Thứ Ba, 16 tháng 4, 2013

KÝ SỰ TRONG TÙ CỦA ĐẠI TÁ PHẠM BÁ HOA - KỲ 1

1      2      3      4      5      6      7      8
Việt Nam 1858-1954
Năm 1858 là năm thứ 11 của Vua Tự Đức, bị thực dân Pháp dùng Hải Quân tấn công Đà Nẳng. Sau khi thiết lập được bàn đạp trên đất liền, từ đó Pháp  đánh chiếm nhiều nơi khác trên lãnh thổ Việt Nam. Năm 1867, sáu tỉnh miền Nam là Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, trở thành thuộc địa của Pháp. Lần lượt họ đánh chiếm toàn cõi Việt Nam bằng những phương thức thích hợp. Năm 1883, Việt Nam bị Pháp chia làm 3 Kỳ: Nam Kỳ, Trung Kỳ,  Bắc Kỳ, với 3 chế độ cai trị khác nhau về cách dùng chữ nhưng thực chất đều là thuộc địa. 
Tháng 9/1939, Phát xít Đức tấn công chiếm đóng Ba Lan (Poland), mở màn cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai trên vùng đất Châu Âu. Ngày 7/12/1941, Nhật Bản tấn công Hạm Đội 7 Hoa Kỳ tại quần đảo Hawaii, mở màn cuộc chiến tranh vùng Châu Á-Thái Bình Dương. Cùng lúc, Đức tuyên chuyến với Hoa Kỳ. Ngày hôm sau, Hoa Kỳ chánh thức tuyên chiến. Nhật Bản yêu cầu Pháp cho mượn lãnh thổ Việt Nam để thiết lập những căn cứ quân sự trong chiến lược đánh chiếm các quốc gia khu vực Đông Nam Á. Do yếu thế, chánh phủ Pháp chấp nhận lời yêu cầu có tính cách cưỡng bách của Nhật Bản. Ngày 9//3/1945, quân Nhật đảo chánh Pháp, chánh phủ Trần Trọng Kim ra đời với mô hình chánh phủ phương Tây.
Ngày 6/6/1944, quân đội Đồng Minh mà Hoa Kỳ là lực lượng chánh, đổ bộ lên bờ biển Normandy phản công chiếm lại nước Pháp. Từ bàn đạp đó, quân đội Đồng Minh tiến đánh quân  phát xít Đức & Ý. Với cuộc tiến quân như vũ bão, quân đội Đồng Minh nhanh chóng chiến thắng khắp nơi, và cuối cùng đánh bại quân phát xít Đức. Ông Hitler, lãnh tụ phát xít Đức, tự sát trong hầm chỉ huy dưới lòng thủ đô Đức quốc ngày 30/4/1945. Chiến tranh vùng Châu Âu chấm dứt.   
Ngày 15/8/1945, Nhật Bản đầu hàng Hoa Kỳ sau khi hai thành phố Hiroshima và Nagasaki bị bom nguyên tử, và chiến tranh vùng Châu Á-Thái Bình Dương chấm dứt từ đó.
Chánh phủ Trần Trọng Kim với các đảng chính trị khuynh hướng quốc gia, tổ chức mít tinh mừng độc lập, nhưng với bản chất gian trá xảo quyệt của cộng sản, ông Hồ Chí Minh biến cuộc mít tinh đó trở thành của đảng cộng sản tổ chức. Ông Hồ mời gọi các đảng chính trị nói trên tham gia chánh phủ liên hiệp, và uy hiếp vua Bảo Đại thoái vị. Khi đứng vững, ông Hồ đã lần lượt loại trừ các đảng chính trị quốc gia để chỉ còn lại đảng duy nhất cầm quyền là đảng cộng sản Việt Nam.
Đồng Minh cử quân đội Trung Hoa (thời Tổng Thống Tưởng Giới Thạch), cùng với quân đội Anh và Ấn Độ đến Việt Nam thi hành nhiệm vụ giải giới quân Nhật. Quân Trung Hoa phụ trách từ vĩ tuyến 16 trở lên Bắc, quân Anh với Ấn Độ phụ trách từ vĩ tuyến 16 trở xuống Nam. Quân Pháp đã theo chân cánh quân của Anh với Ấn Độ, trở lại chiếm đóng Việt Nam.
Sau những lần thương thuyết thất bại, chiến tranh giữa Việt Minh cộng sản với thực dân Pháp bắt đầu từ 19/12/1946. Việt Minh cộng sản rút vào rừng núi Bắc Việt. 
Năm 1947, khi Pháp bắt đầu sa lầy trong chiến tranh tái chiếm 3 nước Đông Dương (Việt Nam, Cam Bốt, Lào), chánh phủ Pháp tuyên bố sẳn sàng thương thuyết với các tổ chức chính trị Việt Nam. 
Ngày 09/09/1947, sau khi tiếp 24 nhà chính trị Việt Nam và sau khi thương thảo với chánh phủ Pháp, cựu Hoàng Bảo Đại tuyên bố sẳn sàng đứng ra hòa giải giữa các tổ chức chính trị quốc gia. 
Ngày 05/06/1948, trên chiến hạm Duguay Trouin của Pháp trong Vịnh Hạ Long, Quốc Trưởng Bảo Đại cùng với các nhân sĩ và tổ chức chính trị chứng kiến Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân ký Thỏa Ước với Toàn Quyền Đông Dương Bollaert. Theo đó, Pháp công nhận Việt Nam là quốc gia độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp.
Ngày 08/03/1949, tại điện Elysée, Tổng Thống Pháp Vincent Auriol với Quốc Trưởng Bảo Đại ký thỏa ước. Một lần nữa, chánh phủ Pháp công nhận quốc gia Việt Nam độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp và có quân đội riêng.
Ngàỵ 25/04/1949, cựu Hoàng Bảo Đại từ Pháp về Việt Nam.
Ngày 01/0/1949, thành lập chánh phủ quốc gia Việt Nam. Cựu Hoàng Bảo Đại giữ chức Quốc Trưởng.  
Ngày 21/01/1950, Quốc Trưởng cử ông Nguyễn Phan Long thành lập chánh phủ.
Ngày 04/02/1950, chánh phủ Hoa Kỳ công nhận chánh phủ quốc gia Việt Nam.
Ngày 15/05/1950, Quốc Hội Pháp thông qua đạo luật thành lập quân đội Việt Nam với 60.000 quân dưới tên gọi “Quân Đội Quốc Gia Việt Nam”. Dưới nét nhìn chính trị, đạo luật thể hiện chính sách thực dân Pháp sử dụng “người Việt không cộng sản cùng với Pháp đánh người Việt cộng sản” để họ giảm bớt máu xương! Tôi nghĩ, một quân đội ra đời trong bối cảnh như vậy không phải là tốt, nhưng là điều may vì nhờ đó mà Việt Nam chúng ta bắt đầu hình thành một quân đội chống lại cộng sản ngay sau khi thành lập.
Ngày 01/05/1952, Quốc Trưởng bảo Đạo ký văn kiện thành lập Bộ Tổng Tham Mưu và cử Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hinh giữ chức Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Đây là vị Tổng Tham Mưu Trưởng đầu tiên của quân đội.       
Căn cứ quan trọng bậc nhất của quân Liên Hiệp Pháp tại Điện Biên Phủ với hơn 12.000 quân trú phòng, thất thủ ngày 7/5/1954 dẫn đến Hiệp Định Đình Chiến ký ngày 20/07/1954 tại thành phố Genève, Thụy Sĩ. Theo đó, vĩ tuyến 17 trở lên Bắc là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do cộng sản cai trị, vĩ tuyến 17 trở xuống Nam là nước Việt Nam theo chế độ tự do. Biểu thị vĩ tuyến 17 trên thực tế là sông Bến Hải với cầu Hiền Lương. Lúc ấy, Quốc Trưởng Việt Nam vẫn là cựu Hoàng Bảo Đại. Trước đó hai tuần, ngày 07/07/1954, ông Ngô Đình Diệm trình diện nội các với quốc dân đồng bào và ngoại giao đoàn. Cũng theo Hiệp Định Đình Chiến, quân đội và cán bộ cộng sản từ dưới vĩ tuyến 17 chuyển ra Bắc, quân đội Pháp và quân đội Việt Nam từ trên vĩ tuyến 17 chuyển vào Nam. Cùng lúc, gần một triệu đồng bào miền Bắc không chấp nhận chế độ cộng sản, đã bằng mọi cách với biết bao gian khổ và hiểm nguy thoát chạy vào Nam xây dựng cuộc sống mới.
Kết quả cuộc “trưng cầu dân ý” ngày 23/10/1955, Quốc Trưởng Bảo Đại bị truất phế, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm trở thành Tổng Thống từ ngày 26/10/1955. Quốc Hội Lập Hiến được bầu ra để soạn thảo Hiến Pháp. Sau khi ban hành Hiến Pháp (26/10/1956) khai sinh nền đệ nhất Cộng Hòa, các cơ cấu bộ máy hành chánh từ trung ương đến địa phương được hình thành. Việt Nam theo chế độ Cộng Hòa, và trên công văn chánh phủ có tiêu đề Việt Nam Cộng Hòa.
Để chuẩn bị chống lại cuộc chiến tranh từ phía cộng sản, với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, Việt Nam đã cải tổ quân đội về tổ chức, trang bị, và huấn luyện. Từ cấp Tiểu Đoàn tổ chức thành Trung Đoàn, Sư Đoàn, và Quân Đoàn. Từ trang bị vũ khí cũ kỹ hầu hết do Pháp sản xuất, được trang bị vũ khí do Hoa Kỳ sản xuất. Từ huấn luyện chiến thuật cấp Tiểu Đoàn, nay huấn luyện tác chiến cấp Trung Đoàn, Sư Đoàn, phối hợp tác chiến với các quân chủng binh chủng. Sau cuộc cải tổ năm 1955-1956, quân đội Việt Nam có hai loại Sư Đoàn: 4 Sư Đoàn Dã Chiến 1, 2, 3, 4, và 6 Sư Đoàn Khinh Chiến 11, 12, 13, 14, 15, 16. Quân số Sư Đoàn Khinh Chiến vừa hơn 6.000 trong khi quân số Sư Đoàn Dã Chiến khoảng 10.000.
Tuyên Cáo của Việt Nam Cộng Hòa với đồng bào và thế giới, nêu rõ, do không ký vào Hiệp Định Đình Chiến Genève, nên không bị ràng buộc cuộc tổng tuyển cử dự liệu trong Hiệp Định vì đó là mưu đồ của cộng sản Việt Nam được cộng sản Nga và cộng sản Trung Hoa hỗ trợ mạnh mẽ tại hội nghị. Bằng chứng rõ rệt là cộng sản Việt Nam, trong khi tập trung mà họ gọi là “tập kết lực lượng” dưới vĩ tuyến 17 chuyển ra Bắc, đã gài lại trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa hằng chục ngàn cán bộ đảng viên. Sự kiện này đủ chứng minh lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã chuẩn bị đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa từ trước khi thật sự đình chiến.
Năm 1957, cán bộ đảng viên cộng sản do ông Hồ gài lại miền Nam, bắt đầu  gây chiến với Việt Nam Cộng Hòa sau thời gian xây dựng hạ tầng cơ sở, với những hoạt động thu thuế trong vùng xa xôi hẻo lánh, tổ chức những cuộc biểu tình gây rối trật tự xã hội, bắt giết các viên chức Xã, Ấp. Giết cả những vị lãnh đạo tôn giáo những vùng nông thôn hay rừng núi xa xôi.
Trong những năm 1958-1959, hai loại Sư Đoàn nói trên cải tổ lại thành 7 Sư Đoàn Bộ Binh, tổ chức và trang bị thống nhất: Sư Đoàn 1 Bộ Binh (trước đó là SĐ1DC), Sư Đoàn 2 Bộ Binh (trước đó là SĐ2DC), Sư Đoàn 5 Bộ Binh (trước đó là SĐ3DC), Sư Đoàn 7 Bộ Binh (trước đó là SĐ4DC), Sư Đoàn 21 Bộ Binh (kết hợp SĐKC 11+13), Sư Đoàn 22 Bộ Binh (kết hợp SĐKC 12+14), và Sư Đoàn 23 Bộ Binh (kết hợp SĐKC 15+16). 
Về sau thành lập thêm Sư Đoàn 25 Bộ Binh tại Quảng Ngãi, Sư Đoàn 9 Bộ Binh tại Qui Nhơn, Sư Đoàn 10 Bộ Binh tại Xuân Lộc, sau cùng là Sư Đoàn 3 Bộ Binh tại Quảng Trị. Riêng về Sư Đoàn 10 Bộ Binh, thời Đại Tá Đỗ Kế Giai giữ chức Tư Lệnh (năm 1966), ông đề nghị Bộ Tổng Tham Mưu đổi phiên hiệu là Sư Đoàn 18 Bộ Binh nhưng Trung Tướng Cao Văn Viên Tổng Tham Trưởng không đồng ý. Đại Tá Giai trực tiếp gặp Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng xin đổi phiên hiệu vì con số 10 là con số không hên (!), cuối cùng Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng đồng ý, và Sư Đoàn 10 thành Sư Đoàn 18 Bộ Binh từ đó.
Ngày 11/11/1960, Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn Nhẩy Dù, đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm nhưng thất bại. Đại Tá Thi và bộ tham mưu đảo chánh lấy chiếc C47 của Không Quân Việt Nam bay sang Nam Vang, thủ đô Hoàng Gia Cam Bốt xin tị nạn chính trị. 
Ngày 01/11/1963, một số vị Tướng Lãnh Việt Nam do Trung Tướng Dương Văn Minh lãnh đạo đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, khi cuộc chống đối của Phật Giáo đòi chánh phủ hủy bỏ lệnh cấm treo cờ Phật Giáo lên cao độ. Hoa Kỳ đứng sau lưng cuộc đảo chánh này ngang qua ông Conein, tình báo Hoa Kỳ có mặt trong nhóm quí vị Tướng Lãnh Việt Nam lãnh đạo đảo chánh. Sáng ngày 02/11/1963, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, bị giết chết trong chiếc Thiết Vận Xa M113, sau khi Tổng Thống yêu cầu Hội Đồng Tướng Lãnh đảo chánh đưa xe đến đón tại nhà thờ Cha Tam ở Quận 5 thủ đô Sài Gòn, đến Bộ Tổng Tham Mưu, nơi đặt bản doanh của Hội Đồng Tướng Lãnh đảo chánh. Sự kiện Tổng Thống điện thoại yêu cầu đưa xe đến đón ông, có thể hiểu là Tổng Thống chấp nhận đầu hàng, cũng có thể hiểu là Tổng Thống hành động như một Tổng Thống đương quyền. Cuộc đảo chánh thành công, Trung Tướng Dương Văn Minh trong chức vụ Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng với chức năng Quốc Trưởng.
Ngày 30/01/1964, lại một cuộc đảo chánh xảy ra do Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, Tư Lệnh Quân Đoàn 3 tại Sài Gòn, Trung Tướng Nguyễn Khánh Tư Lệnh Quân Đoàn 1 tại Đà Nẳng, và Đại Tá Cao Văn Viên Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù tại Sài Gòn thực hiện, nhưng gọi là Chỉnh Lý. Đảo chánh thành công sau khi bắt giữ 5 vị Tướng Lãnh thân cận của Trung Tướng Dương Văn Minh, và Trung Tướng Nguyễn Khánh đương nhiên giữ chức Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, cũng là Quốc Trưởng. Lúc ấy, Trung Tướng Dương Văn Minh nhận chức Cố Vấn. Trong cuộc đảo chánh này, vẫn là Hoa Kỳ đứng sau lưng ngang qua sự có mặt của một người tình báo Hoa Kỳ trong nhóm quí vị đảo chánh. Trong nét nhìn chính trị, có thể nhìn thấy quí vị Tướng Lãnh thân Mỹ gạt quí vị Tướng Lãnh thân Pháp ra khỏi chính trường Việt Nam chăng?
Một Thông Điệp của Trung Tướng Nguyễn Khánh, kêu gọi các quốc gia Đồng Minh hỗ trợ Việt Nam Cộng Hòa chống lại cuộc xâm lăng của cộng sản từ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đang ngày càng gia tăng chiến trận khắp nơi cả về mức độ lẫn cường độ. Từ năm 1965, Hoa Kỳ đổ quân vào Việt Nam cùng tác chiến chống quân cộng sản. Lần lượt quân đội của Đại Hàn Dân Quốc (South Korea), Thái Lan, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, cũng đưa quân đến hỗ trợ Việt Nam chống lại cộng sản.
 Ngày 15/07/1964, tại Vũng Tàu, Trung Tướng Nguyễn Khánh ban hành bản Hiến Chương, qui định vị đứng đầu quốc gia với chức danh Chủ  Tịch nắm nhiều quyền hành. Ông được Đại Hội Đồng Quân Lực bầu vào chức Chủ Tịch nước. Ngay sau ngày ban hành Hiến Chương mà báo chí gọi là “Hiến Chương Vũng Tàu”, những cuộc mít tinh biểu tình gần như liên tục hằng ngày, đòi Trung Tướng Khánh hủy bỏ bản Hiến Chương độc tài, đồng thời đòi ông từ chức. Trung Tướng Khánh lùi bước dưới hình thức lãnh đạo bởi một “tam đầu chế” gồm Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, Trung Tướng Nguyễn Khánh, và Trung Tướng Dương Văn Minh.  
Ngày 13/09/1964, Trung Tướng Dương Văn Đức, Tư Lệnh Quân Đoàn 4 tại Cần Thơ, lãnh đạo cuộc “Biểu Dương Lực Lượng”. Mục đích, theo lời ông là cảnh cáo Trung Tướng Nguyễn Khánh đã có hành động độc tài. Cũng có Hoa Kỳ đứng sau lưng ngang qua viên chức tình báo tại tòa đại sứ Hoa Kỳ mà Trung Tá Tạ Thành Long -Tham Mưu Phó Hành Quân/Quân Đoàn 4- tiếp xúc nhận lệnh. Sau khi viên tình báo Hoa Kỳ buộc Trung Tướng Đức rút quân, Trung Tướng Nguyễn Khánh tạm thời không cho Đại Tướng Trần Thiện Khiêm trở về Sài Gòn bởi ông nghi ngờ Đại Tướng Khiêm đứng sau lưng biến động quân sự này. Lúc ấy Đại Tướng Khiêm và gia đình lên Đà Lạt và dự trù trở về Sài Gòn trong ngày. Một tuần sau, Trung Tướng Khánh cho Đại Tướng Khiêm về Sài Gòn, nhưng buộc Đại Tướng Khiêm lưu vong từ ngày 07/10/1964. Tháng 12 cùng năm, đến lượt Trung Tướng Dương Văn Minh, cũng bị Trung Tướng Nguyễn Khánh buộc lưu vong.             
Trung Tướng Nguyễn Khánh bị cáo buộc độc tài vì ông nắm giữ hầu hết các chức vụ lãnh đạo quốc gia: (1) Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng tức Quốc Trưởng và Tổng Tư Lệnh Tối Cao. (2) Thủ Tướng. (3) Tổng Trưởng Quốc Phòng. (4) Và Tổng Tư Lệnh Quân Đội (Chức vụ này thật ra là Tổng Tham Mưu Trưởng).
Ngày Quốc Khánh 01/11/1964, Trung Tướng Khánh cử kỹ sư Phan Khắc Sửu vào chức Quốc Trưởng, giáo sư Trần Văn Hương vào chức Thủ Tướng.
Ngày 15/02/1965, Trung Tướng Khánh lại cử Bác Sĩ Phan Huy Quát giữ chức Thủ Tướng thay thế Giáo Sư Trần Văn Hương. Hành động này cho thấy ông tự xem chức Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng trên chức Quốc Trưởng.
Ngày 19/02/1965, Thiếu Tướng Lâm Văn Phát sử dụng Sư Đoàn 25 Bộ Binh lãnh đạo cuộc “Đảo Chánh” lật đổ Trung Tướng Nguyễn Khánh nhưng thất bại, vì không được sự ủng hộ của các vị Tư Lệnh Sư Đoàn, Quân Đoàn. Hội Đồng Quân Lực ra lệnh rút quân về căn cứ. Sau đó, Hội Đồng Quân Lực quyết định loại Trung Tướng Nguyễn Khánh ra khỏi Hội Đồng này và buộc ông lưu vong từ ngày 25/02/1965.
Do không đồng quan điểm về thay đổi vài chức vụ trong chánh phủ, Quốc Trưởng  từ chức, Thủ Tướng phải từ chức theo. Thủ Tướng Phan Huy Quát gởi thư yêu cầu Hội Đồng Quân Lực nhận trách nhiệm lãnh đạo quốc gia. Sau những lần hội họp và bầu cử nội bộ: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, giữ chức Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ giữ chức Thủ Tướng mà lúc ấy gọi là Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, và ngày 19/06/1965 Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia ra mắt quốc dân đồng bào cùng ngoại giao đoàn. Sau đó, ngày này được chọn là Ngày Quân Lực, và Ngày Quân Lực được tổ chức trọng thể tại thủ đô Sài Gòn vào ngày 19 tháng 06 năm 1966.
Cũng xin nói thêm. Sau cuộc Đảo Chánh ngày 30/01/1964, Trung Tướng Nguyễn Khánh nắm quyền lãnh đạo quốc gia, ông chọn ngày 30 tháng 01 làm Ngày Quân Lực, và Ngày Quân Lực 30 tháng 01 chỉ tổ chức lần duy nhất rất đơn giản trong phạm vi câu lạc bộ Bộ Tổng Tham Mưu vào ngày 30 tháng 01 năm 1965. Hơn 3 tuần sau đó, Trung Tướng Khánh lưu vong. 
Ngày 09/03/1966, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia thu hẹp, cách chức Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi trong chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn 1 kiêm Đại Biểu Chánh Phủ miền Trung. Hệ lụy sau đó là những cuộc mít tinh biểu tình chống đối chánh phủ diễn ra tại miền Trung và vài tỉnh miền Nam. Bước thứ nhất đòi phục chức cho Trung Tướng Thi. Bước thứ hai đòi Trung Tướng Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ, và Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, Tổng Trưởng Quốc Phòng, từ chức. Bước thứ ba đòi thực hiện dân chủ thông qua bầu Quốc Hội Lập Hiến để soạn thảo Hiến Pháp mới. Cuộc khủng hoảng kéo dài đến ngày 15/05/1966 kết thúc. Ủy ban Lãnh Đạo Quốc Gia tổ chức bầu Quốc Hội Lập Hiến vào tháng 09/1966. Và bản Hiến Pháp công bố ngày 01/04/1967. Những tháng còn lại của năm 1967, các cơ cấu dân cử mà Hiến Pháp qui định được thực hiện đầy đủ. Lần đầu tiên, Việt Nam có Quốc Hội lưỡng viện. Liên danh Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu với Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đắc cử Tổng Thống với Phó Tổng Thống và tuyên thệ nhận chức ngày cuối tháng 10/1967.
Ngày cuối tháng 01/1968, đêm Giao Thừa Tết Nguyên Đán Mậu Thân, quân cộng sản đồng loạt tấn công nhiều tỉnh lỵ miền Trung, đêm hôm sau tấn công các tỉnh lỵ miền Nam. Tuy bất ngờ, vì hai bên có công bố tự ý “hưu chiến trong 3 ngày Tết” để đồng bào mừng Năm Mới, nhưng quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã phản công chiếm lại tất cả các thành phố thị trấn trong thời gian ngắn nhất, chỉ riêng thành nội Huế phải trải qua 26 ngày chiến đấu mãnh liệt mới đánh bật hoàn toàn quân cộng sản. Trong trận chiến tại Huế, quân cộng sản đã vô cùng man rợ khi chúng bắt 5.327 người gồm Dân lẫn Quân và một số giáo sư giáo sĩ ngoại quốc đem giết bằng mọi cách, kể cả trói chặt và chôn sống! Mãi mấy tháng sau mới khám phá nhiều mồ chôn tập thể với hơn 2.800 bộ xương đếm được!  Các cơ quan truyền thông thế giới ghi nhận những hình ảnh bi thương của Việt Nam nói chung và người dân Huế nói riêng, với nỗi ngậm ngùi của những người từng ghi nhận những cuộc tàn sát trong các cuộc chiến tranh trên thế giới!
Cuối năm đó hội nghị tại Paris Pháp quốc bắt đầu với những bên tham gia gồm: Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, và một tổ chức có cái tên dài ngoằng là Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam do cộng sản Hà Nội thành lập cuối năm 1960 tại vùng biên giới Việt Nam-Cam Bốt, để làm bình phong cho họ. Trong khi hội nghị diễn tiến rất chậm chạp thì chiến trường trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa càng khốc liệt, và không quân chiến lược lẫn không quân chiến thuật Hoa Kỳ liên tiếp oanh tạc các cơ sở Tiếp Vận trên lãnh thổ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và dọc đường Trường Sơn, nơi mà những đoàn xe chuyển vận quân đội cùng súng đạn của quân cộng sản vào chiến trường Việt Nam Cộng Hòa.
Trận chiến “Mùa Hè năm 1972” do hằng chục Sư Đoàn quân cộng sản từ miền Bắc tràn qua vĩ tuyến 17 tấn công trực diện vào các căn cứ ở tỉnh Quảng Trị, luồn theo đường Trường Sơn trên đất Lào tấn công tỉnh Kon Tum, và từ bên trong biên giới đông bắc Cam Bốt tấn công sang tỉnh Bình Long. Tại mặt trận Quảng Trị, đại đa số đồng bào bồng bế gồng gánh theo quốc lộ 1 chạy về hướng Huế, có đến hằng ngàn người già trẻ lớn bé chết đầy đường do đạn pháo binh và hỏa tiễn của quân cộng sản bắn xối xả! Xác người ngổn ngang đến mức báo chí quốc tế gọi là “đại lộ kinh hoàng”, trong khi đoàn người chạy giặc cộng sản vẫn phải thoát chạy khỏi tầm tay cộng sản! Kết quả, cộng sản Việt Nam bị thất bại như đã thất bại trong cuộc tấn công đầu năm 1968 mà họ gọi là “tổng công kích”.
