Song Lê
Người viết bài này quen biết pháo thủ Lê Châu Lộc
vì vừa là đồng nghiệp pháo thủ vừa cùng chung đơn vị với nhau trong những năm
1956, 57, và 58 tại Bình Thủy Cần Thơ, và Trảng Bàng Tây Ninh.
Anh là một Sĩ quan Pháo binh Việt Nam Cộng Hòa có
quá trình phục vụ và thăng tiến khá đặc biệt. Tốt nghiệp Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức
Khóa 5 - Vì Dân. Học Pháo Binh Tại Trường Pháo Binh Phú Lợi, tu nghiệp pháo
binh ở Châlons-sur-Marnes (Pháp) và Fort Sill (Hoa Kỳ), từng là huấn luyện viên
ở nhiều Trường Pháo Binh trong nước (Phú Lợi, Dục Mỹ) và ngoài nước (Fort Sill
USA). Đơn vị chiến đấu đầu tiên Anh phục vụ là Tiểu Đoàn 21 Pháo Binh. Rồi
Trường Đại Học Quân Sự, rồi Lữ Đoàn Liên Binh Phủ Tổng Thống. Cuối năm 1959 Anh
là Sĩ quan Tùy viên của Tổng Thống VNCH Ngô Đình Diệm cho đến ngày đảo chính
1-11-1963. Rồi Pháo Binh Quân Đoàn III và Trường Pháo Binh.
Anh xin giải ngũ sau ngày đảo chính và được giải
ngũ năm 1965. Thi tuyển vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh. Tốt nghiệp Đốc sự
khóa 13 và Cao học Hành chánh khóa 5. Nghiên cứu hậu Cao học về Quản Trị Phát
Triển tại các trường Đại học London, Oslo, Dublin. Tham quan các hệ thống Phát
triển và Phòng vệ tại Do Thái và Ấn Độ. Giảng viên Trường Quốc Gia Công Tác Xã
Hội (Saì Gòn). Cuối năm 1969 Anh tham gia Liên danh Bông Huệ của Luật sư Nguyễn
Văn Huyền, đắc cử vào Thượng Nghị Viện VNCH. Anh là Nghị sĩ cho đến 30 tháng Tư
Đen, 1975.
Khi lưu
vong ở nước ngoài, trong suốt 23 năm (1975-1998), cựu pháo thủ Lê Châu Lộc hoạt
động không ngừng ở khắp Á, Âu, Phi, Mỹ cho công việc cứu trợ những người tỵ nạn
Cộng sản. Phần quan trọng hơn gồm việc thiết kế và điều khiển các dự án chương
trình viện trợ phát triển vững bền cho các quốc gia trong khối đệ tam thế giới
khắp Á, Phi, Đông Âu và Trung Đông. Anh về hưu năm1998 tại Hoa Kỳ. Mặc dầu Anh
đang hưu trí, người ta vẫn thấy Anh xuất hiện trong các hoạt động truyền thông,
xã hội, chính trị khi cái lão và cái bệnh không “hành hạ” Anh quá mức.
Người
viết, cũng như những ai từng quen biết Anh trong Pháo binh, trong Thượng viện,
hoặc ở các lãnh vực hoạt động khác của Anh, đều tìm thấy nơi Anh một người bạn,
người cộng sự, người chỉ huy vui vẻ, từ tốn, năng động trong công việc, có tinh
thần trách nhiệm, có đạo tâm, và đáng tin cậy.
Người
viết nghĩ rằng bạn đồng đội trong quân ngũ cũng muốn nghe người bạn này hiện là
một trong số ít nhân chứng sống còn lại kể cho biết một vài việc đơn sơ về Tổng
Thống Ngô Đình Diệm. Lại nghĩ Binh chủng Pháo Binh VNCH trước kia, có một pháo
thủ như thế trong hàng ngũ, hẳn cũng là hảo sự. Vì muốn “tốt đẹp khoe ra” nên
đã hơi dài dòng một chút về Anh Lê Châu Lộc.
Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một con người lịch sử. Ông là Tổng
Thống đầu tiên của Việt Nam tự do và là vị sáng lập nền Cộng Hòa Việt Nam. Sau
chín năm cầm quyền đã bị thảm sát bởi chính kẻ đồng minh Ông tin cậy, bởi chính
hàng khanh tướng Ông tạo ra. Khi Ông nằm xuống, những người mưu giết Ông và
cộng sản thù ghét Ông đã bêu xấu Ông tàn tệ bằng những điều tiếng bịa đặt bỉ
ổi, bằng những sự thật bị bóp méo để chạy tội, để lấp liếm những ý đồ xấu xa,
những tâm địa phản phúc. Đến nay đã 45 năm qua, người đời vẫn còn nhắc tới Ông.
Vẫn còn người không ưa, vẫn còn người thương tiếc. Vẫn cỏn lời bôi bác, vẫn còn
lời bênh vực. Tuy nhiên những sự thật lịch sử liên quan tới Tổng Thống Ngô Đình
Diệm đang dần được sáng tỏ nhờ những phát hiện từ nhiều tài liệu được giải mật
từ phía Moscou, Peking, Hà Nội và Washington, từ lời tuyên bố hoặc bài viết của
những người phản tỉnh, và tiết lộ của nhiều nhân chứng đáng tin. Nhà biên khảo
Minh Võ đã công phu gom góp rất nhiều những ý kiến trái ngược đó vào một cuốn
sách đặc biệt: “Ngô Đình Diệm, lời khen tiếng chê” nhằm trình bày vàng thau
trước công luận và trả lại công đạo cho một vị Tổng Thống mà đức hạnh ngời ngời
không ai bôi đen được, và mục tiêu chính trị suốt đời chỉ là mưu cầu độc lập
toàn vẹn chủ quyền, tự lập cho đất nước, tiến bộ, tự do và nhân phẩm cho người
dân, an lạc, thịnh vượng cho đời sống.
Đại úy Lê Châu Lộc được Tổng Thống Ngô Đình Diệm chọn để làm
một vài công tác đặc biệt khoảng cuối năm 1958 và sau đó hơn một năm được chọn
làm Sĩ quan Tùy viên. Trong thời gian ở gần Tổng Thống, chắc chắn Anh thường
được nghe và thấy lời nói và sinh hoạt hằng ngày của vị lãnh đạo quốc gia nhưng
không thấy Anh viết ra hoặc kể lại. Hình như Anh không muốn dây dưa vào cuộc
đôi co về người đã khuất mà Anh rất mực kính trọng. Đã nhiều lần tôi (người
viết bài này – LVT) ngỏ ý muốn được Anh kể cho nghe những mẩu chuyện nhỏ mặt
thấy tai nghe đó mà Anh cỏn nhớ được vể Tổng Thống Diệm. Mãi gần đây Anh mới
đồng ý, vì có độ lùi thời gian và thuận lợi cho sự trả lại chân lý cho lịch sử
Việt Nam. Anh cũng muốn bầy tỏ tình nghĩa anh em với vong linh các anh hùng bỏ
mình vì chính nghĩa dân tộc và tập thể những chiến sĩ quốc gia còn ngậm hờn nơi
đất khách.
Về cận
thần - Ai là những cận thần của Tổng Thống?
Là một sĩ quan tùy viên (SQTV), Lê Châu Lộc làm việc hằng
ngày sát cạnh Tổng Thống, tiếp xúc và sinh hoạt với các vị có tên tuổi sau đây:
Bác sĩ Bùi Kiện Tín, Y sĩ riêng của Tổng Thống, Ông Bí Thư Trần Sử, Ông Chánh
Văn phòng Đặc biệt Võ Văn Hải, Ông Đổng Lý Quách Tòng Đức, Ông Phó Đổng Lý Đoàn
Thêm, Ông Tổng Thư Ký Nguyễn Thành Cung, Ông Phó Tổng Thư ký Nguyễn Văn Cẩn,
Ông Tôn Thất Thiết, Sở Nội dịch Phủ Tổng Thống (PTT). Ông Trương Bửu Điện làm
Giám Đốc Nha Báo Chí, Ông Tôn Thất Thiện, một trong 4 hay 5 người theo Thủ
Tướng Ngô Đình Diệm về nước, giữ chức vụ Tổng Giám Đốc Việt Nam Thông Tấn Xã và
cũng là thông dịch viên chính thức của Tổng Thống. Sau đó Ông Trương Bửu Khánh
tiếp giữ chức vụ Tổng Giám Đốc Việt Tấn xã. Ông Hoàng Thúc Đàm làm Giám đốc Nha
Nghi Lễ.
Bên phía
quân sự thì có Tham Mưu Trưởng Biệt Bộ Phủ Tổng Thống, trước chính biến 1960 là
Trung tá Cao Văn Viên được bổ nhiệm Tư Lệnh Lữ Đoàn thay thế Nguyễn Chánh Thi,
về sau thăng Đại tướng giữ chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng . Tiếp nối bởi Trung tá
Lê Như Hùng, chỉ huy cao cấp của Thủy Quân Lục Chiên. Sĩ quan lái phi cơ Tổng
Thống là Trung tá Phan Văn Sang, sau này thăng Chuẩn tướng Không quân. Lữ đoàn
Liên Binh Phòng Vệ Phủ Tổng Thống do Trung tá Lê Ngọc Triển, sau này thăng
Thiếu tướng, với nhiều sĩ quan xuất sắc khác như Thiếu tá Nguyễn Hữu Duệ, sau
lên Đại tá Tham Mưu trưởng, Đại úy Nguyễn Văn Của về sau thăng Đại tá Tư lệnh
Lữ đoàn IV Thiết giáp.
Dưới lầu là Văn phòng Ông Ngô Đình Nhu, Cố vấn Chính trị, phụ
tá lỗi lạc mà bạn hay thù đều nể trọng, có Trung tá Phạm Thư Đường, Đại úy
Nguyễn Ngọc Hạp, về sau thăng Trung tá. Họ đều là những sĩ quan trọng danh dự
và trách nhiệm.
Tổng
Thống có trước sau 12 Sĩ quan Tùy viên. Trong số này có 5 người về sau thăng
Tướng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nên kể các Tướng Huỳnh Văn Lạc, Hồ
Trung Hậu, Đề đốc Diệp Quan Thủy, Hồ Văn Kỳ Thoại, tất cả về sau đều là Tư lệnh
các đại đơn vị tác chiến khắp các vùng Chiến thuật. Một vị tử trận là Đại tá
Trương Hữu Đức, Thiết giáp, thăng hàm Chuẩn tướng. Số còn lại đều lên sĩ quan
cao cấp, trong số có Trung tá Nguyễn Cửu Đắc. Chỉ trừ Đại úy không quân Đỗ Thọ
rất tiếc tử nạn phi cơ khi hãy còn trẻ và Đại úy Pháo Binh Lê Châu Lộc, thương
nghị sĩ VNCH (69-75).
Tùy nhu
cầu công việc và chương trình hành động của Tổng Thống, Sĩ quan Tùy viên giữ
vai trò từ nhỏ như lo bút viết giấy tờ, đến việc quan trọng hơn như mời đón và
cập nhật sổ diện kiến từ cấp Bộ trưởng Chánh phủ, Đại biểu Vùng Chiến Thuật,
Tổng Tham Mưu Trưởng và các Tư lệnh, Tỉnh trưởng đến Giám đốc các Nha sở Trung
ương, các nhà Bác học, Giáo sư, Thân hào nhân sĩ v.v.. Một trong những vai trò
quan trọng khác thuộc lãnh vực nghi lễ, liên hệ đến việc mời đón, đưa tiễn các
khách ngoại quốc (đại sứ, tướng lãnh v.v…) . Hằng năm bàn giao công vụ đôi ba
lần cho các vị tướng lãnh được Tổng Thống chỉ định làm Sĩ Quan Tùy viên Tổng
Thống trong những dịp đại lễ, như Quốc Khánh hay công du quốc ngoại. Những ngày
như vậy lại cực hơn vì phải phò tá sát cánh từng phút đàn anh Sĩ quan tùy viên
mang sao này.
Nhìn kỹ
quanh vòng các cộng sự viên tiếp cận trong hay ngoài khuôn viên Phủ Tổng Thống,
ta thấy có đủ thành phần Trung Nam Bắc, hầu hết theo đạo Ông Bà hay đạo Phật.
Thí dụ Tiến sĩ Tôn Thất Thiện (còn sống ngoài cửu tuần) là một Phật tử thuần
thành, một rường cột của Đại học Vạn Hạnh sau này. Ông Đổng lý Quách Tòng Đức
là một trong rất ít Đốc Phủ Sứ từ trào Pháp thuộc, được nể vì và kính trọng có
phần trội hơn Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ về tài đức và liêm sỉ. Thân phụ
Ông Đổng lý là người Việt gốc Hoa, nói tiếng Việt chưa thông, chủ một tiệm bách
hóa nhỏ tại chợ Cà Mau, được Tổng Thống ghé thăm một lần.
Về đời sống hằng ngày.
Tổng
Thống có lối sống đơn giản, thanh đạm của một nhà nho Việt Nam. Giường ngủ đặt
ngay trong phòng làm việc. Phía sau ghế bành và bàn tròn dùng làm việc và ăn
uống, kê một cái giường rộng lối một mét, sạp nẹp gỗ, lót chiếu bông để ngủ. Khi
nào “thân thể bất an” mới cho trải thêm một miếng nệm bông gòn mỏng.
Ngoài giờ làm việc, Tổng Thống mặc áo dài thâm, đi dép. Lúc
làm việc mà không có tiếp khách, Tổng Thống cũng mặc áo dài đen, xem chừng như
thoải mái hơn. Bình thường mặc âu phục, áo chemise dài tay, thắt cà vạt đậm
mầu, khi có khách thì khoác áo bành tô vào. Lúc tiếp khách ngoại quốc thì chải
chuốt hơn với bộ đồ “sat kinh” trắng hay quốc phục áo dài gấm khăn đống đen. Đi
thăm viếng bên ngoài hay kinh lý toàn quốc thì mặc đồ tây mỏng, đội nón nỉ và
xách gậy, có khi mang giầy ống lội bùn.
Mỗi
ngày của Tổng Thống thường khởi sự bằng một Thánh lễ lúc trời chưa sáng, do các
linh mục tuyên úy hay bạn hữu dâng. Chấm dứt một ngày dài mệt nhọc bằng quì gối
cầu nguyện âm thầm bên giường (đôi khi cả giờ, hai cánh tay dang rộng). Cửa
đóng kín, sĩ quan tùy viên hay hầu cận cần gì lắm mới ra vào.
Sau thánh
lễ, đọc nhiều sách, tạp chí, duyệt báo (Anh, Pháp và Việt ngữ, đôi khi Hán
văn). Kế dùng lót lòng, thường là cháo trắng với dưa món, uống một tô trà nổi
bọt. Một đôi lần sĩ quan tùy viên được bảo :”Nè mi ăn coi, ngon lắm”. (Sĩ quan
tùy viên dạ dạ cám ơn, nhưng bụng thì đòi ăn hàng ngoài Thanh Thế dễ nuốt hơn
nhiều).
Sĩ quan tùy viên nhắc thay y phục theo sự cố vấn của Nha Nghi
lễ. Tiếp theo là một chuỗi công việc không ngừng tới một hai giờ trưa: thường
khởi đầu là Bác sĩ Tín thăm hỏi sức khỏe của Tổng thống, kế đến là Ông Bí thư
hay Ông Chánh Văn PhòngĐặc Biệt, các Ông trong Văn Phòng Đổng Lý, Văn Phòng
Tổng Thư Ký, Sĩ quan Tham Mưu Biệt bộ, các vị thuộc Nha Nghi lễ, Nha Báo Chí và
Việt Nam Thông Tấn xã. Chấm dứt phần này vào khoảng 9 giờ sáng. Trong vòng đầu
này, Tổng Thống chỉ thị Sĩ quan Tùy viên mời hay nhắc các vị trong Hội Đồng
Chính phủ, trong Bộ Tổng Tham Mưu, các Tư lệnh Vùng, Sư Đoàn hay Tỉnh trưởng
cần gập. Sĩ quan tùy viên cũng trình Tổng Thống các vị thẩm quyền Trung Ương
hay địa phương muốn diện kiến trình việc và nhắc Tổng Thống chương trình hội
kiến với các Đại sứ, khách ngoại quốc theo như Nha Nghi lễ đệ trình.
Ít thấy
Tổng Thống ăn trưa trước 1 giờ. Có khi ăn trễ vào lúc 3 giờ. Thường cơm trưa
thanh đạm, nhiều khi chỉ đôi ba cái bắp còn non, và tô trà Huế. Hầu cận đóng
cửa phòng lối nửa tiếng đến một giờ, rồi làm việc lại. Bưổi chiều thường dùng
để suy tư, động não chiều sâu, chiến lược, có khi một mình. Đôi khi với những
cộng sự viên xa gần được mời gọi riệng.
Không có giờ giấc ấn định cho một ngày dài làm việc. Khi có
người trong thân tộc tới thăm nhất là Đức Cha Ngô Đình Thục từ Vĩnh Long lên
hay sau này từ Huế vào, thì Tổng Thống nghỉ sớm hơn một chút, vui vẻ viếng
thăm, dùng cơm v.v.. Những lúc có các cháu chạy từ phía Ông Bà Cố Vấn sang thăm
, thì cười vui, trẻ trung hẳn lại. Cơm chiều nhiều món ăn hơn, nhưng những món
ăn quí vẫn là các món ăn Huế quen thuộc mà “ngoài nhà” gởi vào. Không uống rươu
nhưng hút thuốc Melia thì hơi nhiều.
Buổi tối tiếp tục duyệt hồ sơ một mình, đôi khi cho mời những
học giả, chuyên gia tham khảo về những vấn đề Tổng Thống lưu tâm cách riêng.
Lúc xây cất lại Dinh Độc Lập và các tỉnh quận lỵ mới trên các mật khu địch và
vùng hẻo lánh, Tổng Thống thường cho mời Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, bàn thảo về
kiến trúc và thiết kế đô thị đến quá nửa đêm. Tổng Thống trực tiếp chỉ đạo việc
thiết định phối trí phòng ốc Dinh Độc Lập với sự cố vấn của Kiến trúc sư lừng
danh thế giới này.
Đến đây phải nhắc đến Ông Ẩn, có thể gọi là “người nội trợ”
đã theo phò tá Tổng Thống từ khi làm quan. Rất trung thành, khiêm tốn, hy sinh,
kín đáo giúp Tổng Thống sinh sống hằng ngày. Dưới bếp thì có “bà bếp già” lo
nấu ăn, trang trải $50 mỗi ngày cho phần ẩm thực của Tổng Thống, Ông Ẩn, Ông Bằng
một sĩ quan hầu cận khác cũng rất trung kiên. Khi cần may mặc, Ông Ẩn hay Ông
Bằng cho mời Ông Chua, chủ tiệm may âu phục ngoài phố vào đo cắt.
Về giải trí
Phần lớn thì giờ của Tổng Thống là để làm việc. Giải trí rất
ít với những thú tao nhã quen thuộc. Đọc sách xem các tuần san Pháp, Anh, và
Việt ngữ, rất thích tập san chuyên về máy ảnh, hình ảnh như Photography. Tổng
Thống rất thích máy ảnh và kỹ thuật chụp ảnh. Ở đây phải nhắc tới Ông Hà Di,
một người Việt gốc Hoa có thể kể là nhiếp ảnh viên chính thức của Phủ Tổng
Thống. Tổng Thống cũng rất thích kiến trúc nên thích nói chuyên với Kiến trúc
sư Ngô Viết Thụ.
Một thú
giải trí khác là trồng tỉa hoa hồng. Mỗi lần lên nghỉ ở dinh số 2 Đà Lạt,
thường để cả giờ chăm sóc các hàng hoa hồng. Cỡi ngưa đi quanh đồi núi cũng là
một thú vui nữa. Sĩ quan tùy viên cỡi ngựa theo Cụ có Đại tá Thiết giáp Trương
Hữu Đức, sau tử trận tại mặt trận giải tỏa An Lộc truy thăng Chuẩn tướng và Đại
úy Pháo binh Lê Châu Lộc. Đôi chiều nhàn rảnh rỗi một chút, thì xuống thăm ngựa
dưới chuồng phía cổng Nguyễn Du. Sĩ quan tùy viên phải nhớ bỏ vội vào túi vải
cục đường để khi Tổng Thống chìa bàn tay ra phía sau ngoắc ngoắc xin đường cho
các con ngựa, thì trao ngay vào tay một hai cục đường. Các con ngựa xem chừng
biết rõ Tổng Thống, nên thân mật kê mũi vào sát mặt Tổng Thống thở mạnh, đôi
bên xem chừng thích thú lắm.
Khi đi ngang dẫy nhà nhân viên phục dịch công xa và đoàn mô
tô hộ tống, Tổng Thống không quên thăm hỏi bằng những lời thân thương gọi vợ
con của họ là “thím và các cháu”. Các bà vợ trong trại gia binh đều nhắc nhở
một cách thích thú thân tình chuyện Tổng Thống gọi các bà là “các thím”. Trung
úy Nhan, tài xế cho tất cả các cuộc xê dịch và lễ lạc rất được lòng tin cậy của
Tổng Thống, có căn nhà ở luôn tại đây.
Về Kinh lý
Tổng Thống thích thăm viếng đột ngột xã ấp, đồn bót hẻo lánh,
trại gia binh, phường xóm , chợ búa, đền chùa để tìm hiểu tình hình, gần gũi
dân chúng và binh sĩ. Có lẽ trong cả nước và cả Quân đội không có ai biết nhiều
nơi, nhiều chốn bằng Tổng Thống. Từ núi rừng Cao nguyên xuống các vùng cận sơn,
ven biển Nam Hải ra tận Cù lao Ré hay Côn đảo, vùng mật khu miền Đông xuống tận
vùng mật khu miền Tây, từ Cà Mau, Bến Tre, Hậu Nghĩa, Phước Long, Phước Thành,
Quảng Đức, Bến Giàng, A Sao, A Lưới.. Bạn có biết Măng Bút ở đâu không?. Tổng
Thống đã đáp xuống đó trong một ngày mưa âm u bằng phi cơ caribou do Trung tá
Sang lái. Phi công phải bay lượn vòng quanh hơn nửa giờ chờ có một chỗ trống
giữa đám mây đen để chui đầu đáp: thành công nhưng bánh trước máy bay chỉ còn
cách đầu phi đạo (là hố núi) lối mười thước, lún sâu xuống bùn. Cũng tại vì
Tổng Thống nhứt định phải thăm tiền đồn đó cho được. Thiếu tướng Khánh đến
trước bằng một phi cơ L19, may mắn cũng không sao, nhưng bánh lái máy bay gẫy
lìa. Tổng Thống đã xin lỗi vì tất cả mọi người trên máy bay đã ói mửa, ngoại
trừ phi hành đoàn, Tổng Thống và Sĩ quan Tùy viên vẫn như thường.
Nhắc lại chuyện đi kinh lý, Đại úy tùy viên Lê Châu Lộc có
một lời thú như sau: Những chuyến xuất hành khỏi Dinh Độc Lập gần như hằng tuần,
đa phần cuối tuần, đã nhiều lần khiến Anh phát bệnh, tự hỏi có thể phục vụ dài
lâu được không. Không lấy làm lạ một số các sĩ quan tùy viên trước đã xin trở
về đơn vị sớm vì hao mòn (burnt out). Hai lần, sau năm thứ nhất và sau năm thứ
hai, Anh Lê châu Lộc xin trở về đơn vị, hai lần bị “gội xà phòng” rất kỹ. Nhưng
vào những năm chót của Tổng Thống càng thấy tình hình khó khăn càng thương Ông
Cụ, nên chấp nhận tiếp tục gian lao gọi là noi gương chút ít.
Thật ra
không phải tất cả các chuyến kinh lý đều cực như chuyến ăn lễ Giáng Sinh ở Đầm
Dơi, ghế bố xếp căng ra trên nền ngập nước bùn lõm bõm. Những chuyến về Huế,
thăm Cố đô, thăm Bà Cụ Cố, thăm Phú Cam thật thư thả vui vẻ. Sau khi theo Tổng
Thống lên lầu ọp ẹp, vào phòng ngủ đầy mùi mốc, để gởi cái cặp, Sĩ quan tùy
viên được Cụ khuyến khích đi thăm thú Huế. Phần Cụ thì thẳng xuống nhà ngang
lợp mái tranh dầy, thăm viếng Mẹ, cơ hồ như quên hết mình là ai, quên mọi ưu tư
phiền muộn, hỏi han như người con nhỏ.
Vài mẩu chuyện khó quên.
Chuyên
người lính quì gối. Trong một chuyến kinh lý miền Trung, khi duyệt qua hàng rào
dân chúng, có hàng lính đứng trước, Tổng Thống đang bước sải nhanh tay cầm nón
vẫy chào dân chúng đang hoan nghênh Tổng Thống, bỗng dừng lại: một binh sĩ lớn
tuổi qùi gối xuống để chào Tổng Thống khi bước ngang qua. Tổng Thống lùi lại
một bước, đỡ anh lính dậy và nói lớn vào tai anh :”Làm lính không có qùi, chỉ
đứng nghiêm chào kiểu lính”. Vỗ nhẹ đầu Anh lính rồi tiếp tục đi.
Chuyện đi thăm Thầy để cám ơn. Vào đầu năm 1962, sau cuộc bầu
cử Tổng Thống nhiệm kỳ II thành công. Một hôm Tổng Thống dậy sớm chỉ thị Sĩ
quan Tùy viên Lê Châu Lộc đưa Cụ xuống Chùa để cám ơn Quí vị cao tăng tu sĩ
Phật giáo đã ủng hộ Cụ trong kỳ bầu cử vừa qua. Chỉ thị “cuộc đi thăm phải đơn
sơ, thân tình và trước giờ thành phố thức dậy đễ tránh kẹt xe tội dân chúng.”
“Mình đi một xe”. “Thưa ai lái”. “Thì mi lái, khỏi hộ tống rườm rà”. “Thưa Cụ
Không nên, phải có an ninh tối thiểu, theo qui luật điều hành ấn định”. “Cha
sao mà khó vậy-Thôi được đi lo ngay”. ”Thưa Cụ phải cho Quí Thầy hay để chuản
bị, ít ra là nửa giờ trước”. “Ừ nhớ xin các Thầy hãy tự nhiên, đừng lo ngại,
vui hơn”. Đoàn xe ngắn nhất, êm ái nhất: một xe cảnh sát Đô Thành dẫn đầu không
đèn chớp, không còi hụ. Trung úy Nhan lái xe Tổng Thống có Sĩ quan Tùy viên
ngồi bên. Và xe cận vệ đoạn hậu. Đến nơi thấy các Thầy còn đang lăng xăng sắp
hàng hai bên ngoài vào, Tổng Thống hơi ái ngại, nhưng rồi dấn bước, vẫy nón
chào hai hàng Tăng Ni. Bỗng có một tăng ni trẻ bước ra :”Kính Chào Tổng
Thống”.”À thầy về rồi à”. “Dạ, mới mấy hôm nay, chưa kịp vào cám ơn Tổng
Thống”. “Không sao, tôi biết học hành xong hết rồi mà,. Khi tiện nhờ Ông Sĩ
quan đây đưa vào thăm tôi”. Sau đó mới biết tu sĩ này là Đại Đức Thích Quảng
Liên, được Tổng Thống gởi đi học ở Michigan State University Hoa Kỳ, thành đạt,
sau mở Trung Học Bồ Đề ở Cầu Ông Lãnh.
Sau khi
Tổng Thống dùng xong trà với các Thầy và bầy tỏ lòng cảm ơn đối với các Thầy và
Phật tử, một vị Thượng Tọa bỗng đứng lên thưa lớn ”Kính thưa Tổng Thống, anh em
chúng tôi có một chuyện buồn Tổng Thống”. Sửng sốt, Tổng Thống nói :”Cám ơn
Thầy nói thẳng, xin cho tôi biết chuyện chi”. “Kính thưa Tổng Thống, anh em
chúng tôi vừa được tin bên Colombo cho hay Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa có gởi
tặng Đức Đạt Lại Lạt Ma một số tiền lớn là 10000 mỹ kim. Sao Tổng Thống không
cho anh em chúng tôi biết để chia vui?”. Hơi bối rối một chút, Tổng Thống ngẩng
đầu lên nói :”Dạ, tôi nghĩ đó chỉ là bổn phận mình phải làm, không nên nói ra.
Đức Đạt Lại Lạt Ma vừa rời Tây Tạng lưu vong, bôn ba cực khổ ở Nepal và miền
Bắc Ấn Độ. Tôi được tin rất thương xót, nên sẵn có số tiền vừa nhận được của
Viện Magsaysay thưởng cho một vị lãnh đạo xuất sắc trong năm của miền Á Châu Tụ
Do, tôi vội vã gởi Ngài để chi dùng khi gặp nạn. Bổn phận thôi. Vả chăng Ngài
là đấng lãnh đạo tinh thần sáng chói ớ Á Châu, chỉ có sức mạnh hữu thần chống
lại độc tài vô thần, xứng đáng cho ta ngưỡng mộ noi gương và hỗ trợ”.
Chuyện
lá cờ. Hôm đó Tổng Thống đi kinh lý tỉnh Kiến Tường. Khi phi cơ đáp xuống phi
trường thì đã có đông đảo dân chúng đứng nghênh đón, dọc dài hai bên khán đài,
cạnh phi đạo. Phi cơ taxi chậm vào bãi đậu thì bỗng nhiên Tổng Thống hỏi Sĩ
quan Tùy viên ngồi xéo phía sau “Anh có thấy gì không?”. Thưa dân chúng đông và
có cờ”. “Cờ gì vậy?”. Thì ra nhìn lại mới nhận ra cờ vàng trắng của Vatican,
không có mấy cờ Việt Nam. Tổng Thống nện gậy xuống sàn phi cơ và ra lệnh trở về
:”Đây không phải là xứ Vatican, đây là xứ Việt Nam, vậy cờ Việt Nam đâu?”.
Trung tá Sang vội bước xuống cản ngăn. Sĩ quan tùy viên :”Thưa Cụ có thể đồng
bào già trẻ lớn bé đã đợi chờ Cụ từ hồi 3 giờ khuya, bây giờ Cụ bỏ về thì họ sẽ
buồn biết mấy”. Hạ hỏa tức khắc, máy bay vào chổ đậu, cửa mở, Thiếu tá Tỉnh
trưởng (tên Nhựt?) bước lên chịu lỗi và xin Cụ cho nửa giờ để thu vén lại. Nửa
giờ sau, cờ xí Việt Nam Cộng Hòa phất phới bay theo gió lộng Đồng Tháp, Tổng
Thống bước xuống đi dài theo tường dân chúng, hớn hở và vui vẻ. Cả ngày thăm
viếng, không biết mệt, chiều về hầu như quên hẳn chuyện buổi sáng.
Ngày
nọ đi qua đường Võ Tánh Phú Nhuận, Tổng Thống thấy trước một trụ sở nhỏ có treo
một lá cờ quốc gia phai mầu và rách. Bèn ra dấu cho Thiếu tá Nguyễn Đức Xích
tỉnh trưởng theo về dinh Gia Long. Tội nghiệp Thiếu tá Tỉnh Trưởng bị xát xà
bông mấy phút dài, để luôn nhớ giá trị thiêng liêng của quốc kỳ và bổn phận dậy
dân kính trọng.
Lần thứ ba, Tổng Thống đọc tuần san Pháp (nếu không lầm tờ
“Le courrier du Việt Nam” do nhà báo Lefevre chủ biên), lật trang chót có hình
Phật Đài lớn đẹp. “Anh có thấy lá cờ quốc gia nào ngoài cờ Phật Giáo không?”.
Quả thật không thấy cờ quốc gia. Tổng Thống có vẻ chua chat “Mình khuyến khích
xây Phật Đài to lớn để thế giới qua lại ngoài khơi nhận thức giá trị tâm linh
của dân tộc Việt Nam, thế mà không thấy một lá cờ quốc gia biểu tượng Việt Nam,
nước này là nước nào đây?”. Rồi lấy một miếng bristol trắng cở 10X15 Tổng Thống
viết ngay bằng bút chì mỡ đỏ chị thị như sau “….bất câu tôn giáo nào, khi treo
cờ tôn giáo phải treo cờ quốc gia, theo đúng nghị định Bộ Nội Vụ đã ban
hành…………”. “Anh trao cho Ông Đổng Lý để gởi văn thơ nhắc nhở rộng rãi”. Sau đó
không lâu xảy ra vụ cờ Phật Giáo Huế, vụ nổ ở Đài Phát Thanh và đưa đến cuộc
phản loạn của một số tướng lãnh tham tiền ngày 1 tháng 11 năm 1963 mà hậu qủa
vẫn còn dai dẳng đến nay. Anh Lê Châu Lộc nhớ mãi chỉ thị này nhờ cụm từ khá
đặc biệt “bất câu là tôn giáo nào”, cách nói hơi lạ thuở xưa, khác với cách nói
của Anh “bất kỳ là tôn giáo nào”.
***
Trên đây là những mẩu truyện thật về Tổng Thống Ngô Đình Diệm
do Pháo thủ Lê Châu Lộc, Sĩ Quan Tùy Viên của Tổng Thống kể theo những gì mắt
thấy, tai nghe. Người viết ghi lại để những ai quan tâm tìm hiểu về Tổng Thống
Diệm có tài liệu đọc thêm hoặc tùy nghi xử dụng.
Anh
Lộc
Cám ơn Anh đã chia sẻ
những điều mắt thấy tai nghe lúc Anh là Sĩ quan Tùy viên của Tổng Thống Ngô
Đình Diệm. Đọc những trang giấy này cũng đã giúp chúng tôi xét lại nhiều vấn
đề. Lúc nào Anh cũng giữ đúng tư cách của người Pháo Thủ đại diện cho binh chủng
có gần một trăm ngàn người phục vụ dưới cờ: binh chủng Pháo Binh.
Chúng tôi hãnh diện vì
Anh.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét