI PHẢI SỐNG - PHẦN 15 VÀ 16
TÔI PHẢI SỐNG (15)
Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
Tỉnh Cơn Mê
Đứng nhìn trời, nhìn nước một lúc, tôi cảm thấy đỡ căng thẳng, mùi nước sông và làn gió nhẹ mang theo hơi nước lạnh làm tôi cảm thấy dễ chịu. Tôi ngửa mặt lên trời, hít một hơi dài cho làn khí trong lành ngập tràn hai buồng phổi, và lui lại lần theo cầu thang leo lên từng trên và ngồi nơi một ghế ngay cạnh đó, định bụng là để chốc nữa xuống cho dễ. Lúc đó tôi tự nhủ: “Phải bình tĩnh trước những biến động, rồi cái gì cũng sẽ qua đi, nhưng phải có thời gian cho mỗi việc”.
TÔI PHẢI SỐNG - PHẦN 17 VÀ 18
TÔI PHẢI SỐNG (17)
Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
Tình cảnh gia đình
Sau khi qua bắc Mỹ Thuận, nhìn đồng hồ hãy còn sớm nên tôi ghé vào nhà người bạn ở Vĩnh Long. Một phần để thăm gia đình người bạn, hơn nữa tôi cũng có việc khá quan trọng cần gặp anh để bàn qua. Lâu ngày bạn bè mới có dịp gặp lại nên ngồi chuyện trò khá lâu và gia đình người bạn mời tôi ở nán lại dùng cơm. Từ Vĩnh Long về nhà tôi chỉ còn hơn 30 cây số. Cơm nước xong tôi từ giã gia đình người bạn, chạy Honda theo tỉnh lộ về hướng Trà Vinh. Gia đình tôi nằm ở một làng quê tên là Hiếu Phụng trên con lộ này.
TÔI PHẢI SỐNG - PHẦN 19 VÀ 20

TÔI PHẢI SỐNG (19)
Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
Ơn sinh thành dưỡng dục
Trong những năm đầu đời này chỉ có hai nơi mà tôi còn nhớ được nhiều kỷ niệm. Đó là trong gia đình tôi và ngôi Nhà Thờ. Với các anh trai, tôi không nhớ được kỷ niệm nào, nhưng riêng chị Hai là người để lại trong tôi nhiều tình thương và kỷ niệm nhất. Cha tôi là người nghiêm nghị, rất đạo đức và có cuộc sống gương mẫu cho anh chị em chúng tôi. Má tôi ốm yếu và nghe nói là bị trận đau gần chết sau khi sanh tôi. Nghe như vậy tôi càng thương má nhiều hơn.TÔI PHẢI SỐNG - PHẦN 21 VÀ 22
TÔI PHẢI SỐNG (21)
Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
Sợ trường học
Hàng ngày tôi vẫn phải cắp sách lần theo cầu khỉ trước nhà qua bên kia sông đi học, trong khi có mấy đứa bạn cùng tuổi lại không đi học, được tự do chạy nhảy, rượt chuột, bắt chim, lưới cá trong cánh đồng ruộng sau nhà. Mấy đứa bạn này gia đình nghèo phải ở nhà làm ruộng giúp gia đình. Có mấy đứa bằng tuổi tôi đi ở đợ chăn trâu cho những gia đình khá giả trong làng. Tôi phải cặm cụi trên những hàng chữ, những con số, những bài học thuộc lòng trong sách Giáo lý dài dằng dặc mà tôi cũng chẳng biết học để rồi làm gì?
TÔI PHẢI SỐNG - PHẦN 23 VÀ 24
TÔI PHẢI SỐNG PHẦN 23
Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
Thảm cảnh gia đình
Ông Tám là em của Bà Nội tôi. Ông có nhiều người con, và người cuối cùng là Chú út Hữu mà tôi đã nói tới. Câu chuyện này liên quan tới người con thứ tư và thứ sáu mà tôi gọi bằng Cô Tư và Chú Sáu. Cô Tư có chồng và 3 con, đứa con gái nhỏ nhất tên Huệ, bằng tuổi tôi. Khi tản cư xuống Cầu Đá thì Chú Sáu tôi đi lính cho Pháp. Còn Dượng Tư, chồng của Cô Tư ít khi thấy có mặt ở nhà. Lúc đó tôi còn nhỏ quá nên cũng chẳng biết là Dượng Tư tôi ở đâu và làm gì. Một ngày kia Chú Sáu đi trong toán tuần phòng và một người Việt Minh bị sa vào ổ phục kích.
TÔI PHẢI SỐNG - PHẦN 25 VÀ 26
TÔI PHẢI SỐNG - PHẦN 25Phần Một: CUỘC ĐỜI VÀ BÓNG ĐEN
Tuổi trẻ
ngô nghê
Những năm
đó tầm mắt tôi có dịp mở rộng hơn nhờ những lần tôi được chị Hai cho theo đi chợ
trên tỉnh Vĩnh Long, cách nhà 33 cây số. Những lần được đi tỉnh này đối với tôi
rất đáng ghi nhớ vì đó là dịp mở mắt để được biết cuộc sống ở tỉnh như thế nào.
Thường là mỗi năm một lần chị tôi đi chợ tỉnh trong dịp mua sắm Tết, chị dẫn
tôi theo chỉ với nhiệm vụ đứng tại chỗ coi chừng cái cần xé đựng các thứ đã mua
để chị còn đi mua tiếp theo.
TÔI PHẢI SỐNG - PHẦN 27 VÀ 28
TÔI PHẢI
SỐNG - PHẦN 27
Bút
Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
Phần
Một: CUỘC ĐỜI VÀ BÓNG ĐEN
Cảnh chợ
chiều
Từ sau biến
cố đó không bao giờ cha Tỏ bước chân xuống trường chúng tôi nữa, mặc dù ngài vẫn
là hiệu trưởng ký tên trong giấy tờ nhà trường. Mấy tháng sau, Thầy Quý từ giã
chúng tôi ra đi và trở về Sài Gòn, mặc dù thầy không nói nhưng tôi hiểu được lý
do sự ra đi của thầy. Lòng tôi buồn vô hạn khi phải chia tay với con người có mặt
từ đầu và có công rất nhiều với ngôi trường Minh Đức. Ngoài ra thầy Quý còn là
bõ đỏ đầu của tôi, thầy rất thương tôi và để lại trong lòng tôi một kỷ niệm nhớ
đời, đó là việc thầy dẫn tôi đi Sài Gòn lần đầu tiên.
TÔI PHẢI SỐNG - PHẦN 29 VÀ 30
TÔI PHẢI SỐNG - PHẦN 29
Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
PHẦN HAI: Chiếc
Lá Giữa Dòng
"Đêm
Tân Hôn” Giữa Tây Nguyên
Tôi còn
nhớ buổi xế trưa hôm ấy, vào một ngày cuối tháng 5 năm 1976, tôi có mặt trên
chiếc xe khách chở nhóm hơn 30 tù nhân từ huyện Đức Lập, nơi tôi bị bắt ngày
hôm trước, chạy lên thị xã Ban Mê Thuột. Tôi bị khóa tay dính với một người bạn
tù khác bằng chiếc còng số 8. Ngồi nhìn cảnh vật hai bên đường chạy ngược chiều
với chiếc xe đang ngon trớn phóng nhanh, lòng tôi ngổn ngang trăm mối và đủ điều
lo toan, nhưng chẳng nghĩ được chuyện gì đến nơi đến chốn. Bất giác, tôi quay
sang anh bạn chung còng với tôi, như tìm sự an ủi nơi một người đồng cảnh ngộ.
TÔI PHẢI SỐNG - Phần 31 và 32
TÔI PHẢI SỐNG Phần 31
Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
PHẦN HAI: Chiếc Lá Giữa Dòng
Cơn sốt thời cuộc
Trong đêm khuya thanh vắng, tôi trằn trọc không ngủ được và nằm ôn lại những biến động của cuộc đời như đang xem cuốn phim quay chậm. Từ ngày miền Nam rơi vào tay cộng-sản, mặc dù mới một năm qua thôi, nhưng đời tôi đã trải qua một bước ngoặt quá lớn. Kể từ cái ngày 30 tháng Tư đen tối đó, tôi cảm thấy mình đã sống trong một thứ nhà tù lớn, có tên là “Nhà Tù Việt Nam”, để rồi hôm nay lại rơi vào một nhà tù nhỏ tại một tỉnh lẻ Cao Nguyên.
TÔI PHẢI SỐNG PHẦN 33 VÀ 34
TÔI PHẢI SỐNG 33
Bút Ký của
Lm. Nguyễn Hữu Lễ
Tung hỏa
mù
Tù nhân
trong trại Gia Ray bắt đầu xôn xao, bàn ra tán vào về nguồn tin đó. Các “nhà
bình luận thời cuộc” lại có dịp bày tỏ sự hiểu biết của mình về lý do tại sao
phải chuyển trại. Tại sao lại đưa về Đồng Tháp mà không thể đưa đi nơi khác? Và
ở đó sẽ ra sao? Sau khi bàn đi tán lại đủ điều, họ đưa ra câu kết luận là:“Rất
tốt!”
Lúc mới vừa
bị dồn lên trong trại này, chúng tôi ai cũng lo ngại sẽ bị đưa ra Bắc. Hai tiếng
“ra Bắc” là hai tiếng cấm kỵ. Trong tù ai cũng sợ, cũng kiêng, không ai dám nhắc
tới nó. Hai tiếng “ra Bắc” đồng nghĩa với ba tiếng “đến tử địa” nên không ai
dám nghĩ là mình sẽ rơi vào trường hợp ra Bắc. Chúng tôi không muốn nhắc tới
hai tiếng đó, mặc dù lúc nào nó cũng tiềm ẩn ở một nơi nào đó trong lòng của từng
người tù chúng tôi.
TÔI PHẢI SỐNG - PHẦN 35 VÀ 36
TÔI PHẢI SỐNG PHẦN 35 Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
Đường Lên
Cổng Trời
Chiếc xe
khách cũ kỹ và ì ạch như một con trâu già dừng lại trong sân một trại tù xa lạ,
lúc ấy có lẽ đã qua nửa đêm, hoặc đã 1, 2 giờ sáng. Giờ này đêm qua, đêm Giáng
Sinh 1977, xe chúng tôi đang chạy ngang cầu Long Biên ở thủ đô Hà Nội.
TÔI PHẢI SỐNG - PHẦN 37 VÀ 38
TÔI PHẢI SỐNG PHẦN 37
Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
Cái
Giá của Tự Do
Lúc này số người
trong buồng 1 khu kiên giam đã thay đổi, không còn là số người hai tháng về trước.
Việc xáo trộn người qua lại giữa các buồng tại khu kiên giam, cũng như ở khu kỷ
luật là biện pháp của trại, đề phòng các tù nhân cấu kết nhau để tổ chức vượt
ngục. Các anh em dưới “làng” lâu lâu cũng bị đổi buồng như vậy. Việc phân tán
này không theo một quy luật thời gian nhất định nào, nhưng thường là cứ vài ba
tháng đổi buồng một lần, nhưng nếu buồng nào có dấu hiệu gì khả nghi, sẽ bị đổi
nhanh hơn. Sống chung trong buồng 1 với tôi lúc bấy giờ có những người sau đây:
TÔI PHẢI SỐNG - PHẦN 39 VÀ 40
TÔI PHẢI SỐNG PHẦN 39
Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
Chuyện
Thương Tâm
Hai anh
trật tự Bùi Đình Thi và Trương Văn Phát, mỗi người một bên nắm lấy cổ tay tôi
kéo lê về trại. Lúc đó lưng và mông tôi lết trên đường đá cục, đau đớn không chịu
được, nhưng biết làm gì hơn lúc bấy giờ? Quãng đường từ con suối cạn vào tới
sân trại khá xa, vì phải qua hết lán mộc và một dãy buồng giam nằm dọc theo con
đường sỏi đá này, rồi mới tới cổng trại. Chúng kéo tôi thẳng vào sân trại và vất
xác tôi nằm ngửa trên nền xi-măng của hội trường giữa sân trại. Nằm yên một chốc,
tôi mê đi, không còn biết gì nữa, và tôi cũng chẳng biết mê man như thế bao lâu
vì lúc đó tôi đã mất hết ý niệm về thời gian.
TÔI PHẢI SỐNG - PHẦN 41 VÀ 42
TÔI PHẢI SỐNG PHẦN 41 Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
Tầng Đầu
Địa Ngục (1)
Người ta
thường nói:“Sống lâu lên lão làng!” Tôi cũng đã có lần thuộc dạng “lão làng”
vào năm 1982, sau khi nằm liên tiếp 3 năm trong nhà kỷ luật trại tù Thanh Cẩm.
Với cái vốn thời gian đó, tự nhiên tôi trở thành “đại ca” trong khu kỷ luật lúc
bấy giờ.
TÔI PHẢI SỐNG - PHẦN 43 VÀ 44
TÔI PHẢI SỐNG PHẦN 43
Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
Tầng Đầu
Địa Ngục (3)
Luật
giang hồ
Tù hình sự
có nguyên tắc và giai cấp rất rõ ràng, gồm các vị thế như sau: anh em, người
ngoài, bề dưới, kẻ thù. Một khi đã kết nghĩa anh em là sẽ sống chết vì nhau,
cho dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Người ngoài là những người có thể ngồi chung
mâm nhưng không can thiệp vào chuyện của nhau. Bề dưới là phải tùng phục bề
trên vô điều kiện, nhưng bề trên đúng nghĩa là người biết thương bề dưới. Kẻ
thù là hạng người phải tiêu diệt bằng bất cứ giá nào và ở đâu. Trong nhóm tù
hình sự cùng về đây, chỉ có Bình Bưởi là anh em với Bình Thanh. Bình Bưởi nhỏ
con, ốm yếu và đi tù từ năm 12 tuổi nên Bình Thanh thương yêu và săn sóc cách đặc
biệt. Những anh còn lại, hoặc là người ngoài, hoặc bề dưới. Chỉ có một anh thuộc
diện kẻ thù, tôi sẽ nói sau.
TÔI PHẢI SỐNG - PHẦN 45 VÀ 46
TÔI PHẢI SỐNG PHẦN 45
Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
Ngày Trở Về (2)
Nhận ra ý Chúa
Đêm đó, trong lúc tuyệt vọng, tôi ngồi
trong màn cầu nguyện:“Lạy Chúa, xin cho con biết ý Chúa muốn gì nơi con. Con đã
tù 13 năm và chịu bao nhiêu thứ cực hình. Các anh em khác chưa ai phải chịu cảnh
khốn khổ như con, nhưng đã được về tất cả, riêng con phải tiếp tục chịu cảnh
này. Xin cho con biết ý Chúa muốn gì nơi con.” Cầu nguyện xong, tôi ngồi yên lặng,
và lúc đó tôi có cảm tưởng như nghe một tiếng nói bên tai:“Cha muốn con tiếp tục
ở đây với những tù nhân khốn khổ còn lại, để con yêu thương, an ủi, giúp đỡ và
chia xẻ đời con với họ. Và cuối cùng, cha muốn con được cùng chết với họ ở đây
trong môi trường lao lý này.”
TÔI PHẢI SỐNG - PHẦN 47 VÀ 48
TÔI PHẢI SỐNG PHẦN 47
Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
Bút Ký của Lm. Nguyễn Hữu Lễ
Cuối Chuyện
Đèn đường
vẫn hắt nhẹ những tia sáng yếu ớt vào phòng. Tiếng côn trùng rả rích gọi bạn về
khuya. Đâu đây nghe tiếng gió đưa xào xạc như nhẹ rơi những cánh lá vàng không
buồn sống. Tôi ngồi lên, bước tới bật đèn và nhìn đồng hồ trên tường, thấy đã gần
hai giờ sáng. Vì nằm lâu nhưng không ngủ được nên thấy người hơi choáng váng.
Tôi đưa hai bàn tay lên xoa mặt, đan các ngón tay vào đầu tóc rối bù vì trăn trở
mãi trên gối.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)


