Do quyền lợi của Hoa Kỳ, nhất là sau khi Hoa Kỳ bắt tay với Trung Hoa cộng sản (năm 1972), “Hiệp Định Chấm Dứt Chiến Tranh & Tái Lập Hòa Bình Việt Nam” ký ngày 27/01/1973 tại Paris, thủ đô nước Pháp, với những lợi thế về phía cộng sản. Hoa Kỳ và Đồng Minh rút toàn bộ lực lượng ra khỏi Việt Nam, trong khi cộng sản Việt Nam vẫn được hỗ trợ mạnh mẽ từ cộng sản Nga và cộng sản Trung Hoa. 
Ngay sau khi Hiệp Định có hiệu lực, quân cộng sản mở cuộc bao vây và tấn công căn cứ Tống Lê Chân ở ranh giới tỉnh Tây Ninh với Bình Dương. Không thấy quân đội Hoa Kỳ can thiệp, cộng sản xem như được khuyến khích tham vọng của chúng. Thế là bọn chúng tung các Sư Đoàn chính qui từ miền Bắc tràn qua vĩ tuyến 17, và luồn theo đường Trường Sơn  tấn công Việt Nam Cộng Hòa khắp mọi nơi như chưa hề biết Hiệp Định Paris là gì cả.
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vừa nhanh chóng phát triển lực lượng để lấp vào khoảng trống do quân Đồng Minh rút về nước, vừa quyết liệt chống trả quân cộng sản.
Ngày 07/01/1975, toàn tỉnh Phước Long thất thủ bởi sự bao vây và tấn công của khoảng 2 Sư Đoàn quân cộng sản. Ngày 13/03/1975, tỉnh Darlac (Ban Mê Thuột) lọt vào tay quân cộng sản. Ngày 17/03/1975, theo lệnh của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú Tư Lệnh Quân Đoàn 2, rút bỏ Cao Nguyên Miền Trung để đem quân phản công lấy lại Darlac. Nhưng cuộc hành quân lui binh trên đường liên tỉnh số 7 từ Kon Tum-Plei Ku-Phú Bổn xuống Tuy Hòa bị thất bại nặng nề chưa từng thấy trong chiến tranh Việt Nam đến lúc ấy. Đoàn quân bại trận đến mức không thể phản công Ban Mê Thuột như kế hoạch. Từ thất bại kinh hoàng đó, những cuộc lui binh của các đại đơn vị và đơn vị địa phương -nói cho đúng là tháo chạy hỗn loạn- từ Quảng Trị (19/03/1975), Thừa Thiên/Huế (26/03/1975), Quảng Nam/Đà Nẳng (29/03/75), Quảng Tín, Quảng Ngãi (23/03/1975), Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa (01/04/1975), Cam Ranh, Phan Thiết (19/04/1975), đến Bình Tuy, rồi Vũng Tàu. Chỉ có Sư Đoàn 18 Bộ Binh chấp nhận đánh với khoảng 2 Sư Đoàn quân cộng sản tại Xuân Lộc (Long Khánh), cho đến khi có lệnh của Quân Đoàn 3 mới rút về căn cứ Long Bình.
Trong khi đó, tình hình chính trị tại thủ đô Sài Gòn rất rối ren. Đêm 21/04/1975, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức. Theo Hiến Pháp, Phó Tổng Thống Trần Văn Hương tuyên thệ nhậm chức. Tôi không rõ tường tận nguyên nhân nhưng rõ ràng là Đại Tướng Dương Văn Minh tạo áp lực buộc Tổng Thống Trần Văn Hương bàn giao chức Tổng Thống cho ông để ông cứu vãn tình hình. Sự bàn giao như vậy là vi phạm Hiến Pháp nên Tổng Thống Hương yêu cầu Quốc Hội lưỡng viện họp khẩn cấp để quyết định và ông thi hành theo quyết định của Quốc Hội. 
Sau khi Tổng Thống Thiệu từ chức, lần lượt những vị lãnh đạo quốc gia, lãnh đạo quân đội, đến những vị có quân có quyền cấp Sư Đoàn Quân Đoàn, gần như ào ạt bỏ chạy ra ngoại quốc để lại đằng sau một dân tộc, trong đó có một quân đội hơn một triệu quân! Có vị Tư Lệnh Sư Đoàn ngay sau khi ra lệnh cho Sư Đoàn của mình quyết tâm phòng thủ, lập tức ra cửa sau lên phi cơ bỏ chạy. Với Người Lính Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn súng trong tay, thử hỏi, còn nỗi đắng cay nào cay đắng hơn tình trạng cấp lãnh đạo bỏ chạy! Và liệu hành động đó có phải là đào ngũ không?  
Đại Tướng Dương Văn Minh ngồi vào ghế Tổng Thống chiều 28/04/1975, sáng hôm sau, 29 tháng 4, Tổng Thống chánh thức yêu cầu Hoa Kỳ rút toàn bộ nhân viên quân sự dân sự ra khỏi Việt Nam trong vòng 48 tiếng đồng hồ.  
Cuộc di tản gia đình quân nhân Việt Nam do Hoa Kỳ thực hiện từ đêm 24/04/1975 với tất cả sự âm thầm lặng lẽ, nhưng khi có lệnh của Tổng Thống đuổi Hoa Kỳ thì cuộc di tản trở nên hỗn loạn chưa từng thấy trong lịch sử Việt Nam cận đại!
Loạn thì lạc! Biết bao cảnh tượng hãi hùng kinh khiếp xảy ra ngay trước mắt!
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, lúc 10 giờ 15 (?) phút sáng, từ máy thu thanh, có tiếng thúc giục: "... ông nói đi...., nhanh lên,.... chờ gì nữa,....". Một giọng nói gần như quát: "Ông tuyên bố nhanh lên..." Và đại ý lời của Tổng Thống Dương Văn Minh như là một mệnh lệnh đối với quân đội ".... các đơn vị không được nổ súng, ở yên tại chỗ và bàn giao cho lực lượng giải phóng...". Đối với phía cộng sản, ông yêu cầu đừng nổ súng và ông hứa sẽ bàn giao chánh quyền trong vòng trật tự.
Tháng 02/2007, người bạn từ Washington DC, gởi tặng tôi trang giấy có bút tích của Đại Tướng Tổng Thống Dương Văn Minh với nét chữ vội vàng và không mạch lạc như thế này:
“Tôi, Đại Tướng Dương Văn Minh, Tổng Thống chánh quyền Sài Gòn, kêu gọi quân lực Cộng Hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố, chánh quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, giao toàn bộ chánh quyền từ trung ương đến địa phương cho chánh phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam”.
Hơn một tiếng đồng hồ sau lời tuyên bố đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh, đơn vị Thiết Giáp đầu tiên của quân cộng sản vào dinh Độc Lập. Từ giờ đó, Việt Nam Cộng Hòa chúng ta bị nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam cai trị!
Trước đó, khi cuộc chiến chưa ngừng tiếng súng, có những vị lãnh đạo cũng như những vị Tướng đầy quyền lực đã bỏ Việt Nam chạy ra ngoại quốc! Giờ đây, cuộc chiến thật sự đã tàn trong ý nghĩa thua trận, nhưng trong cảnh thua trận này, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chúng ta xuất hiện Những Vị Sĩ Quan & Tướng Lãnh Thật Sự Là Những Anh Hùng không kém những vị Anh Hùng trong lịch sử “thành mất chết theo thành”, đã can đảm tuẫn tiết khi chế độ tự do sụp đổ:
“Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Đoàn 4. (Cần Thơ)
“Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 4. Chuẩn Tướng Hưng đã được vinh danh "Anh Hùng An Lộc" trong mùa hè đỏ lửa 1972 ở chiến trường An Lộc, tỉnh Bình Long.
“Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh. (Lai Khê, Bình Dương)
“Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. (Mỹ Tho)
“Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn 2, tự tử tại nhà ở Sài Gòn vì tên tuổi Quân Đoàn 2 đã bị chôn theo những nấm mồ vô danh trên đường liên tỉnh số 7 từ giữa tháng 3 năm 1975.
Ngoài ra, còn biết bao Quân Nhân thuộc các Quân Chủng, Binh Chủng, Binh Sở, Cảnh Sát, Viên Chức Hành Chánh các ngành, đã tuẫn tiết! Đó là "Những Anh Hùng Vô Danh" xứng đáng cho chúng ta trân trọng.
Vào những ngày 30 tháng 4, tôi nghĩ, chúng ta nên dành vài chục giây đồng hồ, đứng hay ngồi ở đâu đó cũng được, cúi đầu, im lặng, để tưởng nhớ những Quân - Dân- Cán - Chánh Việt Nam Cộng Hòa, và những vị Anh Hùng đã cùng chúng ta cầm súng chống quân cộng sản xâm lược, nhưng vào giờ phút cuộc chiến bảo vệ tổ quốc kết thúc bi thảm, đã can đảm thực hiện tròn vẹn lời thề trước bàn thờ Tổ Quốc trong ngày tốt nghiệp các trường võ bị:
"... Quyết hy sinh thân mình để bảo vệ Tổ Quốc Dân Tộc ..."
Một giai đoạn lịch sử do Tổng Thống Dương Văn Minh -vị Tổng Thống có nhiệm kỳ hơn 40 tiếng đồng hồ- vừa sang trang!
Dân Tộc Việt Nam, từ nay dưới sự thống trị của cộng sản độc tài nghiệt ngã!   
Quê hương Việt Nam chúng ta,
dân tộc Việt Nam chúng ta,
sao mà bi thảm đến như vậy! 
sao mà bất hạnh đến như vậy!
Chương 2 / Trước ngày vào trại tập trung.
- hai -
******
Những ngày đầu tiên trong bước ngoặc của xã hội Miền Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng, trong tình trạng hỗn loạn! Đường phố Sài Gòn vẫn ngổn ngang các loại quân trang quân dụng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Với hình ảnh tang thương bi đát đó, hầu như mọi người dân Sài Gòn đều có nỗi sợ hãi riêng theo cách nhìn cách nghĩ của mỗi người. 
Trên đường phố, từng toán thanh niên mặc đủ thứ áo quần, tay cầm súng AK47 của cộng sản hoặc M16 lấy của quân đội chúng ta, trên cánh tay họ có đeo băng đỏ, ngồi ngông nghênh trên những chiếc xe Jeep chạy khắp phố phường, thỉnh thoảng bắn từng viên từng tràng lên khoảng không, càng làm tăng thêm nỗi sợ hãi của mọi người, vì trong thời gian hỗn loạn này có luật pháp gì đâu. Trường hợp như con trai anh Trung Tá hành chánh quân y Giang Văn Trọng trong cư xá Bắc Hải, gần góc đường Lê Văn Duyệt với Tô Hiến Thành, thuộc Quận 10, bị một phát đạn chết tại chỗ. Anh Trọng, tôi với các bạn trợ giúp mang xác con anh về chôn.
Những người cộng sản sống trà trộn và hoạt động trong lòng Sài Gòn từ lúc nào đó mà danh từ quân sự gọi là “cộng sản nằm vùng”, cộng với những toán thanh niên nói trên mà lúc ấy người dân gọi là “cộng sản 30 tháng 4”. Có nghĩa là họ làm như họ là cộng sản từ rừng sâu hay từ đồng ruộng vào Sài Gòn vậy. Thật ra họ chỉ là những kẻ lợi dụng tình trạng hỗn loạn của xã hội, để hùa với bọn cộng sản nằm vùng lẫn cộng sản từ các cánh quân vào chiếm thủ đô, rồi tranh nhau vào những căn nhà trước đây cho người ngoại quốc mướn, những nhà mà gia đình đã di tản ra ngoại quốc, các cơ sở của chánh phủ, của quân đội, của ngoại giao đoàn, để tranh đoạt tài sản bên trong. Họ tự tay khuân vác, họ dùng cả xe để chở bất cứ thứ gì họ giành được. Những hồ sơ giấy tờ họ vứt đầy đường, vì những thứ đó không phải là những thứ mà họ cần tranh đoạt.
Theo lệnh của “Ủy Ban Quân Quản”, cơ quan của cộng sản điều hành Sài Gòn-Gia Định lúc bấy giờ, cờ đỏ sao vàng và hình ông Hồ bày bán khắp đường phố. Trong tinh thần hoang mang sợ hãi, người dân Sài Gòn treo đủ thứ cờ, cờ cộng sản miền Bắc, cờ cộng sản miền Nam, người Việt gốc Hoa treo thêm cờ cộng sản Trung Hoa nữa. Người Việt gốc Hoa có lý khi làm như vậy vì Trung Hoa cộng sản là đàn anh của Việt Nam cộng sản mà.
Sáng ngày 03/05/1975, vợ chồng tôi đi chợ An Đông, nghe được mẫu đối thoại giữa người mua tạm gọi là ông A (người miền Nam), và người bán tạm gọi là bà B (người miền Bắc), như thế này:

Ông A: “Tấm hình ông Hồ bao nhiêu vậy bà?”

Bà B: “Hai chục”.

Ông A: “Mắc vậy. Miếng giấy nhỏ xíu có tấm hình lão già râu mà hai chục. Mười đồng được hông?”

Bà B: “Mười thì mười. Ông lấy đi. Tại thằng già này mà tôi bỏ làng bỏ xóm  ngoài Bắc chạy vào đây, bây giờ gặp lại thằng chả. Chán mớ đời”.

Hai ông bà này vừa liếc nhìn chung quanh, vừa mua vừa bán.
Thôi thì tối ngày đài phát thanh ra rả điều mà họ gọi là “bách chiến bách thắng”, là “cả nước tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”, là “chính sách khoan hồng nhân đạo” đối với quân nhân viên chức cán bộ của chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cũ mà họ gọi là “ngụy quân ngụy quyền”. Trong khi họ ra rả những điều nói trên thì lác đác họ đã lùng bắt một số sĩ quan, như Đại Tá Hồ Văn Hiền thuộc ngành Quân Cụ ở đường Tô Hiến Thành (Quận 10, Sài Gòn), bị bắt vào khám Chí Hòa vì trong nhà có vài người bạn đến dùng cơm. Như Đại Tá Nguyễn Văn Phiên thuộc Bộ Quốc Phòng, trên đường từ Sài Gòn về Châu Đốc thăm nhà đã bị bắt giam tại Long Xuyên. Như Thiếu Uý Triệu Văn Lễ thuộc ngành Quân Nhu, bị bắt đưa vào giam tại Vĩnh Long…v..v..
Trong những tuần lễ kế tiếp, hằng trăm quân nhân viên chức -kể cả viên chức cấp Xã- đã bị những tổ chức địa phương gọi là “Ủy Ban Quân Quản” bắt đưa ra tòa án, mà hầu hết là bị những tên “răng đen mã tấu” xử tử hình. Những buổi nhóm họp mà cộng sản gọi là những phiên tòa, không giống bất cứ phiên tòa nào tại các quốc gia văn minh trên thế giới, vì chỗ nào ngồi được là mang bàn ghế đến đó ngồi xử án, và bất cứ tên cộng sản nào cũng có thể ngồi vào chiếc ghế chánh án mà không cần kiến thức tư pháp gì cả. Những phiên tòa của năm 1975 không có gì khác những phiên tòa thời “cải cách ruộng đất” những năm 50 trên đất Bắc. Tuy không có hình thức đấu tố, nhưng cách buộc tội dẫn đến bản án tử hình, về căn bản vẫn thế. Những phiên tòa diễn ra ở hai khoảng không gian cách nhau hằng ngàn dặm, với hai thời gian cách nhau trên dưới 20 năm, nhưng man rợ thì giống nhau.
Những nạn nhân mà họ gọi là “tội nhân” không được quyền biện minh cho mình, cũng không ai được phép biện minh cho họ. Điển hình cho những nạn nhân nói trên là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Tỉnh Trưởng/Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện, một tỉnh lọt thỏm giữa ranh các tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ), Kiên Giang (Rạch Giá), Bạc Liêu, An Xuyên (Cà Mau), và Ba Xuyên (Sóc Trăng). Đại Tá Cẩn cùng lực lượng dưới quyền, đã chống trả quân cộng sản đến khi bị chúng bắt chớ không đầu hàng theo lệnh của Tổng Thống Dương Văn Minh. 
Chỉ đôi nét về cảnh tượng nói trên, cho phép chúng tôi nhận định hành động của quân cộng sản là hành động của kẻ cai trị tàn bạo, chẳng khác thời thực dân Pháp cai trị, nếu không nói là tệ hơn. “Tệ hơn” vì thực dân Pháp là kẻ ngoại xâm, trong khi quân cộng sản là kẻ nội xâm. Cả hai cùng là kẻ tàn bạo, nhưng cộng sản là kẻ tàn bạo kiểu man rợ rừng sâu trong khi thực dân Pháp là kẻ tàn bạo kiểu thị thành. Mới thoáng qua thời gian ngắn ngủi với một số trường hợp xảy ra, đã làm cho hằng triệu quân nhân viên chức Việt Nam Cộng Hòa cũ thường xuyên trong tình trạng sợ hãi. Không biết rồi đây cộng sản sẽ áp dụng biện pháp nào, nặng nhẹ ra sao, dù rằng hằng ngày trên làn sóng phát thanh trên màn ảnh phát hình của chúng tại Sài Gòn, cứ mang cái mảnh giấy “chính sách 10 điểm” mà chúng gọi là “chính sách khoan hồng nhân đạo” ra rao giảng.
Tôi nghĩ, câu nói đủ nghĩa nhất trong thời gian này là “nước mất nhà tan, người loạn lạc!”.
Thưa quí vị quí bạn, cư xá Bắc Hải, nơi có khoảng 750 gia đình sĩ quan cư trú mà hầu hết đều phục vụ tại các cơ quan đơn vị trong phạm vi Quân Trấn Sài Gòn. Trong những ngày đầu, hai cổng ra vào chưa bị đóng nên anh em chúng tôi trong và ngoài cư xá thường gặp nhau, hỏi thăm những tin tức trước mắt về nơi trình diện. Trong khi chờ đợi lệnh rõ ràng của chúng, cứ chỗ nào có thông cáo gọi trình diện là chúng tôi kéo nhau tới đó. Đến ngày 09/05/1975, thông cáo chánh thức gọi tất cả quân nhân viên chức cán bộ trình diện tại khu dự bị đại học, số 91 đường Trần Hoàng Quân (gần ngã sáu Chợ Lớn). Vợ tôi sợ lắm:
“Anh chở con gái (Tuyết Vân, 14 tuổi) theo, nếu có gì xảy ra Em còn biết tin tức của Anh mà lo liệu”.
“Anh nghĩ là tụi nó chưa bắt tụi Anh một cách ồ ạt đâu, nhưng Anh chưa ước tính được tụi nó áp dụng biện pháp trừng phạt như thế nào. Theo anh Đặng Đình Đán -Đại Tá ngành Chiến Tranh Chính Trị- cầm chắc là tụi nó bắt tụi Anh đi cải tạo. Đó mới chỉ là ước tính trước mắt thôi Em”.
Ngay sau ngày quân đội tan rã, chúng tôi ra chợ mua 2 chiếc xe đạp người lớn và 2 chiếc xe đạp nhỏ cho hai con lớn. Thường ngày chúng tôi đi chợ An Đông, trong khi vợ tôi vào chợ thì tôi mua gói khoai mì sượng (loại này ăn giòn giòn) ngồi trên yên xe dựa gốc cây mà ăn. Đúng là hình ảnh “người thất nghiệp!”
Đến địa điểm trình diện, con gái tôi đứng cạnh gốc cây bên ngoài rào coi chừng xe. Tôi vào trong. Cái quang cảnh lúc ấy cho đến bây giờ vẫn nguyên vẹn trong trí nhớ. Rất đông sĩ quan cấp Tá, mới ngày nào quân phục thẳng nếp mà giờ đây mặc thường phục nhăn nheo, đủ màu sắc, mặt mũi vóc dáng trông mất hẳn phong độ quân nhân. Tuy vẫn trao nhau những nụ cười nhưng rõ ràng là không thể che giấu những lo âu đằng sau những nụ cười đó! Đông đảo gặp nhau tuy không hẹn, nhưng nhờ đông như vậy nên ai nấy có vẻ vững dạ hơn, dù biết rằng nó bắt là nó bắt chớ không phải đông mà chúng nó không bắt. Mỗi sĩ quan trước khi ra khỏi nơi đây, phải nộp tất cả giấy tờ tùy thân quân sự lẫn dân sự, rồi nhận lại tờ giấy bé xíu có dòng chữ “Giấy Chứng Nhận Trình Diện”. Giấy trình diện của tôi số 116/13/AN, có chữ ký của tên Cao Đăng Chiếm, Ban An Ninh Nội Chính/Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn Gia Định. 
Bị thẩm vấn tại Sài Gòn.
Lần thứ nhất.
Vài ngày sau đó, một người mặc quân phục cộng sản có vẻ là sĩ quan, dừng xe Vespa trước nhà tôi: “Tôi muốn gặp Phạm Bá Hoa”.

“Tôi đây. Xin lỗi, anh là ai?” Tôi vừa đáp vừa hỏi.

Anh ta không trả lời, mà nói:

“Tôi đến đưa anh thư mời. Thủ trưởng của tôi mời anh đến cơ quan ở số 26 đường Lê Văn Hưu, để trao đổi một số vấn đề công tác của anh trong quân ngụy”.

Nghe giọng anh ta nhấn mạnh âm thanh “quân ngụy” tôi cảm thấy nóng mặt. Nhìn hắn một lúc, tôi hỏi: “Đường Lê Văn Hưu ở đâu?”

“Là con đường nhỏ, ngắn, gần Sở Thú. Anh biết Sở Thú không?”

“Biết”.

Không biết anh ta thấy gì trong câu  trả lời cộc lốc của tôi, anh ta nói:

“Cơ quan chúng tôi chỉ mời anh đến trao đổi công tác chứ không gì đâu”.

“Anh thấy tôi thế nào mà anh cho là tôi sợ?”

“Không. Tôi nghĩ thế thôi”.

“Anh không phải nghĩ gì cả. Tôi đang đứng trước mặt anh có nghĩa là tôi chẳng sợ gì cả, với lại có sợ cũng chẳng giải quyết được gì”.

Lúc ấy, vợ tôi từ trên lầu xuống, anh ta đon đả:

“Chị an tâm. Chúng tôi chỉ mời anh đến làm việc một lúc vào sáng mai thôi. Không việc gì đâu chị”. 

Anh ta có vẻ tâm lý chớ lúc đó vợ tôi chẳng có vẻ gì lo âu, nhưng khi anh ta đi rồi thì vợ tôi lo thật sự:

“Mai Anh nên cho con Trung (16 tuổi) theo Anh nghe?”

 “Nếu tụi nó có làm gì Anh thì Em cũng chẳng kêu ca với ai được đâu, trong khi nó thấy Anh đem người theo có thể tụi nó cho rằng Anh sợ chúng nó bắt. Sợ thì sợ nhưng đừng lộ ra cho tụi nó biết Em à. Từ nay mình qui ước với nhau, nếu Anh đi đâu hết buổi mà không về thì coi như Anh bị tụi nó bắt. Em cho các bạn biết mà đề phòng. Đến lúc nào đó thì Em cũng biết tin Anh bị giam ở đâu thôi. Ngày mai, Anh sẽ đi một mình hà Em”.

“Dù sao Anh cũng không nên liều lỉnh”.

“Họ có kiêu hãnh của họ, mình cũng có kiêu hãnh của mình cho dù mình thua trận”.  
      
Ngày hôm sau. Đây là lần đầu tiên tôi đến cơ quan của cộng sản mà không một bạn đồng đội nào của tôi có mặt. Khóa xe đạp xong, vừa lúc một lính cộng sản bước đến, lớn giọng:

“Anh là ai? Đến đây làm gì?”

Tôi im lặng trong khi đưa hắn tờ giấy. Lật qua lật lại, hắn nhìn tôi:

“Anh theo tôi.”

Đây là ngôi biệt thự nhỏ, xinh xắn. Vào gian phòng bên trong. Chiếc bàn con giữa bộ ghế mới toanh, một bình trà, 4 cái tách, và gói thuốc lá đen sản xuất ngoài Bắc. Khoảng 5 phút sau, một anh chàng khá cao, mặc quân phục bộ đội cộng sản nhưng không đeo cấp bậc, bước vào, ngồi xuống. Hắn mở gói thuốc đưa về phía tôi:

“Mời anh.”

“Cám ơn. Tôi không biết hút.”

Anh ta vừa rót trà vừa hỏi:

“Có phải anh là Phạm Bá Hoa không?”  

“Phải. Tôi là Phạm Bá Hoa. Anh có bắt buộc cách xưng hô không?”

“Không. Trước hết tôi muốn biết trong gia đình anh có ai chạy ra nước ngoài không?”

“Em tôi thì có, vợ con tôi thì không.”

Hắn bắt đầu lên giọng:

“Anh chạy không được hay không muốn chạy?”

“Tôi tính sai nên không chạy được.”

Hắn nhìn thẳng vào tôi: “Nghĩa là anh có tìm cách chạy?”

“Đúng.”

Đôi mắt hắn cho tôi suy đoán hắn đang bực tôi với những câu trả lời khô khan gần như thách thức, hay ít ra cũng không kiên nễ hắn. Bỗng hắn dịu giọng cùng lúc với nét mặt trở nên nhẹ nhàng:

“Thôi được. Bây giờ tôi có một số vấn đề trao đổi với anh.”

“Trong thư mời có nói mục đích. Bây giờ tôi sẳn sàng.”

“Ông Khuyên của anh còn ở Sài Gòn không?” 

“Tôi không biết.”

Nét mặt hắn đanh lại:

“Tại sao anh không biết, ông Khuyên là Thủ Trưởng của anh mà?”

“Đúng. Trung Tướng Khuyên là cấp chỉ huy của tôi, nhưng điều đó không có nghĩa là tôi biết mọi hành động của ông ấy. Tôi chỉ biết Trung Tướng Khuyên rời văn phòng trưa ngày 29 tháng 4 (1975), sau đó tôi hoàn toàn không biết gì thêm.”

Hắn lại dịu xuống và mời tôi tách trà, nhưng hắn uống trà đắng quá nên tôi chỉ hớp một hớp là để xuống. Hắn lại hỏi:

“Tướng Viên của anh chạy hồi nào?”

“Tôi không biết.”

“Tôi có vào bàn giấy của anh. Bản tên của anh vẫn còn đó. Với cấp chức của anh như vậy tại sao anh không biết gì hết.”

Có vẻ như hắn nghĩ rằng trong chức vụ Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận là tôi phải biết nhiều việc trong Bộ Tổng Tham Mưu nên hắn có ý cho là tôi không nói sự thật. Nếu hắn nghĩ như vậy là đúng. Thấy tôi im lặng, hắn tiếp:

“Tôi muốn anh cho biết trong khu vực Bộ Tổng (Tham Mưu) của anh có hầm chứa vũ khí khí tài gì không?”

“Trước khi trả lời anh, xin anh giải thích khí tài là gì?”

“Nó có nghĩa như từ Quân Cụ của anh vậy.”
“Vậy là tôi hiểu. Trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu chúng tôi rộng lắm, với nhiều cơ quan khác nhau đồn trú trong đó. Riêng phạm vi Tổng Cục Tiếp Vận chúng tôi  không có hầm hố gì cả, còn các cơ quan khác thì tôi không biết.”

“Các anh có hầm bí mật nào trong căn cứ Long Bình?”

“Chắc anh cũng biết căn cứ Long Bình rộng hằng mấy chục lần diện tích Bộ Tổng Tham Mưu, trong đó rất nhiều đơn vị quân đội, rất nhiều cơ quan kinh tế. Tại đó, chúng tôi có Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận và một Tổng Kho. Cả hai cơ quan này không có hầm bí mật nào cả, mà chỉ có hầm nửa nổi nửa chìm để tồn trữ hàng cần nhiệt độ lạnh của máy vô tuyến thôi. Bản thân tôi cũng chưa biết hết hai khu vực của cơ quan Tiếp Vận thì những cơ quan khác làm sao tôi biết. Với lại trong tồn trữ, quân đội chúng tôi không có khái niệm về hầm bí mật chôn giấu bất cứ loại trang cụ nào cả.”

“Tôi sang vấn đề khác. Anh suy tư gì khi quân đội cách mạng chúng tôi vào giải phóng hoàn toàn miền Nam?”

Tôi cầm tách trà và nhích từng nhích một để có thời gian tập trung những điều mà tôi ước tính khi bị chúng nó hỏi đến, và câu hỏi này nằm trong ước tính đó. Tôi nhìn thẳng vào mắt hắn và chậm rãi:

“Bây giờ nói gì thì nói, chúng tôi đã thua các anh rồi, nhưng có điều tôi không hiểu là tại sao chúng tôi thua và thua các anh như trong cơn ác mộng vậy.”

Hắn có vẻ bực: “Đây chính là câu tôi hỏi anh.”

“Vậy thì anh xem như tôi vừa trả lời anh.”

“Ngắn gọn quá. Anh có thể phát biểu cụ thể được không?”

“Như anh đã biết. Các đại đơn vị của chúng tôi từ Quảng Trị, Tây Nguyên, vào đến Biên Hòa, và thậm chí cả Sài Gòn nữa, xem như rút lui trước khi các anh đến, gọi là thua cũng được. Nhưng toàn bộ lực lượng Quân Đoàn 4 vùng đồng bằng Cửu Long sẳn sàng tác chiến mà vẫn thua. Và rất có thể vì chúng tôi thua một cách khó hiểu như vậy mà quân đội chúng tôi có đến 5 vị Tướng cùng nhiều sĩ quan đã tự sát tại đơn vị. Chắc anh có nghe tin này chớ? Tôi có giả thuyết rằng, phải chăng chúng tôi thua vì vấn đề chiến lược của các nước lớn là Hoa Kỳ, Nga Sô, và Trung Cộng chăng? Xin anh hiểu rằng, câu trả lời của tôi chẳng qua là do câu tự hỏi của tôi thôi.”
Hắn nhìn ra ngoài cửa, im lặng một lúc, hắn nhìn tôi với cái vẻ tâm lý:

“Được. Bây giờ cũng đến giờ ăn trưa, anh về kẻo chị và mấy cháu trông.”

Sau khi chào nhau, hắn tiễn tôi ra  … tận gốc cây vì xe đạp của tôi khóa ở đó. Anh ta nói:

 “Có thể một đồng chí nữa của tôi sẽ mời anh sau.”

“Tôi sẳn sàng.”

Về nhà, tôi thuật lại cho cựu Đại Tá Nguyễn Thành Chí (Bộ Quốc Phòng), cựu Đại Tá Lại Đức Chuẩn (Bộ Tổng Tham Mưu), và cựu Đại Tá Phạm Văn Thường (Tổng Cục Tiếp Vận) nghe. Lúc ấy tôi mới biết cơ quan đó (chẳng biết cơ quan gì) đã mời một số các bạn cấp Đại Tá thua trận đến thẩm vấn trước tôi.

Lần thứ hai.
Mấy hôm sau, vẫn anh chàng đi xe Vespa lần trước, đến đưa thư mời và anh ta rời ngay chớ không ra cái điều kiêu hãnh như trước. Vẫn tại số 26 đường Lê Văn Hưu. Qua lần trước, vợ con tôi có vẻ an tâm phần nào nên chỉ nhắc tôi cẩn thận khi gặp họ thôi.
Vừa khóa xong chiếc xe đạp vào gốc cây, vẫn anh lính gác nhỏ nhắn quê mùa hôm trước đến cạnh tôi. Sau khi xem thư mời, anh ta đưa tôi vào phòng làm việc. Đó là gian phòng nhỏ, không phải gian phòng lần trước. Một bàn viết, một ghế bành ngay sau bàn dành cho người “thắng trận”, và hai ghế nhỏ trước bàn chắc là dành cho người “thua trận”. Ngồi một lúc, anh lính có lẽ là lính tùy phái, cho tôi biết:

“Anh sẳn sàng. Thủ trưởng tôi sắp gặp anh”.

Danh từ “thủ trưởng” của cộng sản được hiểu là cấp chỉ huy đứng đầu cơ quan hay đơn vị. Và xem chừng cái anh chàng thủ trưởng nào đó có chức vụ cao hơn cái anh chàng lần trước chăng? “Chào anh”. 

Anh chàng này có vóc dáng cao lớn, mặt mũi có phần thô kệch, vừa  bước ra lên tiếng như vậy. Trước khi ngồi vào ghế, anh ta chìa tay ra bắt tay tôi.

“Chào anh”. Tôi nhớm dậy bắt tay anh ta.

Hắn rót nước trà vào hai cái tách. Từ chiếc bình cao bên trên, dòng trà đậm tuôn vào tách tạo nên âm thanh róc rách, bỗng dưng tôi liên tưởng đến âm thanh của dòng suối Yaly trong vùng rừng núi Kon Tum, nơi mà 20 năm trước tôi phụ trách theo dõi các đơn vị của Trung Đoàn 35 Bộ Binh huấn luyện. Chẳng hiểu sao trong tình cảnh ấy mà tôi chợt có một thoáng lãng mạn như vậy nữa.

“Anh xơi nước”. Lời của hắn kéo tôi trở lại thực tế.

“Mời anh”.

Tôi hớp vài ngụm trà, đắng ơi là đắng. Tôi thầm nghĩ: “Vậy là họ uống trà thật đặc. Rất có thể họ quen dùng trà đặc để chống đỡ khí lạnh khi họ lầm lũi trong rừng núi dọc con đường sinh bắc tử nam mà họ gọi là đi “giải phóng” đó chăng?”
 Hắn bắt đầu với cái vẻ chậm rãi:
“Tuần trước tôi bận công tác nên một đồng chí của tôi tiếp anh. Tôi có biết qua những trao đổi đó. Hôm nay tôi mời anh đến đây trao đổi tiếp vài vấn đề”.

“Tôi sẳn sàng”. Tôi đáp.

“Anh có chắc là ông Tướng Khuyên của anh đã chạy sang Mỹ không?”

Hắn hơi nhấn mạnh mấy chữ cuối câu.

“Tôi chỉ biết là ông ấy rời khỏi văn phòng trưa ngày 29 tháng 4 (1975), còn sau đó tôi không biết gì thêm.”

“Có một Đại Tá của mấy anh nói với chúng tôi là ông ta  đi không được. Anh nghĩ sao?”

“Tôi biết chắc chắn là Trung Tướng Khuyên đã vào Tân Sơn Nhất để di tản bằng trực thăng, còn thật sự có đi được hay không thì tôi không thể trả lời anh được. Với lại tôi nghĩ, anh nên hỏi thêm tin tức ở anh nào đó đã nói với anh cho rõ. Phần tôi, tôi chưa biết số phận của tôi và gia đình tôi ra sao, còn lòng dạ nào nghĩ đến cấp chỉ huy cũng như những đồng đội của tôi đi được hay không đi được”.

Hắn nhìn thẳng vào mặt tôi: “Sao anh bi quan quá vậy?”

Không kém. Tôi cũng nhìn thẳng vào hắn:

“Tôi không cho là bi quan. Nhìn nhận một sự thật không phải là bi quan.”

Hắn dịu giọng với cái vẻ tình cảm: “Bây giờ mình sang vấn đề khác.” 

“Tôi sẳn sàng”.

Tôi hay dùng câu này để hắn hiểu là tôi chấp nhận đối phó với hắn.

“Cái hầm bí mật trong Bộ Tổng (Tham Mưu) của mấy anh ở chỗ nào?”

“Lần trước tôi đã trả lời rồi. Tôi xin lặp lại với anh, trong phạm vi cơ quan tôi làm việc không có hầm hố gì cả, còn trong phạm vi các cơ quan khác thì tôi không biết.”

Thật ra trong Bộ Tổng Tham Mưu có một cái hầm bí mật mà Trung Tướng Nguyễn Khánh cho Công Binh xây cất năm 1964 để các cấp lãnh đạo tránh bom trong khi vẫn chỉ huy chiến đấu trong trường hợp quân cộng sản nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sử dụng đến Không Quân. Hầm này có cầu thang xoáy ốc từ cuối phòng trước mặt của vị Tổng Tham Mưu Trưởng đi xuống. Cầu thang xuyên qua phòng họp ở tầng trệt, nhưng nếu không để ý cũng không dễ gì nhận ra tác dụng của cầu thang xoáy ốc này.

Hắn ra chiều tức tối và bắt đầu gay gắt:

“Anh có biết  quân ngụy của anh thua trận không?”

“Dĩ nhiên là tôi biết, nhưng  tôi không biết tại sao chúng tôi lại thua các anh, và vì thua trận nên giờ này tôi ngồi trước mặt anh đây.” 

“Thua trận, lại được đảng với nhà nước khoan hồng nhân đạo. Tại sao anh vẫn ngoan cố không chịu hợp tác khai báo với chúng tôi?”

“Tại các cơ quan mà tôi đã trình diện cũng như bây giờ, các anh hỏi điều gì tôi khai báo điều đó. Vậy mà anh cho là tôi ngoan cố trong khi tôi tự thấy tôi rất thành thật khi trả lời câu hỏi của anh. Tôi biết phải trả lời như thế nào anh mới cho là không ngoan cố?”

Hắn lại dịu giọng nhưng không còn chút lịch sự như lúc bắt đầu nữa:

“Tại Long Bình, các anh chôn giấu vũ khí khí tài trong hầm bí mật rất lớn. Hầm đó ở chỗ nào?”

“Anh hỏi những câu mà tôi không biết, rồi anh nói tôi ngoan cố. Tôi không biết phải trả lời anh như thế nào vì lần trước tôi đã trả lời rồi. Riêng những cơ quan Tiếp Vận của chúng tôi trong căn cứ Long Bình, không có hầm bí mật nào cả. Đơn giản vì trong tồn trữ, chúng tôi không có khái niệm về hầm bí mật như các anh.”
Im lặng một lúc, hắn lại rót trà, nhưng là rót cho hắn chớ không mời tôi nữa. Hắn nhìn ra sân, nốc một hơi hết chun trà chắc là cho hạ cơn giận, rồi quay sang tôi:
“Anh cứ ngồi đây, trong chốc lát trao đổi tiếp.”
Hắn đứng lên, bước vội vào phòng bên cạnh. Tôi nghĩ: Dường như hắn tự hưu chiến để cơn giận hạ xuống rồi “oánh” tiếp, hoặc lục lọi tài liệu gì đó để nghiên cứu thêm, hoặc cũng có thể tạo không khí im lặng khó thở để thần kinh tôi căng thẳng dễ bị hắn “oánh” chăng?
Áng chừng 10 phút sau, hắn ngồi vào ghế, giọng hắn mềm mại như lúc bắt đầu:

 “Gia đình ta có mấy người làm tay sai cho chế độ Thiệu? Và có ai theo cách mạng không?”

Chừng như hắn cho tôi là con nít không bằng, khi hắn hỏi “gia đình ta có mấy người làm tay sai cho chế độ Thiệu”, nghe mà dễ giận:

“Trừ tôi ra, không một ai trong thân quyến tôi làm việc trong chế độ của chúng tôi vừa sụp đổ, và cũng không có người nào tham gia hoạt động trong hàng ngũ các anh.”

“Gia đình anh có cơ xưởng hay nhà máy sản xuất gì?”

“Không có gì cả.”

Hắn ghìm đôi mắt vào trang giấy xếp đôi nhưng tôi không rõ có chữ nghĩa gì trong đó. Đoạn, hắn nhìn tôi:

“Anh trong sạch quá hả?”

“Không. Tôi biết  tôi chẳng trong sạch gì, vì nhiều lần tôi đã dùng xăng của quân đội đổ vào xe riêng.”

“Anh có tin vào chính sách khoan hồng nhân đạo của đảng với nhà nước đối với sĩ quan ngụy các anh không?”

“Nói thiệt với anh, cho đến lúc nào tôi còn sống bên cạnh vợ con tôi thì tôi biết là tôi chưa chết.”

Hắn xuống giọng:

“Sao anh bi quan vậy? Thời gian học tập cải tạo là cần thiết để các anh có điều kiện tiếp thu tư tưởng cách mạng.”

“Tôi nghĩ lời anh nói không đúng. Tôi không bi quan, nhưng chỉ riêng một số trường hợp mà các anh áp dụng trong cư xá chúng tôi, đã không cho chúng tôi điều gì để gọi là lạc quan cả. Với lại tôi nghĩ là tôi thực tế chớ không phải là bi quan. Nói cho cùng, anh em chúng tôi trong tay các anh, hà tất phải bi quan.”

Giọng hắn trở nên gắt gỏng:

“Anh làm tay sai trong quân đội ngụy bao lâu?”

“Hơn 20 năm, hay nói 21 năm cũng được.”

“Trong cơ quan anh có bao nhiêu Đại Tá bỏ chạy?”

“Tôi không rõ, vì mạnh ai nấy tìm đường thoát thân, và tàn cuộc chiến chưa ai liên lạc với ai nên tôi chưa biết trong số bạn tôi, ai đi ai còn.”

“Chức vụ Tướng Khuyên là gì?”

“Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu, kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận.”

“Dưới ông Khuyên là ai?”

“Đại Tá Phạm Kỳ Loan.”

“Dưới ông Loan là ai?”

“Là tôi.”

“Anh vẽ cho tôi tổ chức của anh được không?”

“Được.”
Tôi ngồi vẽ tại chỗ về tổ chức tổng quát của bộ tham mưu Tổng Cục Tiếp Vận. Tôi nghĩ, không chắc hắn cần sơ đồ này mà có thể hắn dò xem tôi có khai thật với hắn không, vì tất cả tài liệu về tổ chức lẫn hoạt động của Tổng Cục Tiếp Vận còn nguyên trong các tủ, thể nào hắn cũng có trong tay. Cho nên có giấu cũng chẳng lợi gì mà có khai cũng chẳng có gì hại. Nghĩ vậy, tôi vẽ đúng sự thật.   
Hắn xem một lúc rồi lật qua lật lại, cuối cùng hắn để sang một bên, hỏi tiếp:
“Anh có thể vẽ lại tổ chức Bộ Tổng (Tham Mưu) của mấy anh được không?”

“Không. Vì tôi không biết hết các cơ quan của Tổng Tham Mưu.”

Hắn nhìn tôi một lúc, chừng như hắn quan sát xem tôi có thành thật hay không thì phải. Hết nhìn tôi lại nhìn ra cửa, tôi tưởng là hết chuyện. Nhưng không, hắn lại hỏi:

“Tôi trở lại câu mà đồng chí của tôi đã hỏi anh hôm trước. Anh có biết tại sao các anh thua nhanh như vậy không?”

Hóa ra là hắn suy nghĩ tìm cách kéo tôi trở lại câu hỏi và có lẽ đó là câu hỏi chánh thì phải. Tôi đáp:

“Vẫn là câu trả lời lần trước vì tôi không thể có câu nào khác, nhưng tôi nói thêm với anh rằng, nhiều anh em chúng tôi nhìn nhận sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi như cơn ác mộng mà trong thực tại không thể chối bỏ, và thực tại đó chắc sẽ còn dài lâu trong anh em chúng tôi.”

“Anh có cho rằng, quân đội mấy anh thua trận là do tan rã hàng ngũ không?”

Tôi hơi ngạc nhiên khi hắn đặt câu hỏi như vậy, vì tôi cứ nghĩ là hắn sẽ huênh hoang đề cao cái quân đội của hắn:

“Tôi chưa hiểu rõ chữ tan rã mà anh vừa nói.”

Hắn gằn giọng: “Anh hiểu thế nào?”

“Có phải anh cho là chúng tôi tan rã hàng ngũ mà thua các anh phải không?”

“Đồng chí của tôi nói đúng. Anh rất ngoan cố.”

Tôi cố gắng giữ bình tỉnh và thầm nghĩ, đã vào hang cọp thì nó muốn ăn thịt mình lúc nào chẳng được, có sợ hãi cũng không giải quyết được gì, cho nên cần giữ phong cách vững vàng cho hắn thấy tư cách và nhận thức của người thua trận. Tôi từ tốn:

“Theo tôi, suy cho cùng, sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi vẫn là một vấn đề chiến lược từ bên ngoài.”  
    
“Anh ám chỉ Hoa Kỳ phải không?”

“Tôi không có ý như vậy.”

“Anh ngoan cố. Anh đã nói như vậy với đồng chí của tôi trong lần trước.”

“Chắc là do hiểu lầm thôi, vì đó chính là câu mà tôi tự đặt ra cho tôi để thay câu trả lời chớ không phải câu xác định. Sự nhầm lẫn trong ngôn ngữ chính trị cho dẫu là vô tình, thường khi rất nguy hại.” 
  
“Tôi trông đợi ở anh vì các bạn anh đều khai rằng, anh là người ở Bộ Tổng (Tham Mưu) lâu năm, nhưng sau hai lần trao đổi, anh chẳng nói lên được điều gì. Anh có thấy thế không?”

Bỗng dưng hắn dịu giọng đến mức như tâm tình, ra cái điều như bè bạn vậy. Nếu tôi thiếu thận trọng là dễ rơi vào bẫy của hắn. Tôi đáp:

“Biết làm sao hơn khi mà tôi chỉ biết có bấy nhiêu đối với những câu hỏi của anh. Chúng tôi đã thua các anh rồi, còn gì mà giấu nữa. Với lại nói là làm Chánh Văn Phòng cho ông này ông kia, nhưng tôi chỉ lo những việc lặt vặt của các vị ấy, còn việc quan trọng thì có các cơ quan phòng sở nhận lệnh và trực tiếp thi hành rồi.”

Hắn đưa tay lên xem đồng hồ, chắc mới chia chác đâu đó nên có cái đồng hồ mới toanh, màu vàng óng ánh. Bỗng dưng hắn mỉm cười:

“Anh có thể về dùng cơm. Chúng tôi sẽ mời anh sau.”

“Chào anh.” 

Tôi không quên lời của Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu tại Quốc Hội iưỡng viện trong trận chiến Tết Mậu Thân đầu năm 1968: “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỷ những gì cộng sản làm”, nên tôi ứng dụng ngay trong lần thẩm vấn trước và rút ra chút kinh nghiệm, giúp tôi thêm tự tin khi vào “hang cọp”. Với chút kinh nghiệm khi đối diện với kẻ thắng trận, suy nghĩ của tôi vừa giữ những bí mật cần thiết dù chưa biết lợi ích ra sao, vừa giữ phong cách của người sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Và lần thứ hai này tôi đã “xung trận” với họ trong sự suy nghĩ đó. 
Từ sau ngày có lệnh trình diện chánh thức (9/5/1975) cổng ra vào cư xá Bắc Hải bị khép chặt, các anh em sĩ quan chúng tôi không một ai được ra khỏi cổng, cũng không một ai từ bên ngoài được vào. Chúng tôi thường gặp nhau bên trong cư xá để bàn những chuyện xoay quanh những biện pháp mà chúng nó có thể áp dụng với mình mà chúng nó gọi là “quân ngụy”. Thật ra chỉ là bàn chuyện theo cách suy nghĩ của người tự do chớ có ai hiểu gì về phía cộng sản đâu, ngoại trừ anh Đặng Đình Đán (Tổng Cục Chiến Thanh Chính trị) là có chút kinh nghiệm. Một buổi sáng, hai chúng tôi ngồi trên xích đu trong sân nhà tôi, anh nói:

“… Bác Hoa này, bác nhớ là khi bị chúng nó thẩm vấn chỉ trả lời càng ngắn càng tốt, không nên giải thích dài dòng, vì càng dài dòng chúng càng moi được những sơ hở rất thành thật của mình để rồi chúng nó qui trách tội này tội khác…”

Anh Đán giải thích thêm rằng:

“… Khi cộng sản muốn kết tội thì chúng hỏi mình thật nhiều lần về một nội dung, dĩ nhiên là cách hỏi có thể khác nhau đôi chút. Phương cách đó dễ làm cho người bị tra hỏi trở nên bực mình, để rồi rơi vào áp lực tâm lý càng lúc càng nặng mà trả lời bừa bãi. Hoặc nếu mình nói dối, thì trong nhiều lần trả lời thể nào cũng có những điểm không giống nhau, thế là chúng nó căn cứ vào đó để kết tội, một cái tội nghe rất kỳ cục là “phản cách mạng”. Kỳ cục ở chỗ là người bị kết tội có bao giờ tham gia hàng ngũ của chúng đâu mà chúng gọi là “phản cách mạng.”  

Một  buổi sáng, anh Nguyễn Kim Sơn dẫn một nhóm người đến gõ cửa. Thấy anh kỹ sư Sơn trong cùng cư xá nên tôi mở cửa:

“Chào anh Sơn. Có việc gì vậy?”

“Đây là các anh ở đài truyền hình đến xin phỏng vấn anh.”

Rồi anh giới thiệu:

“Đâ là Cán bộ. Đây là anh Tổ trưởng. Và đây là chuyên viên quay phim.” 

Sau khi ngồi vào ghế, anh chàng được giới thiệu là Tổ Trưởng tự giới thiệu:

“Tôi là bác sĩ, nhưng tôi không thích nghề đó mà lâu nay tôi theo ngành truyền hình.”

Trời đất! Nghe hắn tự giới thiệu là tôi mỉm cười vì tôi tin là hắn “xạo”. Bởi vì cái  xã hội xã hội chủ nghĩa của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trên đất Bắc, làm quái gì có hệ thống truyền hình mà hắn theo từ lâu. Từ cái xạo đó, tôi nghĩ, không chừng cái danh xưng “bác sĩ” cũng là “xạo” luôn nữa chăng? Chẳng qua là mới tập tễnh trong ngành này từ khi Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ chớ bao lâu đâu. Trong khi “Tổ trưởng truyền hình xạo” tự giới thiệu, anh chuyên viên chuẩn bị thu hình, còn anh chàng được giới thiệu là cán bộ thì ngồi viết lia lịa, chẳng hiểu là anh ta viết cái thứ gì trong ấy.

Trước khi thu hình, “Tổ Trưởng xạo” hỏi tôi:

 “Anh có cần viết trước không?”

“Không.”

“Khi chúng tôi mở đèn anh cố giữ tự nhiên nhé!”

Có lẽ hắn nhà quê nên tưởng ai cũng quê như hắn?”

“Anh không cần nhắc điều này.” Tôi bắt đầu tưng tức.

“Vậy thì thuận lợi đấy.”

Tôi hỏi: “Tại sao là thuận lợi?”

Với một thoáng nhìn biểu lộ vẻ ngạc nhiên: “Anh hiểu sao cũng được.”

Bắt đầu phỏng vấn. Lúc ấy có cả vợ và các con tôi ngồi cạnh. Anh ta hỏi:  “Trong gia đình anh có ai chạy ra nước ngoài không?”

“Không.”

“Những ngày cuối cùng, gia đình anh có ai thiệt hại gì không?”

“Không.”

Hắn mở tờ thông cáo ra và hướng sang tôi:

“Anh suy nghĩ gì về chính sách khoan hồng nhân đạo của cách mạng đối với ngụy quân ngụy quyền?”

“Tôi có đọc thông cáo đó và anh bộ đội gác cổng cư xá chúng tôi cũng đã xé bỏ nó khi tôi đưa anh ta xem để xin ra cổng, đưa con tôi đi băng bó cánh tay bị sai khớp xương do trượt chân trên nền gạch. Anh ta nhất định không cho, và nói rằng tờ giấy đó có giá trị gì mà đưa anh ta. Hành động đó làm tôi cảm thấy nóng mặt và tôi quay vào. Vậy là giữa lời nói với việc làm của Ủy Ban Quân Quản không đúng, nhưng tôi nhìn nhận cho đến bây giờ, tôi và gia đình tôi vẫn an toàn, còn từ bây giờ về sau tôi chưa rõ.”

Hắn khựng một lúc:

 “Cách mạng nói là làm, anh hãy tin vào cách mạng.”

Tôi chờ hắn hỏi thêm để trả lời nhưng hắn nói đến đây là hết phần thu hình. Bấy giờ anh chàng “cán bộ” hỏi tôi:

“Anh là Đại Tá, chắc anh giết nhiều con nít lắm mới được quân hàm đó phải không?”

Có thể lúc ấy mặt tôi đỏ lên, và tôi phải trấn tĩnh lại mới trả lời hắn:

“Quân đội nhân dân của anh thăng cấp như vậy sao?”

“Tôi hỏi anh sao anh hỏi lại tôi?”

“Vì đây là lần đầu tiên tôi nghe câu hỏi như vậy. Tôi nghĩ là anh nên hỏi bất cứ người dân nào ở Sài Gòn này và cả miền Nam chúng tôi nữa, anh sẽ có câu trả lời, vì câu trả lời của tôi có chắc gì anh tin”.
Nhóm thu hình ra về. Tôi trở lại chuyện anh Nguyễn Kim Sơn, đang là “Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng” cư xá Bắc Hải. Năm 1973, bà con trong cư xá bầu ra một Ủy Ban Xây Dựngngôi chùa An Quốc trong khuôn viên cư xá. Bác sĩ Hoàng Gia Hợp trách nhiệm Trưởng Ban, tôi trách nhiệm Tổng Thư Ký, anh Nguyễn Kim Sơn -kỹ sư điện- trách nhiệm kỹ thuật, dường như anh Lê Kim Ngô -Đại Tá Công Binh- trách nhiệm xây dựng thì phải, và một số vị khác nữa. Ngôi chùa đã cử hành lễ an vị Tượng Phật ngày 8 tháng chạp âm lịch (đầu năm 1975).
Ngay sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, anh Sơn tự thành lập Ủy Ban nói trên trước sự ngỡ ngàng của bà con trong cư xá, nhất là tôi và các vị trong Ủy Ban Xây Dựng chùa An Quốc. Lúc bấy giờ anh Sơn cho tôi biết, anh thuộc Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và “nằm vùng” từ khi anh là nhân viên của hãng thầu Hoa Kỳ RMK-BRJ ở Qui Nhơn.
Trong những ngày đầu tiên này phải công nhận anh Nguyễn Kim Sơn rất sốt sắng giúp đỡ các sĩ quan trong cư xá, nhất là khi hai cửa ra vào cư xá bị đóng lại dưới sự canh gác của lính cộng sản, anh Sơn đã vào nhà tướng cộng sản Trần Văn Danh -chiếm nhà của Trung Tướng Phạm Quốc Thuần- ngay sau lưng nhà tôi, để can thiệp cho các sĩ quan được tự do ra vào cư xá trong khi chờ ngày học tập cải tạo. Tướng cộng sản đã mắng chửi anh Sơn là nuông chiều chúng tôi trong khi anh Sơn quì dưới chân ông ta.
Anh Sơn nói với tôi:

“Anh Hoa ơi! Dường như lý tưởng của tôi đặt không đúng chỗ.”

Tôi im lặng. Suy nghĩ… , vì điều mà anh gọi là lý tưởng đối nghịch với lý tưởng mà tôi phụng sự.

Nhưng rồi anh được lệnh (chẳng biết từ đâu) tịch thu tất cả nhà không có chủ hợp pháp để giao cho cán bộ chúng nó vào ở. Anh Sơn nhờ cựu Đại Tá Đàm Quang Yêu làm Trưởng Toán Kiểm Kê, một nhân viên của Phường xuống làm Phó Toán. Anh Đàm Quang Yêu nhờ tôi tiếp tay làm Thư Ký. Tôi với anh Yêu -cùng trong cư xá- bàn với nhau là hãy làm hết sức mình để thân nhân của những bạn đã di tản, đem ra khỏi nhà những gì có thể đem ra được mà không bị tên Phó Toán ngăn chận, vì hắn là cộng sản của Phường. Có tất cả 174 nhà trong danh sách kiểm kê có lẽ do anh Sơn thiết lập. Sau cuộc gọi là kiểm kê này, hầu như những đồ dùng như: tủ lạnh, tivi, đàn piano, xe xấu để lại xe còn tốt đem ra, đến bàn ghế cũng vậy, cái nào bán được giá thì đem ra. Không phải dễ dàng nhưng vì Phó Toán là tên cộng sản từ rừng núi vào thành phố nên hắn không hiểu hết giá trị của những đồ dùng trong nhà, nhờ vậy mà mạnh dạn cãi lý với hắn là hắn làm thinh. Hễ hắn làm thinh thì người trong nhà dọn ra ngay, sau đó đem gởi hàng xóm để khi nào cho đem ra khỏi cổng thì đem. Công việc cũng kịp lúc, vì tuần lễ sau đó là cái bọn rừng rú thắng trận ào ào vào chia nhau chiếm nhà.
Nói cho thật đúng, anh Nguyễn Kim Sơn cũng đồng ý với anh Đàm Quang Yêu và tôi cố gắng giải quyết vấn đề như vậy.
Khi tôi vào trại tập trung, cựu Thiếu Tá Trương Nguyên Thảo (anh vợ của anh Sơn) cho biết anh Nguyễn Kim Sơn bị bắt vào tù với tội “dùng vũ khí bất hợp pháp”. Bị ngồi tù ở khám Chí Hòa, tôi nghĩ, đó là chính sách “vắt chanh bỏ võ” như chúng đã bỏ hẳn cái võ “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” sau khi chiếm được Việt Nam Cộng Hòa vậy. Sau khi ra tù, anh Nguyễn Kim Sơn và gia đình vượt biển sang định cư ở Cộng Hòa Liên Bang Đức. (Mùa hè năm 2003, khi hay tin vợ chồng tôi du lịch Âu Châu, vợ chồng anh có đến thăm tại nhà thông gia chúng tôi ở thành phố Langen, ngoại ô thành phố Frankfurt)

Tôi không chứng kiến những gì xảy ra ngoài phố, vì từ giữa tháng 5 (1975) họ đã quản thúc tất cả sĩ quan trong cư xá, tuy không có lệnh nào tống đạt đến chúng tôi như vậy nhưng đóng chặt hai cổng ra vào thì có khác gì quản thúc đâu. Cũng vì quanh quẩn trong cư xá nên thu nhặt được vài mẫu tin vặt đã xảy ra trong cư xá hoặc do các bà từ bên ngoài cư xá vào thuật lại, nhưng từ đó cho phép suy đoán sinh hoạt của người dân xã hội chủ nghĩa nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (miền Bắc).
Mẫu chuyện thứ nhất. Toán quân cộng sản vào chiếm căn nhà X10 (cách nhà tôi một căn) của Trung Tá Lương Phúc Xinh, Trưởng Phòng 3 Sư Đoàn 25 Bộ Binh đã bị bắt trong khi gia đình anh đã di tản. Trong toán này có một đứa thỉnh thoảng lén sang nhà tôi xem tivi. Anh ta sinh ra và lớn lên trên đất Bắc. Một hôm, anh ta thuật chuyện ra cơ quan lãnh gạo (trước đó là cơ sở Cục Quân Tiếp Vụ, đường Tô Hiến Thành), thấy nhiều người đang nhốn nháo chỗ phòng vệ sinh. Và chuyện như thế này: “Toán nấu ăn mà anh ta gọi là anh nuôi thả vô cái chậu 2 con cá lóc để chiều ăn, nhưng phút chốc 2 con cá biến mất. Trong toán nghi ngờ lẫn nhau, vì thế mà cãi nhau to tiếng nặng lời. Cũng may lúc ấy có người nhà là dân Sài Gòn (di cư năm 1954), đến tìm bà con trong toán lính cộng sản này. Sau khi thuật chuyện và dẫn bà ta vào xem cái chậu, bà cười lớn và giải thích:

“Cái mà mấy anh gọi là “cái chậu” là cái cầu tiêu đó. Vậy là 2 con cá lóc xuống hầm cầu tiêu mất rồi”.

Câu chuyện chấm dứt ở đó, và anh ta nêu thắc mắc:

“Chúng tôi thấy trong (Nam) này làm cầu ỉa trong nhà, lượng phân thải ra không thu lại để chăm bón rau xanh, thật là phí. Còn chỗ ngồi ỉa cần gì phải làm đẹp như đồ sành đồ sứ trang trí trong nhà, phí phạm tài sản nhà nước quá”.

Người cộng sản xã hội chủ nghĩa trên đất Bắc không dùng chữ  “đi cầu” hay “đại tiện” mà họ dùng chữ “ỉa”. (Năm 1979 tôi bị giam tại trại tập trung Nam Hà A, khi họ bắt chúng tôi quét dọn nhà của tên Trung Tá Trại Trưởng, thấy ghi chữ “ỉa nam” và “ỉa nữ”. Điều này xác nhận nền giáo dục nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đào tạo nên những thế hệ với ngôn ngữ như vậy đó).    
Anh ta nêu thắc mắc một cách tỉnh bơ làm tôi liên tưởng như suốt ngần ấy tuổi đầu, anh ta chỉ sống trong rừng sâu mới vào thành phố, hoặc anh ta ở thành phố nhưng sinh hoạt trong thành phố xã hội chủ nghĩa miền Bắc chẳng khác người sống trong rừng sâu bao nhiêu.

Tôi hỏi: “Vậy ngoài Bắc các anh làm cầu tiêu ở đâu?”

“Nhà nước hướng dẫn làm cầu 2 hầm và làm bên ngoài nhà. Khi hầm bên này  đầy thì đậy nắp lại rồi dùng hầm bên kia. Độ 3 tháng thì phân hoai (được hiểu là khô lại và ít mùi hôi), lúc đó xúc vào thùng làm phân bón rau xanh hoặc đem bán cho những hợp tác xã.”   

Tôi thấy hứng thú về tìm hiểu xã hội miền Bắc, nên hỏi tiếp:

“Đó là vùng ngoại ô. Vậy trong thành phố làm sao có đất như ở làng quê mà làm cầu 2 hầm?”  

Anh ta đáp:

“Ở nội thành thì làm trong nhà, mỗi sáng có xe thùng đến từng nhà lấy phân ngay dưới chỗ cầu ỉa đổ vào xe, đem bán cho các hợp tác xã nông nghiệp ngoại thành. Tôi thấy trong Nam mấy anh phí phạm nguồn phân này quá. Nhà nước nói bỏ như vậy là phí phạm tài sản xã hội chủ nghĩa đấy”.

“Trời đất ơi! Làm cầu trong nhà theo cái kiểu ấy thì tài sản xã hội chủ nghĩa hôi thúi chịu gì nỗi. Rồi ruồi nhặng ô nhiễm nữa. Ghê quá vậy! Tôi chưa biết đất Bắc của anh ra sao, nhưng nghe anh nói tôi có cảm tưởng miền Bắc của mấy anh lạc hậu quá, đi sau xã hội miền Nam chúng tôi ít ra cũng 30 năm hay hơn nữa mặc dù miền Nam chúng tôi bị các anh vào gây chiến.”

Ngồi một lúc, chừng như hiểu được lời mỉa mai của tôi nên anh ta ngượng ngùng và lặng lẽ ra về. Từ đó, anh ta không lén sang nhà tôi xem nhờ tivi nữa.
Mẫu chuyện vặt thứ hai. Chuyện xảy ra ngay trong cư xá chúng tôi trong căn thứ 3 dãy V, đối diện dãy X của tôi. Cũng là nhà đã di tản nên một toán quân cộng sản vào chiếm giữ. Một buổi sáng, một tên cộng sản bé con hối hả vào nhà bên cạnh nhờ sang xem giùm cái máy không biết để làm gì mà phát ra gió lạnh quá, toán anh ta phải ra ngủ ngoài hiên. Khi anh cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa xem sang giùm chúng. Hóa ra chuyện rất đơn giản. Vì họ không biết đó là cái máy điều hòa không khí, tay chân táy máy thế nào lại vặn đúng cái nút ON. Thế là máy chạy, ban đầu thì mát, đến nửa đêm quá lạnh mà họ không có mền.
Mẫu chuyện vặt thứ ba xảy ra ở cư xá Đô Thành, đường Phan Thanh Giản. Một nữ bác sĩ cộng sản từ Bắc trở về Nam sau hơn 20 năm theo cha “tập kết” ra Bắc, cô ta tìm đến gia đình người chú là Trung Tá Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa. Dù mới gặp nhau lần đầu nhưng chú cháu tỏ ra vui vẻ, cho dẫu trong lòng hai chú cháu nghĩ như thế nào thì chỉ có họ mới biết. Sáng dậy. tiếng cô cháu bác sĩ cộng sản ơi ới:

“Thiếm ơi! Đi ỉa ở đâu Thiếm?”

Bà Thiếm là người miền Nam.

“Cháu đẩy cửa đó mà vào.”

“Sao cầu ỉa làm trong nhà, mà lại trên lầu thì làm sao người ta mang đi đổ được?” 

“Cháu nói đổ cái gì?”

“Đổ phân chứ đổ gì.”

“Vậy chớ ngoài Bắc không làm cầu tiêu trong nhà thì làm ở đâu?”
    
“Cầu ỉa phải làm ở ngoài chứ ai làm trong nhà, để xe đến lấy phân bón rau xanh chứ thiếm. Đảng với nhà nước nói bỏ là phí phạm tài sản xã hội chủ nghĩa mà.”  

“Ở Sài Gòn, nói chung là cả miền Nam này đều làm cầu trong nhà, và là loại cầu tự hủy chớ ai mà khiêng đổ. Ghê lắm!”

Cô ta vào phòng vệ sinh, lại thò đầu ra:

 “Cái nào là cầu ỉa hả Thiếm?” 

Báo hại bà Thiếm “ngụy” phải vào phòng vệ sinh chỉ cho cô cháu “bác sĩ cộng sản” biết, cái nào là cầu tiêu, cách ngồi như thế nào, dùng giấy ra sao, dùng rồi phải bỏ vào đâu, cách giật nước, ..v..v.. Bà Thiếm chỉ dẫn rồi, phải nhắc lại cho cô cháu “bác sĩ lạc hậu” biết cách sử dụng loại giấy sản xuất cho nhu cầu này, chớ các thứ giấy khác sẽ làm nghẹt cầu. Bà Thiếm phải giải thích như vậy, vì cô cháu chồng là bác sĩ xã hội chủ nghĩa trên đất Bắc, một xã hội rất xa lạ với những tiện nghi sinh hoạt của người dân bình thường trong xã hội tự do trên đất Nam. Nghe giải thích đến đâu, cô cháu bác sĩ cộng sản thè lưỡi đến đó.    
Tôi chưa biết miền Bắc mà chỉ biết qua sách báo. Theo đó, Hà Nội trong những năm 40-50 được xem là thanh lịch nhất, nhưng hơn 20 năm dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, người Hà Nội thụt lùi quá xa so với người dân Sài Gòn, xa đến mức không thể tưởng tượng được.
Chỉ vài ba mẫu chuyện vặt về tiện nghi sinh hoạt trong gia đình người dân miền Nam mà họ gọi là “ngụy”, đã vượt quá xa mức sống của người dân miền Bắc xã hội chủ nghĩa, kể cả tầng lớp bác sĩ kỹ sư của họ. Từ đó tôi suy đoán dưới sự cai trị độc tài của cộng sản, người dân không thể nào tiến lên mức văn minh được. Thế mà họ cứ hô hào tiến lên xã hội chủ nghĩa. Tôi nghĩ:

“Vậy là xã hội chủ nghĩa nằm sâu dưới đáy vực của văn minh?”

Thưa quí vị quí bạn, tiếp đây cũng là chuyện vặt nhưng dính dáng tí ti về chính trị. Chuyện xảy ra tại chợ Mỹ Tho sau khi quân cộng sản vào chiếm thành phố này, do cựu Trung Tá Trần Kinh Điển -bạn cùng khóa 5 Thủ Đức với tôi- kể lại khi gặp nhau trước ngày vào trại tập trung. Cũng như những nơi khác, sau ngày vào Mỹ Tho, chúng sử dụng mọi phương tiện kể cả những toán cán bộ đến các đường phố để tuyên truyền về điều mà chúng gọi là bách chiến bách thắng của xã hội chủ nghĩa. Một buổi sáng trong tuần lễ đầu tiên của tháng 5 năm 1975, một cán bộ cộng sản đi phỏng vấn có thu hình một bà trung niên, trang phục của bà cho thấy bà là người thành thị, tay xách giỏ đầy thức ăn. Hắn bước nhanh tới trước mặt bà:

“Chào bà. Tôi là cán bộ đài truyền hình cách mạng. Bà đi chợ xong rồi chứ?”

“Ừa. Tôi chỉ mua vài món thôi, ở nhà có cá rồi.”

Trả lời xong bà ta bước đi. Anh chàng tự xưng cán bộ bước nhanh theo:

“Nhà bà cách đây xa không?”

Bà sồn sồn vừa đi vừa trả lời: “Gần đây nè.”

Vừa trả lời bà ta vừa bước nhanh hơn, cứ như tránh họ thì phải. Một tên vác máy thu hình một tên cầm cái micro chạy theo. Với giọng như đứt quảng: 

“Xin bà cho biết, bà có vui mừng khi thấy cách mạng vào thành phố không?” 

“Có chớ. Vì cách mạng vô mấy ông giải phóng hổng còn bắn hỏa tiễn vô thành phố nữa, chớ trước đây họ bắn chết dân nhiều quá. Ác lắm ông ơi!”

Câu trả lời của bà làm cho họ đứng lại sững sờ như vừa “sụp đường mương” vậy. Anh bạn tôi vui lắm nhưng không dám cười vì sợ hai tên cộng sản này “thua me gở bài cào” thì phiền lắm.
Đúng là bà sồn sồn được phỏng vấn đó không biết cách mạng hay giải phóng là gì cả, mà chỉ biết rằng giải phóng thường pháo kích bắn giết đồng bào, cho nên bà nói có cách mạng vào thì hết quân giải phóng. Nhưng suy cho cùng, thế mà hay. Hay ở điểm, bà ấy chửi xéo quân cộng sản mà chính bà không biết, trong khi hai tên cộng sản bị chửi cũng không thể có biện pháp gì vì bà ta nói sự thật theo như hiểu biết của bà.
1      2      3      4      5      6      7      8

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét