Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2013

HỒI KÝ KHÔNG TÊN CỦA TÊN ĂN CƠM QUỐC GIA THỜ MA CỘNG SẢN LÝ QUÝ CHUNG - KỲ 5

     2      3      4      5      6


CHƯƠNG 22: ÔNG DƯƠNG VĂN MINH LÊN THAY THIỆU
Tuần lễ đầu tháng 4 – 1975, trung tướng Dương Văn Minh và nhóm ủng hộ ông quyết định chính thức công bố ý định thay thế tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Trước đó, nhóm ông Minh đã họp bàn tại Dinh Hoa Lan. Có người nhắc lại rằng thay thế vị trí của tổng thống Thiệu lúc này thì khả năng lớn nhất chỉ thay Thiệu để đầu hàng mà thôi. Sẽ không còn hy vọng cho bất cứ một giải pháp chính trị nào.
Nhận định này được nhiều người có mặt chia sẻ nhưng không một ai đưa ra đề nghị rút lui. Chúng tôi đặt thẳng vấn đề với nhau để những ai còn ý định tiếp tục gắn bó với nhau đi tới thì không mập mờ gì về sự lựa chọn của nhóm, đó là: sẵn sàng thay Thiệu dù chỉ để cầm cờ đầu hàng. Thật sự ông Minh chẳng có ảo tưởng gì về cái ghế tổng thống vào lúc này. Nó không còn là quyền lực và địa vị. Nhưng nó vẫn còn có tác dụng nhất định để góp phần đưa miền Nam đi đến một kết thúc bớt được những đổ máu vô ích. Cuộc công bố chính thức với báo chí của ông Minh về quyết định sẵn sàng thay tổng thống Thiệu được tổ chức tại Đường Sơn Quán, một nhà hàng đặc sản của cựu trung tướng Mai Hữu Xuân nằm giữa một đồn điền cao su trên Xa lộ Đại Hàn. Các nhà báo nước ngoài được mời dự gồm: Peter Ross Range, trưởng văn phòng tuần báo Mỹ Times Magazine; Francois Nivelon phóng viên báo PhápFrance Soir; Carl Robinson phóng viên nhiếp ảnh của AP; Jean Louis Arnaud, trưởng văn phòng hãng tin AFP... Về phía nhóm ông Minh có luật sư Trần Ngọc Liễng, bác sĩ Hồ Văn Minh, trung tướng Mai Hữu Xuân, giáo sư Tôn Thất Thiện, luất sư Bùi Chánh Thời, các dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba và tôi. Anh Ba vì đang bị chính quyền Thiệu truy nã nên không xuất hiện công khai. Từ Sài Gòn lên Đường Sơn Quán, anh Ba ngồi ô tô chung với ông Dương Văn Minh để tránh bị cảnh sát chận bắt dọc đường. 
Sau cuộc họp báo tại Đường Sơn Quán, ngày 17-4 ông Minh tiếp đại sứ Pháp Jean Marie Mérillon theo yêu cầu của tòa đại sứ Pháp. Lý do chính thức: đến để tìm hiểu thêm tuyên bố mới nhất của ông Minh tại Đường Sơn Quán. Đại sứ Pháp đến Dinh Hoa Lan trên chiếc DS có cắm cờ “xanh trắng đỏ” của nước Pháp, đúng ra chi sử dụng trong những quan hệ ngoại giao chính thức giữa đại sứ Pháp với chính quyền nước sở tại. Báo chí lúc đó cho rằng đây là sự cố tình vi phạm nguyên tắc ngoại giao của đại sứ Pháp nhằm công khai hóa lập trường của Pháp đối với tình hình chính trị tại miền Nam. Một cách ủng hộ và nhìn nhận vai trò sắp tới của ông Dương Văn Minh và đồng thời hạ thấp vai trò của tổng thống Thiệu. Đi cùng đại sứ Pháp có cố vấn chính trị tòa đại sứ Pháp là Pierre Brochand. Về phía ông Minh có tôi. Sau khi nghe ông Minh trình bày dự định cùng lập trường hòa bình của mình, đại sứ Pháp hứa sẽ ủng hộ ông Minh. Pháp là quốc gia duy nhất lúc đó có tòa đại sứ đồng thời tại Sài Gòn và cả Hà Nội, một thế ngoại giao rất thuận lợi để đóng vai trò trung gian trong kết thúc chiến tranh Việt Nam. Không kể họ còn là chủ nhà của Hội nghị Paris.
Theo nhà báo Larry Berman, người rất gần với CIA, trong quyển sách của ông về Việt NamNo Peace No Honor, thì ngày 2-4-1975 người đứng đầu CIA tại Sài Gòn là Thomas Polgar có gởi một bức điện về tổng hành dinh CIA ở Washington đề xuất lật đổ tổng thống Thiệu để đưa Big Minh, tức tướng Dương Văn Minh lên thay, dọn đường cho sự thành lập chính phủ liên hiệp “với hy vọng chính phủ này có khả năng làm chậm lại cuộc xâm lược của Bắc Việt”(!). Polgar giải thích trong bức điện của mình rằng ông ta đã nghe trưởng đoàn Hungary trong ủy ban kiểm soát bốn bên nói rằng “nếu tổng thống Thiệu bị loại thì Bắc Việt sẵn sàng thương thuyết”. Cũng trong quyển No Peace No Honor của Larry Berman có kể chi tiết trong thời gian này tại Sài Gòn, tướng Kỳ đã tiếp xúc với đại tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng với mục đích tổ chức cuộc đảo chính Thiệu. Nhưng Cao VănViên không dám quyết định khi chưa thăm dò ý kiến của đại tướng Trần Thiện Khiêm, người vừa rời ghế thủ tướng cách đó 6 tháng. Liền đó đến phiên tướng Trần Thiện Khiêm chạy đi hỏi ý kiến tướng Mỹ về hưu Timmes, một nhân vật hoạt động tình báo kỳ cựu ở Việt Nam và vẫn có vai trò quan trọng với tòa đại sứ Mỹ. Ông Thiệu luốn coi Timmes là “Bố già” của tướng Khiêm và thừa biết rằng Khiêm chỉ hành động nếu được CIA bật đèn xanh. Thomas Polgar, đứng đầu CIA tại Sài Gòn biết được tin này nổi khùng lên vì nếu cuộc đảo chính xảy ra sẽ đi ngược lại tính toán riêng của ông ta đã đề xuất với tổng hành dinh CIA ở Washington. Thomas Plogar không muốn vào lúc này Kỳ, Viên, Khiêm lại đứng lên thay Thiệu nên ra lệnh cho Timmes ngăn chặn ý đồ của Nguyễn Cao Kỳ. Tướng Khiêm biết được chủ trương của CIA không ủng hộ tướng Kỳ lật đổ Thiệu qua thái độ của tướng Timmes liền trở cờ, dùng việc này để tâng công với Thiệu: Ông đi kể cho Thiệu nghe kế hoạch đảo chính của Nguyễn Cao Kỳ. Khi nhắc lai sự kiện các tướng lãnh định đảo chính ông Thiệu rồi lại phản thùng với nhau, Hoàng Đức Nhã bình luận với Larry Berman: “Nói lại chuyện này cũng giống như nói chuyện danh dự giữa những kẻ cướp”.
Nói thêm về tướng về hưu Charles Timmes, một nhân vật kỳ cựu trong ngành tình báo Mỹ ở Việt Nam, đã ông có mặt tại Ấp Bắc (tháng 1-1963) ngay sau khi Mỹ bị thất bại lần đầu tiên trong chiến lược “trực thăng vận”. Charles Timmes trở lại miền Nam đo mối quan hệ bạn bè rất thân với giám đốc CIA William Coiby. Timmes sang thay một nhân vật tình báo khác đã từng được coi là đạo diễn chính của vụ lật đổ hai anh em Diệm- Nhu: Lucien Conein. Phong cách của hai nhân vật này hoàn toàn khác nhau: Trong khi Conein tiếp cận các tướng lãnh Sài Gòn bằng những buổi nhậu nhẹt kéo dài lê thê thì Timmes lại chọn sân quần vợt để nghe những lời thổ lộ của họ. Trong những ngày căng thẳng đầu tháng 4-1975, Timmes đã phát biểu: “Các sĩ quan Việt Nam biết rằng Quốc hội Mỹ cắt viện trợ cho Sài Gòn. Các chỉ huy quân sự đều bàn chuyện đó. Họ bảo với nhau: “Tại sao chúng ta tiếp tục ra trận và đổ máu một cách vô ích?”. Họ nghĩ rằng Mỹ không giữ những lời cam kết của mình”. Nhà báo Larry Engelmann trong quyển Tears Before the Rain có ghi lại một thú nhận của chuẩn tướng Lý Tòng Bá, tư lệnh sư đoàn 25 Bộ binh, như sau: “Khi trận đánh trở nên gay go, họ không muốn chiến đấu nữa. Họ muốn dựa vào Mỹ. Khi không có Mỹ giúp, họ bỏ chạy. Đó là cái bệnh mà quân đội VNCH mắc phải”.
...Để ngăn chặn ý đồ của tướng Kỳ, trước hết Timmes gặp các tướng lãnh đã được Kỳ tiếp xúc và thuyết phục họ không nghe theo lời rủ ren của Kỳ. Việc này không khó lắm như đã thấy trong cách phản thùng nhanh chóng của cựu thủ tướng Trần Thiện Khiêm. Còn trực tiếp với Nguyễn Cao Kỳ, Charles Timmes dùng kế hoãn binh. Timmes lấy chiếc xe “con bọ” Volkswagen cũ kỹ của ông chở đại sứ Graham Martin tới nhà Kỳ và hai người đóng màn kịch làm cho Kỳ nghĩ rằng sắp tới phiên Kỳ sẽ được chọn làm lãnh đạo miền Nam thay Thiệu, do đó ông Kỳ cần phải kiên nhẫn, không nên có hành động chống Thiệu. Về chuyện này, trong hồi ký của mình (Buddha's Child), Nguyễn Cao Kỳ kể lại như sau:
“Tháng 4, Mỹ thấy vai trò của Thiệu đã hết. Trung tướng Charles Timmes, người có rất nhiều người bạn trong giới quân sự Việt Nam, bắt đầu hành động như một sĩ quan liên lạc giữa tôi và tòa đại sứ Mỹ. Timmes từng là CIA, tuần nào cũng đến nhà tôi tóm lược cho tôi tình hình quân sự. Một hôm ông ta gọi điện cho tôi nói rằng ông ta muốn gặp tôi vào buổi chiều. Khi tôi trả lời đồng ý thì ông ta lại có thêm một yêu cầu: ông ta muốn đem theo “một người bạn”?
“Người bạn” ấy là đại sứ Mỹ Graham Martin (...). Khi tôi mở cánh cửa văn phòng và nhận ra ông ta, Martin nói: ‘‘Tôi nghĩ ông ngạc nhiên khi thấy tôi đến đây”.
“Không đâu”? Tôi nói: ‘‘Tại sao tôi lại ngạc nhiên? Tôi chờ đợi ông đến và tôi cũng biết tại sao ông đến”.
Thật sự tôi hơi khó chịu bởi Martin có ảo tưởng tự coi mình là vĩ đại. Ông ta không phải là đại sứ Mỹ đầu tiên viếng nhà tôi và bất cứ người nào tôi gặp cũng thế chl là một sứ giả thực hiện những chỉ thị của chính phủ họ. Nước Mỹ không phải là Đế chế La Mã và Martin không phải là một quan thái thú. Henry Cabot Lodge và Averell Harriman, thuộc loại người rất khác, mỗi người đều tế nhị hiểu điều đó, nhưng Martin té ra rất tự mãn như thể ông ta là Thượng đế, một hiện thân của Đức Phật, lạc vào trong đám người tầm thường. Đáng lý ông phải ngạc nhiên rằng tôi đồng ý tiếp ông.
Ông ta ngồi xuống và hỏi: “Nếu ông trở thành thủ tướng lần nữa trong hoàn cảnh hiện nay, ông sẽ làm gì?”
Đầu tiên chúng ta phải chận đứng sự tiến quân của kẻ thù? Tôi nói tiếp: “Chận đứng họ, rồi từ đó chúng ta có thể thương lượng, đưa ra những nhân nhượng hoặc những thích nghi. Nhưng dù thế nào phải chận đứng họ trước đã. Nhưng nếu sự tan rã này tiếp tục thì chẳng còn gì để bàn cãi”.
“Ông sẽ làm gì với Thiệu?”. Martin hỏi.
“Tôi không có thời giờ để nghĩ đến ông Thiệu hay ai khác. Tôi cũng không quan tâm nếu ông ta ở lại hay ra đi” .
Vừa chào tôi ra về, Martin quay đầu lại và nói: “Tôi rất hài lòng về câu trả lời của ông. Ông hãy cho tôi ít ngày để đẩy Thiệu đi!”.
Ba ngày sau, tướng Timmes trở lại một mình. ‘‘Có đúng là ông và một số sĩ quan đang tìm cách hành động chống lại Big Minh (cách gọi thân mật tướng Dương Văn Minh)?”, ông ta hỏi.
“Không, tôi trả lời. “Nhưng tại sao lại đề cập đến Big Minh. Tôi hành động chống ông ấy để làm gì?”
Tôi rất hài lòng được nghe như thế”, ông nói tiếp mà không trả lời câu hỏi của tôi. “Vì rằng bất cứ chuyện gì xảy mà chống lại Big Minh, Washington và Hà Nội sẽ lên án ông”
“À. Bây giờ tôi hiểu” tôi nói. Sau Thiệu bị bỏ rơi, Minh đóng vai trò một người tiếp nhận sự phá sản (bankruptcy): ký giấy tờ và giao tài sản. “Nếu Big Minh trớ thành lãnh đạo miền Nam, cộng sản sẽ vào Sài Gòn trong 24 tiếng đồng hồ”, tôi nói với Timmes.
Thật sự không bao giờ Nguyễn Cao Kỳ có cảm tình với các tướng lãnh thuộc thế hệ trước, trong đó có tướng Dương Văn Minh. Ông Kỳ kể trong hồi ký của mình rằng khi tướng Mỹ Westmoreland đến Việt Nam lần đầu năm 1965 và hỏi Kỳ có cách nào để củng cố quân đội VNCH thì Kỳ trả lời “Ông cần giải ngũ hoặc cho về hưu tất cả các tướng già, từng người một”. Westmoreland chẳng hỏi gì thêm ‘‘nhìn tôi chòng chọc như thể tôi là người mất trí”. Kỳ cho rằng các tướng già đều thuộc thời thực dân: ‘‘Pháp không căn cứ vào sự dũng cảm hay có sáng kiến để thăng chức họ mà chi dựa vào sự trung thành của những kẻ làm bù nhìn (...) Phần đông ăn diện và cư xử như sĩ quan Pháp. Khi người Pháp về nước, họ trở thành những tướng lãnh hề - cải lương: Những tay nhậu khủng khiếp, những tay nhảy đầm hào hoa phong nhã, những tay săn gái bậc thầy. Họ nói một thứ tiếng Pháp hoàn hảo, trong đó có một số nói tiếng Việt không rành, một số khác không có khái niệm thế nào là một chiến sĩ. Và họ còn là những kẻ tham nhũng. Thiệu từ trong nhóm người này mà ra và cầm đầu hàng triệu binh lính...”
Nói về cách nói tiếng Việt không rành, Kỳ ám chỉ trung tướng Trần Văn Đôn, người bạn thân của tướng Dương Văn Minh. Tướng Đôn sử dụng thông Pháp trôi chảy hơn tiếng Việt.
Ông Kỳ nhìn những tướng tá thế hệ trước như thế nhưng bản thân ông Kỳ cũng không được các nhân vật chính trị và báo chí Mỹ đánh giá cao. William Bundy, phụ tá bộ trưởng ngoại giao Mỹ thời tổng thống Johnson, kết luận về con người Nguyễn Cao Kỳ bằng câu: ‘‘Ông ta là cái đáy của cái thùng, sự chọn lựa cuối cùng và tệ hại nhất của một quân đội tuyệt vọng”. Còn nhà văn, nhà báo Frances Fitzgerald, đoạt giải Pulitzer với quyển Fire on the Lake cho rằng Kỳ là ‘‘kẻ lừa bịp, một công cụ của các chỉ huy quân đoàn và sư đoàn, một tướng lãnh mà họ mất tin tưởng, không có khả năng nắm quyền bính”. Nhà báo Stanley Karnow, cũng đoạt giải Pulitzer với quyển VietNam-A History, thì mô tả ông Kỳ ‘‘giống như một tay thổi kèn saxophone trong một hộp đêm hạng hai”.
Không biết sau này ông Kỳ có khám phá ra rằng tướng Mỹ Timmes và đại sứ Martin mà Kỳ ghét cay ghét đắng đã gạt Kỳ một cách trắng trợn hay không.
Mặt khác lúc đó tôi cũng không biết rõ ông Minh có được CIA, thông qua tướng Timmes, khuyến khích ra thay Thiệu vào giờ chót không. Trong tháng 4-1975, tướng Timmes đến Dinh Hoa Lan thường xuyên hơn. Rất có thể Timmes biết ý định của ông Minh, từ đó thúc đẩy và hỗ trợ thêm.
Nếu có một thế lực nước ngoài gây ảnh hưởng đến ông Dương Văn Minh vào lúc này không phải là Mỹ mà là Pháp.
Qua đại sứ Pháp Jean Marie Merillon, ông Minh nghĩ rằng Paris có thể đóng một vai trò trung gian với Hà Nội để thương thuyết một giải pháp chính trị nếu ông thay thế tổng thống Thiệu. Chính người Pháp lúc này cũng tin rằng mình có thể làm điều đó. Sau này người ta được biết có sự khác nhau về đánh giá tình hình giữa đại sứ Pháp tại Hà Nội Philippe Richer và đại sứ Pháp tại Sài Gòn Jean Marie Mérillon vào những ngày giữa tháng Tư - 1975. Trong khi đại sứ Pháp tại Sài Gòn cho rằng Hà Nội sẵn sàng chấp nhận đối thoại với một chính phủ do ông Dương Văn Minh đứng đầu thì đại sứ Phá tại Hà Nội gửi báo cáo về Bộ Ngoại giao Pháp khẳng định ngược lại:sẽ không có thương lượng chính trị mà kết thúc bằng chiến thắng quân sự của người cộng sản. Nhưng báo cáo từ tòa đại sứ Pháp ở Hà Nội không được Quai D’Orsay coi trọng bằng những nhận định từ tòa đại sứ tại Sài Gòn.
Sáng 8-4-1975, trung úy phi công Nguyễn Thành Trung điều khiển chiến đấu cơ Northrop F-5E Tiger II, xuất phát từ sân bay Biên Hòa, ném bom xuống Dinh Độc Lập rồi bay thẳng về căn cứ giải phóng Phước Long gia nhập hàng ngũ của MTDTGPMN. Trung úy Nguyễn Thành Trung được cộng sản “cài” vào quân đội Sài Gòn từ lâu. Ông Thiệu và gia đình thoát chết trong cuộc tấn công bất ngờ này. Nhưng với dân chúng Sài Gòn, cuộc ném bom có ý nghĩa báo trước sự sụp đổ không thể tránh của chế độ Thiệu. Tinh thần của Thiệu và những người thân cận của ông xuống thấp hơn bao giờ hết. Thiệu không phải con người liều lĩnh như Kỳ. Phó tổng thống Trần Văn Hương từng nói với vài dân biểu thân ông - dĩ nhiên là sau lưng Thiệu - rằng ông Thiệu “C’est un type sans couille”, một cách nói của người Pháp để ám chỉ những người đàn ông không có khí thái.

Sự hư hại của Dinh Độc Lập sau vụ ném bom lần này không nhiều như thời Ngô Đình Diệm đã từng bị hai phi công khác, cũng của không lực VNCH ném bom. Đó là ngày 27-2-l962, hai phi công lái chiếc A -1 Skyraider cất cánh từ sân bay từ sân bay Tân Sơn Nhất trong một phi vụ tấn công các mục tiêu Việt Cộng, đã đổi hướng trở vào Sài Gòn và ném bom xuống Dinh Độc Lập. Hai sĩ quan phi công ấy là Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc đã hành động độc lập, không nằm trong một âm mưu đảo chính nào. Cử thoát được, sang tị nạn chính trị ở Campuchia, còn chiến đấu cơ của Quốc bị súng phòng không từ một chiếc tàu chiến trên sông Sài Gòn bắn hạ và bị bắt sống. Số phận của Quốc và Cử sau này rất khác nhau. Quốc chết mất xác khi chiếc Skyraider của anh bị bắn hạ trong một chuyến oanh tạc miền Bắc, còn Cử từ Campuchia trở về hoạt động chính trị và lần lượt trúng cử dân biểu rồi nghị sĩ quốc hội. Hiện Cử sống tại San Jose (California- Mỹ).
Dinh Độc Lập vào lúc bị ném bom lần đầu năm 1962 có kiến trúc thời Pháp đô hộ như các kiến trúc mà chúng ta còn thấy ở trụ sở ủy ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh (đường Nguyễn Huệ). Bảo tàng TP. Hồ Chí Minh (đường Lý Tự Trọng) hay Tòa án TP. Hồ Chí Minh (đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa)... Do sự hư hại khá nặng, ông Diệm cho xây dựng lai một dinh tổng thống mới. Được giao nhiệm vụ thiết kế dinh mới trên vị trí cũ là kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, từng đoạt giải thưởng lớn kiến trúc tại Rome (Grand Prix De Rome). Với nhiều người như tôi đã từng nhận thấy Dinh Độc Lập xưa, từ cái thời nó còn mang tên Dinh Norodom, vẫn có một so sánh giữa cái cũ và cái mới. Riêng tôi vẫn nghiêng về lối kiến trúc xưa.

…Trở lại tình hình nguy ngập của Sài Gòn vào giữa tháng 4-l975, người Mỹ nhận định rằng mình không còn chủ động tình hình miền Nam được nữa và thời gian còn lại cho mình không còn bao nhiêu, đại sứ Graham Martin và trùm CIA Thomas Polgar dựa vào đại sứ Pháp và các nỗ lực của Paris để hi vọng kéo dài sự tồn tại chính quyền Sài Gòn hầu có thêm thời gian để đưa người Mỹ và những người Việt Nam đã từng hợp tác với họ kịp rời khỏi miền Nam. Chính vì vậy, tòa đại sứ Mỹ và CIA lúc này chủ trương lất đổ Thiệu và hỗ trợ giải pháp Dương Văn Minh đang được Paris tích cực ủng hộ.
Đầu tháng 4-1975, đang lúc tình hình của chính quyền Sài Gòn cực kỳ rối rắm thì có tin cựu phụ tá đặc biệt của Thiệu là Nguyễn Văn Ngân bị bắt. Lúc đó ít ai biết được lý do. Sau này, người thân cận của Ngân tiết lộ rằng Ngân đã đứng đằng sau cuộc biểu quyết ở Thượng Viện ngày 3-4-l975 đòi Thiệu từ chức. Cần nhắc lại sau khi bị thất sủng (mất chức phụ tá tại phủ tổng thống sau khi thay phụ tá Nguyễn Cao Thăng chết vì bệnh ung thư) không còn được Thiệu tin cậy, Ngân đã sang Canada sống. Người đẩy Ngân ra khỏi vai trò phụ tá phủ tổng thống đầy quyền lực là thủ tướng Trần Thiện Khiêm. Từ Canada (lưu vong ở Vancover được bốn tháng), Ngân nhận thấy tình hình thuận lợi để mình trở về nước hoạt động trở lại. Lợi dụng những quan hệ cũ trong quốc hội khi ông làm phụ tá đặc biệt phụ trách liên lạc quốc hội cho tổng thống Thiệu, Ngân có ý định vừa trả thù thủ tướng Khiêm vừa tạo thế chính trị cho mình bằng cách vận động Thượng viện bất tín nhiệm Khiêm. Nhưng cuộc vận động của Ngân lại trùng vào thời điểm quốc hội muốn Thiệu từ chức chứ không chỉ riêng Khiêm, thế là tuyên cáo được Thượng viện biểu quyết ngày 3-4-1975 đã nhắm vào chính ông Thiệu. Tối ngày 3-4-l975, Ngân bị bắt. Hôm sau chính phủ Thiệu loan báo vừa phá vỡ một âm mưu đảo chính.
Nhắc lại nhân vật Nguyễn Văn Ngân, có khá nhiều điều để nói. Ngân là một học sinh miền Bắc vượt tuyến, vào miền Nam khoảng năm 1955. Sau khi tốt nghiệp trường Luật, đại học Huế, Ngân vào Sài Gòn. Khởi đầu sự nghiệp dưới cái bóng của phụ tá đặc biệt tại phủ tổng thống là Nguyễn Cao Thăng, chủ nhân hãng bào chế dược OPV, như một chuyên viên liên lạc với quốc hội. Lúc đó Ngân còn khá mờ nhạt. Ông chỉ giành được một vai trò thật sự trong guồng máy của chính quyền Thiệu sau khi dược sĩ Thăng qua đời. Như chúng tôi có đề cập, Ngân là đạo diễn chính của đạo luật bầu cử tổng thống 1971 dẫn tới cuộc độc diễn của ông Thiệu. Điều mà ít ai biết: Ngân cũng là người đã thúc đẩy và tiến hành cuộc san bằng “vương quốc” ngân hàng của Nguyễn Tấn Đời.
Không được học hành nhiều, không bằng cấp, một nhân vật thành đạt theo kiểu người Mỹ gọi là “self made man”, Nguyễn Tấn Đời bắt đầu kinh doanh trong ngành sản xuất gạch bông hiệu Đời Tân. Sau đó, ông Đời lợi dụng sự xâm nhập ồ ạt của người Mỹ vào miền Nam, phất lên trong ngành khách sạn và cho thuê mướn nhà, trở thành “vua Building”. Từ “vua Building”, ông Đời tiến lên làm “vua Ngân hàng”. Ông có thân hình mập mạp, nước da ngăm đen - có dư luận cho rằng ông có máu Ấn Độ - luôn mặc những bộ côm-lê màu sặc sỡ như màu cam, màu xanh dương. Ông ăn nói hơi bình dân nhưng đầy tự tin, có lẽ do sự thành đạt trong kinh doanh. Trong một thời gian không dài, ông thiết lập được mạng lưới ngân hàng của mình - Ngân hàng Tín Nghĩa - với 32 chi nhánh tỏa ra khắp miền Nam. Một hiện tượng chưa từng xảy ra trong ngành ngân hàng ở miền Nam trước đó. Ngân hàng Tín Nghĩa có số ký thác lên đến 30 tỷ, trong khi tất cả các ngân hàng tư khác cộng lai chỉ có số ký thác 18 tỷ (theo Hồi ký của Nguyễn Tấn Đời). Nói không quá đáng, ông Đời đã làm một cuộc cách mạng trong hoạt động ngân hàng ở miền Nam bấy giờ. Trước đây, ngân hàng không đến với khách hàng của mình. Ai cần thì đến với nó. Nó tiếp khách hàng lạnh lùng và quan liêu. Ngân hàng trước đó coi việc quảng cáo, tiếp thị là tự hạ mình, là mất “phẩm cách” đối với ngân hàng. Nhưng với chủ tịch hội đồng quản trị kiêm trong giám đốc ngân hàng Nguyễn Tấn Đời, không hề qua một khóa đào tạo nghiệp vụ nào về ngân hàng, thì ngân hàng chẳng qua cũng là một doanh nghiệp như bao nhiêu doanh nghiệp khác, cũng cần được quảng cáo, phải có những chiến lược cạnh tranh để giành lấy khách hàng và một trong những thay đổi phải có là thay đổi thái độ phục vụ, đưa ngân hàng đến khách hàng, đến trong quận huyện khu phố, mời mọc khách hàng đến với ngân hàng. Chính ông Nguyễn Tấn Đời đã một lần trình bày bởi tôi về quan niệm kinh doanh ngân hàng của ông như thế. Chính phủ và Ngân hàng quốc gia lúc đầu chống lại việc ông Đời làm tổng giám đốc vì cho rằng ông không có bằng cấp chuyên môn nhưng ông quyết liệt chống lại, với lập luận về mặt chuyên môn ông đã có những chuyến viên cao cấp về ngân hàng làm trợ lý. Thực tế, trong hàng ngũ phụ tá và cố vấn của ông có không thiếu những chuyên viên đã từng là bộ trưởng kinh tế, tổng giám đốc ngân hàng v.v…
Nhiều người cho rằng tổng thống Thiệu nghe lời ông Ngân san bằng giang san ngân hàng của Nguyễn Tấn Đời vì thấy thế lực của ông Đời ngày càng bành trướng và nghi ngờ ông Đời có tham vọng ra ứng cử tổng thống cạnh tranh với Thiệu.
Để mở rộng ảnh hưởng chính trị của mình, ông Đời tìm sự ủng hộ trong quốc hội, mà ông cũng là một dân biểu (đơn vị Kiên Giang), bằng cách dễ dãi cho tất cả dân biểu, nghị sĩ vay tiền ở ngân hàng Tín Nghĩa không tính lãi. “Chiêu” này của ông Đời có khả năng vô hiệu hóa quyền lực của phụ tá Ngân đối với các dân biểu nghị sĩ “gia nô”. Ông Ngân cũng dùng tiền để mua chuộc các cuộc bỏ phiếu. Thật ra trước mắt ông Đời chỉ có ý định nắm chức vụ chủ tịch Ủy ban ngân sách tài chính ở Hạ nghị viện, tức kiểm soát hầu bao của chính phủ Thiệu.
Do đó để giữ độc quyền nắm quốc hội, phụ tá Ngân quyết định tìm cách “dứt” ông Đời và hệ thống ngân hàng của Đời. Người giúp Ngân tích cực trong kế hoạch này là thống đốc Ngân hàng quốc gia Lê Quang Uyển, người phát hiện ra những sơ hở và vi phạm của Ngân hàng Tín Nghĩa. Khi tổng thống Thiệu vừa từ Mỹ trở về sau cuộc gặp tổng thống Nixon ở San Clemente, Ngân trình kế hoạch đánh sập Ngân hàng Tín Nghĩa và cá nhân Nguyễn Tấn Đời. Thiệu chấp thuận. Một cuộc họp lấy quyết định chính thức được Thiệu triệu tập với sự có mặt của thống đốc Ngân hàng quốc gia Lê Quang Uyển, Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, tổng trưởng tài chánh Hà Xuân Trừng, thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình, tổng giám đốc cảnh sát quốc gia và phụ tá Ngân. Cuộc họp giao cho phụ tá Ngân tiến hành kế hoạch. Ngày 21-3-1973 các cơ sở của Ngân hàng Tin Nghĩa ở toàn miền Nam bị khám xét và niêm phong, lúc đó ông Đời và vợ đang ở Đà Nẵng. Cho đến cuối đời mình, Đời thù tận xương Thiệu và Ngân. Cuốn hồi ký của Nguyễn Tấn Đời được viết ra chủ yếu để tấn công và xỉ vả ông Thiệu!
Về nhân vật Ngân, một người thân cận của ông - nhà báo Vũ Thụy Hoàng - còn tiết lộ Ngân là “kiến trúc sư” chính của sự thành lập và tổ chức đảng Dân Chủ của Thiệu và là người dựng lên tờ báo của chính quyền - tờ Dân Chủ. Một nguồn tin khác cho rằng trước khi bị bắt lần đầu và tạm lưu vong ở Canada, Ngân đã từng đề nghị với ông Thiệu và Hoàng Đức Nhã nên tiến hành việc móc nối với MTDTGPMN. Theo lập luận của Ngân, cộng sản sẽ bị chóa mắt khi tiếp cận với xã hội tiêu dùng miền Nam và chế độ Sài Gon có khả năng “hủ hóa” cộng sản. Nhưng đề nghị của Ngân bị Nhã bác bỏ. Do đó khi Ngân bị bắt, có tin đồn Ngân bị bắt vì liên lạc với Mặt Trận. Cho đến nay chưa biết được thật hư của dư luận này ra sao.
…Sau tuyên cáo của Thượng viện đòi Thiệu từ chức ngay thì xảy ra vụ phó văn phòng AFP tại Sài Gòn, Paul Leandri, bị cảnh sát Tổng nha bắn chết tại trụ sở Tồng nha. Vụ này làm bùng lên dư luận quốc tế lên án chế độ Thiệu, càng khiến cho ông Thiệu bị cô lập và mất tinh thần với Mỹ, thời gian quá cấp bách để cứu vãn cái gì còn có thể cứu vãn. Chẳng hạn kéo dài sự tồn tại chế độ Sài Gòn thêm một thời gian nữa để người Mỹ rút chân ra khỏi miền Nam an toàn hơn. Ngày 19-4-1975, đại sứ Martin gặp tổng thống Thiệu và nói thẳng với ông ta phải từ chức để sớm kiếm một khả năng thương thuyết với quân giải phóng. Theo nhà báo Mỹ Zalin Grant thì trong cuộc gặp này Martin đã cùng Thiệu duyệt qua tình hình quân sự không còn có thể cứu vãn. Martin nói với Thiệu: “Tình hình quân sự rất tồi tệ và dân chúng qui trách nhiệm vào ngài”.
Ông Thiệu không chịu từ chức ngay. CIA quyết định ra tay và lại nghĩ tới hai tướng Cao Văn Viên và Trần Thiện Khiêm để thực hiện kế hoạch lật đổ Thiệu, bởi họ hiểu rõ trước đó cả hai có ý định lật đổ Thiệu. Ngày 19-4-1975, Hoàng Đức Nhã đang đi công tác ở Singapore. Tại đây thủ tướng Lý Quang Diệu đã nói thẳng với Nhã, người bạn vong niên mà ông có nhiều cảm tình: “Anh hãy cảnh báo ông anh của anh về khả năng xảy ra đảo chính. Còn anh nên ở lại đây. Không nên trở về Sài Gòn. Tôi sẽ tìm cách đưa gia đình anh rời khỏi Việt Nam. Anh biết không, người Mỹ đã chọn xong nơi ông Thiệu sẽ lưu vong”. Biết được tin sắp có đảo chính do Mỹ thúc đẩy, Nhã liền điện về cho ông Thiệu từ Singapore: “Tổng thống không nên chờ bị lật đổ hoặc truất quyền. Hãy hành động trước”. Khi trở về Sài Gòn, Nhã liền điện vào Dinh Độc Lập. Một trợ lý của ông Thiệu nói với Nhã hãy gọi lại sau vì tổng thống đang chuẩn bị một diễn văn quan trọng.
CIA đã có kế hoạch lật đổ tổng thống Thiệu vào ngày 23-4-1975 nhưng trước đó hai hôm, ngày 21-4-1975, Thiệu đã chính thức từ chức. Điều mỉa mai là tòa đại sứ Mỹ chỉ biết được quyết định từ chức của ông Thiệu ít tiếng đồng hồ trước khi ông lên truyền hình phát biểu. Phải chăng Thiệu hành động theo lời khuyên của Hoàng Đức Nhã? Hoặc Thiệu đã nắm được tin đảo chính mình? Nhưng cũng có thể do tình hình quân sự tuyệt vọng sau khi quân đội VNCH mất tuyến phòng thủ cuối cùng ở Xuân Lộc, Thiệu thấy rõ không còn hy vọng bảo vệ cái ghế tổng thống của mình nữa.
Trước khi từ chức, Thiệu đọc một bài diễn văn nảy lửa trên truyền hình, tấn công thẳng vào Mỹ, cho rằng Mỹ ép Nam Việt Nam phải ký Hiệp định Paris và sau đó lại bội hứa không ủng hộ VNCH trước cuộc tấn công của Bắc Việt. Thiệu cho rằng Mỹ không đáng tín nhiệm, vô nhân đạo. Có cả nước mắt trong bài diễn văn đó. Có đoạn ông Thiệu nói rằng người Mỹ muốn ông làm cái điều mà chính người Mỹ không thể làm được với nửa triệu quân lính trang bị hùng mạnh. Giờ đây người Mỹ đã tìm ra lối thoát danh dự cho mình lại đòi hỏi quân đội Sài Gòn thiếu vũ khí, đạn dược, trực thăng máy bay chiến đấu và B-52 làm cái điều bất khả thi như thể lấy đá lấp biển.
Nhưng bài diễn văn của ông không hề gây xúc động trong dư luận người dân miền Nam. Trái lại làm rõ ra thêm bi kịch của một tổng thống bù nhìn, quyền lực một thời chỉ dựa vào ngoại bang. Ông Thiệu đã từng được Mỹ ủng hộ nhưng chưa lúc nào ông có được sự hậu thuẫn của người dân miền Nam. Để rồi hôm nay người ta chứng kiến cảnh tượng chế độ đó giẫy chết trước sự dửng dưng gần như của mọi người. Ngay với những người Việt Nam chống cộng, ông Thiệu chưa bao giờ được coi là một người yêu nước. Một sự kiện rất tiêu biểu nói lên sự cô lập của chế độ Thiệu nói riêng và chế độ Sài Gòn nói chung: Khi Nam Việt Nam mất Ban Mê Thuật, Thiệu cho ban hành Luật tổng động viên để tăng cường tiềm lực chiến đấu của quân đội VNCH nhưng luật này đã bị toàn thể các giới và dân chúng phản đối. Đau nhất cho Thiệu là sự chống đối mạnh mẽ nhất lại đến giới công giáo cực hữu. Tại cuộc họp báo tại nhà thờ Tân Chí Linh ngày 17-3-1975, linh mục Trần Hữu Thanh, chủ tịch Phong trào nhân dân chống tham nhũng, một tổ chức của người công giáo chống cộng, phản đối Luật tổng động viên bằng cách tố cáo rằng “trong số một triệu mốt binh sĩ chỉ có 700 ngàn quân, còn bao nhiêu là lính ma lính kiểng”. Linh mục Thanh nói: “Thực ra không cần động binh cho bằng biết sử dụng binh, không cần động viên nhân số cho bằng động viên tinh thần”. Cũng vào thời điểm này, sinh viên công giáo gồm ba đoàn thể (Phong trào thanh niên công giáo Đại học Việt Nam, Liên đoàn sinh viên công giáo Sài Gòn, Liên đoàn SV công giáo Minh Đức) kêu gọi toàn thể sinh viên học sinh, bất kể lớp tuổi, bất kể màu sắc chính trị, tôn giáo, liên kết bày tỏ thái độ tích cực, hành động cụ thể và cấp thời đối với luật tổng động viên mới đây của chính phủ VNCH. Sinh viên công giáo cho rằng “biện pháp đôn quân, bắt lính của chính phủ không phải là biện pháp trực tiếp và hữu hiệu để chấm dứt chiến tranh, không phải là con đường thực sự đưa đến hòa bình dân tộc trong khi miền Nam còn đầy rẫy bất công, tham nhũng... Con ông cháu cha ăn chơi phè phỡn, thi đua xuất ngoại...”
…Phản ứng của Washington đối với bài diễn văn chống Mỹ muộn màng của ông Thiệu ra sao? Trong quyển hồi ký Ending The Vietnam War của Henry Kissinger đã viết: “Thiệu có tất cả lý do để phẫn uất sự cư xử của nước Mỹ (...) Nếu tôi nghĩ rằng quốc hội sẽ cắt viện trợ, như đã xảy ra, với một đồng minh đang bị bao vây, tôi đã không gây áp lực để có hiệp định như tôi đã hành động ở những cuộc thương lượng cuối cùng năm 1972”.
(Thiệu had every reason to resent America's conduct... Had I thought it possible that Congress would, in effect, cut off aid to a beleaguered ally, I would not have pressed for an agreement as I did in the final negotiations in 1972).
Tôi không thấy trong những lời lẽ này của Kissinger một sự thành thật về những cảm nghĩ của ông dành cho cá nhân ông Thiệu. Cái chính là Kissinger muốn đổ trách nhiệm về một kết thúc thảm hại của chế độ Sài Gòn và chính sách của Mỹ ở Việt Nam sang quốc hội Mỹ. Giọng đầy thương cảm của Kissinger không đánh lừa được bất cứ ai đã từng theo dõi diễn tiến cuộc chiến ở Việt Nam.
Đồng thời với sự công bố từ chức, ông Thiệu nói căn cứ theo Hiến pháp VNCH, người thay ông là phó tổng thống Trần Văn Hương, 71 tuổi (người có ảo tưởng tự cho mình là “một Charles De Gaulle của miền Nam” theo nhà báo Mỹ Zalin Grant). Nhưng lúc này ai cũng đoán biết người thật sự thay Thiệu chính là ông Dương Văn Minh, còn ông Hương chỉ ở vai trò chuyển tiếp ngắn.
Đại sứ Pháp Mérillon và đại sứ Mỹ Martin tăng cường áp lực với quyền tổng thống Hương nhằm đưa ông Minh vào chức vụ tổng thống với hi vọng “được Hà Nội chấp nhận đối thoại”. Để giành tối đa thời gian ít ỏi còn lại, Martin và Merillon gặp trực tiếp ông Hương và thuyết phục ông rút lui nhường quyền lãnh đạo cho ông Dương Văn Minh. Nhưng... quyền tổng thống Trần Văn Hương nhất định từ chối, viện lẽ chính ông cũng có thể đứng ra thương thuyết với cộng sản và chắc gì ông Minh được công sản chấp nhận.
Trước áp lực của hai đại sứ Pháp và Mỹ, ông Hương nhất định không nhân nhượng và tuyên bố thẳng thừng rằng ông chỉ rời Dinh Độc Lập theo đúng Hiến pháp, tiếc có một cuộc biểu quyết của lưỡng viện quốc hội.
Thế là các nỗ lực của những người muốn đẩy ông Hương ra khỏi chức vụ tổng thống quay sang quốc hội. Cần triệu tập một phiên họp quốc hội lưỡng viện, có nghĩa có đủ mặt đại biểu và nghị sĩ, để truất phế quyền tổng thống Trần Văn Hương và bầu ông Dương Văn Minh vào chức vụ tổng thống.


CHƯƠNG 23: CUỘC CHẠY TRỐN CỦA NGUYỄN VĂN THIỆU

Không khí tại Dinh Hoa Lan rộn rịp lên sau tuyên bố từ chức của ông Thiệu.
Cựu trung tướng Trần Văn Đôn, nghị sĩ quốc hội, thất bại trong toan tính tự giới thiệu mình với Pháp như một ứng cử thay Thiệu, giờ chót quyết định ủng hộ người bạn xưa của ông là cựu trung tướng Dương Văn Minh. Tướng Đôn trước đây hầu như không thấy xuất hiện ở Dinh Hoa Lan, bây giờ vô ra thường xuyên. Tuy Dương Văn Minh và Trần Văn Đôn cùng tham gia cuộc lật đổ hai anh em Diệm-Nhu và đều xuất là những sĩ quan quân đội Pháp nhưng ngoài đời hai người rất ít quan hệ với nhau vì tánh tình rất khác nhau. Ông Minh thích thể thao từ nhỏ, đã từng là thủ môn của đội bóng Thủ Dầu Một những năm 40, một đấu thủ quần vợt có hạng và mãi sau này ông vẫn cầm vợt ra sân tuần ba buổi tại câu lạc bộ CSS. Khác với phần đông các tướng lãnh Sài Gòn đều mê gái, ông Minh có một cuộc sống gia đình rất gương mẫu. Tướng Đôn ngược hẳn: ông như nhân vật Don Juan, các phụ nữ đẹp trong giới thượng lưu Sài Gòn khó thoát khỏi tay ông nếu lọt vào tầm ngắm của ông. Dù không hợp nhau nhưng Minh và Đôn vẫn tôn trọng nhau.
Người ta cũng thấy xuất hiện một số tướng về hưu như trung tướng Nguyễn Hữu Có, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh... Thẳng thắn mà nói số tướng tá chung quanh ông Minh lúc này không có nhiều và cũng ít có gương mặt nổi bật. Các tướng tá đương quyền, thuộc thế hệ sau, đều phò Thiệu hoặc Kỳ. Nếu xảy ra một cuộc đối đầu quyền lực với Nguyễn Cao Kỳ, chắc chắn nhóm ông Minh sẽ gặp khó khăn. Lực lượng của ông Minh quá mỏng. Do lâu ngày tách khỏi quân đội, ông Minh không còn tay chân thân tình của mình trong hàng tướng tá. Trong các buổi họp hàng tuần của nhóm ông Minh chỉ thấy mặt hai nhân vật quân sự thuộc thế hệ đã qua: đó là cựu trung tướng Mai Hữu Xuân và cựu trung tướng Lê Văn Nghiêm, đều không còn ảnh hưởng trong quân đội.
Khi nhân vật tình báo Mỹ Charles Timmes gián tiếp nói cho Kỳ biết đại sứ Mỹ Martin ủng hộ giải pháp Dương Văn Minh và không ủng hộ cá nhân ông, Kỳ không giấu giếm lập trường của ông là sẽ chống ông Minh không khác chống cộng sản. Tướng không quân Nguyễn Cao Kỳ vẫn nuôi tham vọng tại chính trường.
Ngay sau khi Thiệu ra lệnh rút khỏi Ban Mê Thuột, từ Khánh Dương trên Cao Nguyên - nơi ông có một nông trại - Kỳ đáp máy bay trực thăng về Sài Gòn nhờ tướng Cao Văn Viên, đang là tổng tham mưu trưởng, thuyết phục Thiệu giao quân cho Kỳ đi ngăn chặn sự tiến quân của quân giải phóng và bảo vệ Sài Gòn. Trong hồi ký của mình (Budda’s Child)Kỳ kể đã gặp Cao Văn Viên.
Kỳ hỏi: “Tình hình Ban Mê Thuột thế nào rồi?”.
Viên đáp: “Rất khó khăn. Chúng ta không có thừa quân vì phải bảo vệ Sài Gòn”.
Kỳ: ‘‘Tôi không cần nhiều quân. Cho tôi vài tiểu đoàn thủy quân lục chiến hoặc dù, và chừng 20 đến 25 chiến xạ, tôi sẽ tìm cách phá vỡ sự bao vây. Tôi sẽ trực diện với quân địch và chiến đấu”.
Dừng một lúc, Kỳ hỏi Viên: “Anh có nghĩ tôi sẽ thành công”
Viên trả lời: “Nếu anh chỉ huy lực lượng đó, tôi nghĩ là thành công”.
Kỳ: ‘‘Vậy thì hãy để tôi hành động”.
Viên: “Đáng tiếc tôi không ở vào vị trí có thể lấy một quyết định như thế. Quyết định này thuộc thẩm quyền của tổng thống Thiệu”.
Kỳ: ‘‘Ô kê, hãy gọi Thiệu, báo cho ông ta tôi đang ở đây và nói với ông ta biết đề nghị của tôi…”
Viên gọi điện cho Thiệu, nhưng tổng tham mưu trưởng không nói chuyện được với vị tổng chỉ huy của mình. Thông qua một tùy viên của Thiệu, Viên để lại một báo cáo. Nhưng sau đó, viên trợ lý này gọi lại tướng Viên và cho biết:
“Tổng thống cảm ơn tướng Kỳ rất nhiều về đề nghị của ông nhưng tổng thống cần có thời gian để suy nghĩ về đề nghị của ông”.
27 năm có đủ lâu để suy nghĩ cho một quyết định như thế? Tôi vẫn chờ câu trả lời của Thiệu. Có lẽ ông ta sợ tôi sẽ làm gì đó tại Sài Gòn với đơn vị xe tăng hơn là sợ đối phương có thể làm gì với quốc gia”.
Thật sự đây chỉ là canh bạc xì phé mà Kỳ tung ra với Thiệu. Cả Cao Văn Viên và Nguyễn Văn Thiệu không ai tin rằng Kỳ sẽ cầm quân ra mặt trận vào lúc đó sinh mạng sống của mình để bảo vệ cái ghế của Thiệu. Điều mà cả hai nghĩ là có quân trong tay Kỳ sẽ tính tới lật đổ Thiệu và giành lấy quyền bính mà ông ta đã để lọt ra khỏi tay hồi năm 1967Tự cho mình quá hiểu Kỳ, Thiệu đương nhiên gạt qua một bên “đề nghị viển vông” ấy.
Vào lúc CIA có ý định lật đổ Thiệu, ông Kỳ lại được nhà báo Mỹ Robert Shaplen của báo New Yorker tích cực vận động để quay trở lại chính quyền. Từ đầu Shaplen luôn ủng hộ Kỳ. Shaplen có ảnh hưởng khá lớn đối với tòa đại sứ Mỹ, nhưng cuộc vận động này nếu quân giải phóng chưa vào Sài Gòn, ngày 30-4-1975, chắc chắn Kỳ cũng sẽ tìm cách đảo chính ông Minh.
Ngày 25-4-1975, ông Thiệu rời Sài Gòn một cách bí mật; địa chỉ đến là Đài Loan. Trước đó quyền tổng thống Trần Văn Hương thúc hối đại sứ Martin phải áp lực ông Thiệu rời Việt Nam sớm bởi “sự hiện diện hiện diện của ông Thiệu gây khó khăn cho ông”! Từ ngày 21-4 sau khi tuyên bố từ chức, ông Thiệu và gia đình vẫn ở trong Dinh Độc Lập. Ông Thiệu rời Dinh Độc Lập vào lúc 7 giờ 30 tối. Cùng đi với ông Thiệu có tướng Trần Thiện Khiêm, cựu thủ tướng và là bạn thân của Thiệu. Bà Thiệu và bà Khiêm đã rời Sài Gòn trước đó vài ngày. Bà Khiêm mang theo cả người giúp việc. Theo sự tố giác của linh mục Đinh Bình Định, người rất gần gũi với linh mục Trần Hữu Thanh, thì trong quân đội vào đầu tháng 3 có nhen nhúm một kế hoạch kết hợp Thiệu và Khiêm thành một liên danh tranh cử tổng thống nhiệm kỳ 3 vào cuối năm 1975, nếu chế độ Sài Gòn còn kéo dài. Chính Thiệu cũng từng tiết lộ kế hoạch này với đại sứ Martin và cho rằng nếu ông làm tổng thống một nhiệm kỳ nữa thì ông sẽ có điều kiện để mở rộng dân chủ!
Chi tiết về cuộc “trốn chạy” của ông Thiệu – vâng phải gọi đó là một cuộc trốn chạy – được các tài liệu CIA sau này tiết lộ như sau:
Ngày 25-4-1975, đại sứ Martin điện cho Kissinger báo rằng ông đã nghĩ ra cách đưa Thiệu và Khiêm rời khỏi miền Nam một cách bí mật. Martin cho tướng Mỹ Timmes tổ chức cuộc ra đi của Thiệu.
Timmes điện cho Thiệu và cho biết ông ta có thể dùng một chiếc trực thăng để đưa Thiệu từ Dinh Độc Lập đến phi trường Tân Sơn Nhất. Nhưng ông Thiệu trả lời rằng ông ta muốn đi ô tô để ghé tổng tham mưu trước và “uống một ly rượu với 22 tướng tá” đến chào từ biệt ông ta tại đây. Hình như nơi Thiệu và Khiêm ghé lại là nhà riêng của ông Khiêm. Từ tổng tham mưu, chính nhân viên, chính nhân viên CIA Frank Snepp và tướng Timmes đưa Thiệu và Khiêm ra sân bay. Timmes giới thiệu Snepp với Thiệu: “Đây là một chuyên viên phân tích cừ khôi của tòa đại sứ, hơn nữa anh còn là một tài xế đẳng cấp”. Khi ô tô đi vào sân bay quân sự Tân Sơn Nhất, Timmes khuyên ông Thiệu cúi người xuống “như thế an toàn cho tổng thống”. Timmes sợ lính gác nhận ra tổng thống của họ chạy ra nước ngoài và biết đâu sẽ manh động. Timmes hỏi thăm bà Thiệu và con gái, ông Thiệu trả lời: “Họ đang shopping ở London mua đồ cổ”. Đại sứ Martin đứng chờ sẵn ông Thiệu bên cạnh chiếc máy bay C-118. Trước khi lên máy bay ông Thiệu vỗ vai cảm ơn Frank Snepp. Trong bài viết riêng của mình liên quan đến phút giây này trong quyển The Vietnam War rememberd from all sidescủa Christian G. Appy, Frank Snepp có kể rằng ông Thiệu bắt tay Snepp và nói “tiếng Anh bằng giọng Pháp” với Snepp rằng: “Cảm ơn, cảm ơn tất cả mọi chuyện”. Nhưng sau đó Snepp lại tự hỏi ông Thiệu cảm ơn chuyện gì? “Tôi nghĩ chúng ta (tức người Mỹ) đã mất 58.000 thanh niên tại đây – ông Thiệu cảm ơn chuyện đó? Hay đơn giản cảm ơn vì bản thân mình chuồn đi được?”. Đại sứ Martin theo Thiệu vào tận bên trong máy bay. Ông ta nói với Thiệu “Chúc may mắn” rồi mới bước bước trở xuống lên ô tô của mình. Chuyến bay của Thiệu mang số 231 đi Đài Loan vào lúc 9 giờ 20. Có tin đồn Thiệu mang theo 16 tấn vàng của ngân khố Sài Gòn. Thật sự số vàng vẫn ở lại miền Nam. Nhưng theo Kỳ thì “Thiệu mang theo tấn hành lý và nhiều triệu đô la tiền mặt. Ông ta không chuồn với số vàng của ngân khố quốc gia”.
Dân Sài Gòn dửng dưng (và không ngạc nhiên) khi hay sự “trốn chạy” của Thiệu ra nước ngoài. Họ không ngạc nhiên vì Nam Việt Nam đã từng chứng kiến không biết bao nhiêu những cuộc đào tẩu như thế của những kẻ một thời lãnh đạo miền Nam. Trường hợp của ông Thiệu cũng thế thôi, nằm trong sự dự đoán trước của nhiều người. Trung tá phi công Minh, bạn học của Hoàng Đức Nhã ở Lycée Yersin Đà Lạt, được Nhã kéo về chỉ huy đội bay trực thăng riêng của tổng thống Thiệu trong nhiều năm, gặp tôi tại Dinh Độc Lập tối 29-4-1975 đã bày tỏ sự bất mãn của anh với cách cư xử của Thiệu với những người đã từng là thân tín của ông ta. Tại Lycée Yersin, trung tá Minh học trên tôi hai lớp và chúng tôi từng quen biết nhau. Trung tá Minh kể rằng ông Thiệu chẳng nói gì với anh trước khi ra đi mặc dù anh là người bảo đảm tính mạng, sự an toàn cho ông Thiệu trong nhiều năm. Thiệu không cần quan tâm số phận người cộng sự thân tín của mình với gia đình anh ta rồi sẽ ra sao. Không một lời an ủi hay một cử chỉ giúp đỡ trước khi ra đi, mặc dù ông Thiệu dư biết trung tá Mình không dư dả gì trong vị trí công tác của mình. Cái đáng phục ở trung tá Minh là dù sau đó anh có điều kiện ra đi an toàn với chiếc trực thăng mà anh đang lái nhưng anh vẫn quyết định ở lại.
Ngày 25-4-1975, ông Thiệu rời Sài Gòn đi Đài Loan, coi như cuộc chiến ở Việt Nam qua 4 thời tổng thống Mỹ kết thúc.
Một sự thất trận hoàn toàn và đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ. Tuần lễ còn lại chỉ là thủ tục chính thức khai tử cuộc chiến đã trở thành nỗi nhục và vết thương không thể hàn gắn trong nhiều thế hệ người Mỹ.
Thật ra Washington đã thấy trước sự sụp đổ của miền Nam, đặc biệt từ sau quyết định của Thiệu rứt khỏi Ban Mê Thuột. Trong hồi ký của mình, Kissinger tiết lộ vào thời điểm đó, ông không tin rằng Pháp sẽ dàn xếp được một giải pháp chính trị nào đó. Các cuộc vận động của Pháp phản ánh sự tiếc nhớ của một thời thực dân đã mất ở Đông Dương hơn là đạt tới một dàn xếp thực tiễn. Do đó, từ đầu tháng 4-1975, Mỹ đã tiến hành âm thầm những chuẩn bị cho một cuộc rút chân hoàn toàn khỏi Việt Nam, làm thế nào diễn ra an toàn nhất. Kế hoạch của Mỹ là phải đưa 6000 người Mỹ và khoảng 10.000 người Việt Nam đã từng cộng tác với Mỹ ra khỏi Việt Nam.
Về những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn, xem lại các tài liệu, người ta đi đến kết luận đại sự Graham Martin “lì” hơn tổng thống Thiệu. Ông ta không tìm cách bỏ chạy sớm như Thiệu. Sau khi Thiệu ra lệnh rút khỏi Cao nguyên, lúc đầu đại sứ Martin vẫn hy vọng thực hiện một tuyến phòng thủ cho Nha Trang, Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long để giữ lại phần đất sau cùng - một đề nghị khi được thông báo về Washington đã làm điên tiết Phil Habib, trợ lý các vấn đề Đông Nam Á của tổng thống Mỹ. Và đến khi chế độ Sài Gòn sụp đổ đến nơi thì Martin vẫn hi vọng đạt tới giải pháp chính trị chính phủ liên hiệp ba thành phần (!). Washington coi các suy nghĩ của Martin là ảo tưởng. Quốc hội Mỹ mỗi ngày áp lực mạnh mẽ hơn buộc tổng thống Ford phải tiến hành khẩn cấp lệnh di tản. Ngày 14-4-l975, cả Ủy ban ngoại giao thượng viện Mỹ gọi điện trực tiếp cho tồng thống Ford tại Cabinet Room - phòng làm việc riêng của tổng thống để thúc hối tổng thống ra lệnh di tản ngay. Chuyện này chưa từng xảy ra từ thời tổng thống Woodrow Wilson. Bộ trường quốc phòng James Schlesinger và ngoại trưởng Kissinger cố gắng trình bày tình hình quân sự cho các thượng nghị sĩ nghe. Nhưng các nghị sĩ trong Ủy ban ngoại giao Mỹ phản ứng lại rằng lúc này khôngcòn là lúc bàn cãi các giải pháp mà phải nhanh chóng di tản người Mỹ, “không được kéo dài thời gian để cứu người Việt Nam” (chi tiết này trích trong hồi ký “Ending The War” của Henry Kissinger).
Trong hồi ký của mình, tổng thống Ford kể rằng ông đã gửi cho Martin một bức điện nêu ý kiến rõ ràng: ‘‘rút ra nhanh”. “Tôi sẽ cho ông một số tiền lớn để thực hiện cuộc di tản”. Nhưng Ford kể thêm rằng nghị sĩ Jacob Javits, thuộc New York, lưu ý “đừng dùng số tiền đó như một một viện trợ quân sự trá hình”. Nghị sĩ Frank Church (Idaho) thấy việc cấp tiền cho sứ quán Mỹ có thể sinh ra vấn đề nghiêm trọng, có thể dẫn tới “sự dính líu của chúng ta và một cuộc chiến mở rộng nếu chúng ta có gắng di tản tất cả những người Việt Nam đã trung thành với chúng ta”. Còn nghị sĩ Joseph Biden (Delaware) lặp lại rằng “Tôi không biểu quyết thêm một số tiền nào để đưa người Mỹ ra khỏi Việt Nam. Tôi không muốn điều này dính líu với việc di tản người Việt Nam”.
Vào lúc này, chuyện di tản người Việt Nam đã từng làm việc với người Mỹ, bị nhiều nghị sĩ coi như “một thứ nợ đời phiền toái”, một yếu tố có thể làm liên lụy đến sự an toàn của người Mỹ khi rút ra khỏi Việt Nam.
Cuối cùng Martin phải tuân lệnh di tản từ Washington nhưng ông vẫn tìm cách thực hiện quyết định này theo ý mình: kéo dài thời gian di tản người Mỹ để hạn chế sự hoảng loạn trong số người Việt dính líu với Mỹ muốn rời khỏi miền Nam.
Kế hoạch di tản của người Mỹ khởi động từ ngày 21-4-1975, liên tục cả ngày và đêm, ban ngày với máy bay C-141s, ban đêm với máy bay C130s. Những người không quan trọng được đi trước.
Để thực hiện cuộc di tản an toàn, tòa đại sứ Mỹ cần duy trì sự tồn tại chế độ Sài Gòn càng lâu càng tốt. Đại sứ Martin khi chấp nhận quan điểm của đại sự Pháp Jean Marie Merillon cần ủng hộ ông Minh thay thế ông Hương cũng vì mục tiêu ấy mà thôi. Thời gian còn lại không còn nhiều nhưng ông Hương vẫn không chịu rời khỏi cái ghế quyền tổng thống của mình bất kể áp lực từ các sứ quán Pháp và Mỹ. Bám vào lập luận mình thay Thiệu đúng theo hiến pháp, ông Hương buộc những người muốn thay ông cũng phải thông qua hiến pháp và quốc hội. Là một người ngấm ngầm say mê quyền lực, ông Hương vẫn mơ làm tổng thống và tự coi minh là một Charles De Gaulle mà ông rất ngưỡng mộ. De Gaul1e là vị cứu tinh của nhân dân Pháp trong thế chiến thứ hai, còn ông Hương thì tưởng tượng rằng mình có sứ mạng cứu Sài Gòn trước “cuộc xâm lăng của cộng sản”. Do đó khi đã có quyền lực trong tay rồi ông không dễ dàng buông ra.
Thế là các nỗ lực nhằm đẩy ông Hương ra khỏi chiếc ghế tổng thống phải hướng sang quốc hội. Ngày 26-4-l975, lưỡng viện quốc hội được triệu tập để nghe ảnh hình quân sự và quyết định người thay quyền tổng thống Trần Văn Hương. Chỉ có 136 dân biểu nghị sĩ hiện diện trên tổng số 219. Rất đông trong số họ đã chuồn ra nước ngoài. Phiên họp lưỡng viện có mặt cựu tướng Trần Văn Đôn với tư cách bộ trưởng quốc phòng, đại tướng Cao Văn Viên - tổng tham mưu trưởng quân đội VNCH, trung tướng Nguyễn Khắc Bình - tổng giám đốc cảnh sát, trung tướng Nguyễn Văn Minh - tổng trấn Sài Gòn. Các nhân vật quân sự này lần lượt thuyết trình cho các nghị sĩ và dân biểu nghe tình hình quân sự tuyệt vọng của Sài Gòn với sự dẫn chứng cụ thể trên bản đồ. Quân VNCH chỉ có 60.000 người để bảo vệ Sài Gòn. Lúc này quân giải phóng cũng có một quân số như thế nhưng tăng lên nhanh chóng từng giờ. Phần thuyết trình quân sự nhằm thuyết phục các dân biểu nghị sĩ sớm biểu quyết sự thay thế ông Hương để tìm một giải pháp chính trị. Tiếp liền đó là cuộc thảo luận của quốc hội. Có mặt trong phiên họp này ở tầng lầu trên dành cho khách còn có đại diện các tòa đại sứ, đông đảo phóng viên nước ngoài.
Các dân biểu, nghị sĩ tham dự đều biết mục đích phiên họp là đưa ông Minh lên thay ông Hương nhưng cuộc thảo luận có lúc giậm chân tại chỗ và tưởng đâu bế tắc. Những dân biểu, nghị sĩ từng bị gọi là “gia nô” vì bán mình cho tổng thống Thiệu - họ nắm đa số trong cả Thượng viện lẫn Hạ viện - do dự trong biểu quyết trao quyền ông Minh vì hai lý do: 1. Sợ phe đối lập (tức phe ông Minh) lên nắm quyền sẽ trả thù họ. 2. Sợ quân giải phóng vào Sài Gòn quá nhanh chạy không kịp sẽ nguy hại tính mạng.
Nắm rõ ảnh hình này, trong giờ giải lao tôi tiếp xúc với một số dân biểu và nghị sĩ có ảnh hưởng ở phía thân chính và đưa ra thẳng đề nghị trao đồi như sau: 1. Sẽ không có ai trong phe thân chính quyền bị trả thù vì hoạt động ủng hộ Thiệu hoặc chống phe đối lập. 2. Những ai muốn rời khỏi Việt Nam thì sẽ được chính quyền mới cấp hộ chiếu ra đi chính thức. Tôi nhấn mạnh rằng tôi nói với tư cách đại diện chính thức ông Dương Văn Minh.
Những lời hứa này - một thứ bảo đảm an toàn cho các dân biểu, nghị sĩ thân chính - đã thúc đẩy một số còn do dự.
Cuộc biểu quyết truất quyền ông Hương và trao quyền cho ông Minh được thực hiện với số phiếu gần như tuyệt đối 147/151 vào lúc 20 giờ 54 tối. Đây là kết quả từ nhiều phía, nhất là trước viễn cảnh Sài Gòn bị tấn công quân sự. Chủ tịch Thượng viện Trần Văn Lắm đã điều khiển cuộc biểu quyết này.
Bằng điện thoại tôi đã báo cáo lại cho ông Minh về “sáng kiến” riêng của tôi nhằm thúc đẩy nhanh cuộc biểu quyết và được ông tán đồng. Tôi nhớ rất rõ không khí tại trụ sở Thượng viện trước và sau cuộc biểu quyết. Kẻ thì chán nản như người sắp chết đuối là các dân biểu, nghị sĩ thuộc phe Thiệu, còn những người phe Dương Văn Minh thì hấp tấp, vội vã như sợ không còn bắt kịp cơ hội cuối cùng. Ở tầng trên của phòng họp, báo chí nước ngoài, các nhà ngoại giao nhìn xuống sự bát nháo phía dưới như những khán giả đang xem một trận cầu đầy bi kịch ở phút 90! Hai đại diện ngoại giao căng thẳng nhất vào lúc này thuộc hai tòa đại sự Mỹ và Pháp. Phiên họp lưỡng viện bắt đầu từ sáng 26-4-1975, một ngày sau khi ông Thiệu lên máy bay đi Đài Loan, kéo dài đến chiều tối mới kết thúc.
Còn tại sao quốc hội biểu quyết ông Dương Văn Minh làm tổng thống từ ngày 26-4-1975, lễ tấn phong diễn ra ngày 28-4-1975, nhưng cuộc trình diện thành phần chính phủ lại dự kiến đến ngày 30-4-1975? Trong nhóm ông Minh có bác sĩ Hồ Văn Minh và một người thích nghiên cứu khoa bói toán, xem ngày tốt ngày xấu... Bác sĩ Minh từng là phó chủ tịch Hạ nghị viện và là ứng cử viên phó tổng thống trong liên danh của ông Dương Văn Minh khi ông Minh có ý định ra ứng cử tổng thống năm 1971Theo ông “thầy bói nghiệp dư” Hồ Văn Minh thì “ngày tốt” để trình diện nội các Dương Văn Minh là ngày... 30-4-1975 và không thể sớm hơn.
Ông Minh triệu tập những người thân cận, cùng các nhóm Phật giáo, Công giáo từng tán đồng lập trường hòa bình với ông dự phiên họp trong ngày 27-4-1975 để thành lập chính phủ. Những người được mời đến buổi họp đặc biệt này - trên tầng lầu một của dãy nhà phía sau ngôi biệt thự hình bánh ít, tức Dinh Hoa Lan - đều là những người đã đồng hành với ông Minh trong những năm ông từ Bangkok trở về sau thời gian bị phe tướng Nguyễn Khánh buộc lưu vong. Hầu như không ai hiện diện trong buổi họp ngày đó xem việc phân phối các chiếc ghế trong chính phủ Dương Văn Minh như một thành đạt của cá nhân mình, cái ghế chức tước giờ đây đã trở nên hết sức nặng nề, có thể mang lai nhiều phiền toái hơn là quyền lực và danh vọng.
Ông Dương Văn Minh chọn luật sư Nguyễn Văn Huyền, từng là chủ tịch Thượng viện - một trí thức công giáo có uy tín miền Nam làm phó tổng thống. Ông Huyền được cả hai phía đối lập và thân chính kính trọng. Cách cư xử của ông với mọi người luôn từ tốn và lễ độ dù cho người đối diện nhỏ tuổi và vai vế xã hội kém hơn ông. Tôi còn nhớ những lần tiếp xúc với ông bao giờ ông cũng mở đầu câu nói “Thưa ông dân biểu” hoặc “Thưa ông trưởng khối” khi tôi làm trưởng khối dân biểu đối lập Hạ viện (khối Dân Tộc). Về nhân cách, luật sư Huyền hơn hẳn các nhân sĩ nổi tiếng khác có mặt trên chính trường Sài Gòn lúc bấy giờ như Trần Văn Hương, Phan Khắc Sửu, Mai Thọ Truyền, Trần Văn Văn…
Ở vị trí thủ tướng, ông Minh mời luật sư – nghị sĩ Vũ Văn Mẫu, đã từng là ngoại trưởng trong chính phủ Ngô Đình Diệm 12 năm về trước.Vào thời điểm chính phủ Diệm đối đầu với cuộc đấu tranh của Phật giáo và có những hành động đàn áp ác liệt, ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu đang đi công tác tại Hoa Kỳ. Ông đã cạo đầu và tuyên bố từ chức tại đây để phản đối chính sách đàn áp của gia đình ông Diệm đối với Phật giáo. Ông Mẫu để lại trong đầu tôi hình ảnh một con người có uy tín lớn về nhiều mặt, từ nghề nghiệp riêng trong giới luật sư cho đến các hoạt động chính trị qua cả hai thời kỳ Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu. Thái độ chân thành và có thể gọi dũng cảm của ông trong những ngày cuối cùng và cả khi lực lượng giải phóng vào Dinh Độc Lập khiến cho tôi nhớ mãi và kính phục.
Phó thủ tướng là bác sĩ Hồ Văn Minh đã từng là phó chủ tịch Hạ viện. Anh Minh tánh tình hiền hậu, thái độ chính trị ôn hòa nhưng luôn đứng về phía đối lập và là bạn thân thiết của anh Hồ Ngọc Nhuận. Cả hai chịu trách nhiệm Chương trình phát triển Quận 8, một chương trình xã hội mà người bảo trợ là kỹ sư Võ Long Triều - ủy viên thanh niên, tên gọi của chức danh bộ trưởng thanh niên dưới chính phủ Nguyễn Cao Kỳ.
Tôi không nhớ hết tất cả những ai được mời vào chính phủ Dương Văn Minh nhưng nếu có thiếu sót thì cũng rất ít. Chẳng hạn giáo sư Nguyễn Văn Trường được mời phụ trách Bộ giáo dục. Ông Trường đã từng là Bộ trưởng giáo dục thời chính phủ Kỳ và cả thời chính phủ Trần Văn Hương. Ông là người bạn thân thiết của giáo sư Lý Chánh Trung. Khi ông Trường làm bộ trưởng Bộ giáo dục, ông Trung là đổng lý văn phòng của ông Trường, vị trí đứng thứ hai trong bộ. Người được mời đảm trách Bộ kinh tế, nếu tôi nhớ không lầm là ông Nguyễn Võ Diệu đang là tổng giám đốc một ngân hàng. Đáng chú ý là ở Bộ quốc phòng, tổng thống Dương Văn Minh đã mời một nhân vật trong Lực lượng hòa giải dân tộc thuộc ảnh hưởng Phật giáo Ấn Quang chẳng dính dấp gì đến quân đội, đó là một giáo sư đại học trường đại học Huế, ông Bùi Tường Huân. Tôi có hỏi ông Minh về sự chọn lựa khá đặc biệt này và ông đã trả lời: “Chính phủ của mình đâu có mục đích tiếp tục chiến tranh. Một Bộ trưởng dân sự và là một giáo sư đại học làm Bộ trưởng quốc phòng thể hiện cụ thể ý muốn hòa bình của anh em mình...”.
Trong ghi chép riêng của mình, anh Hồ Ngọc Nhuận có bày tỏ quan điểm của anh lúc đó là không nhận ghế bộ trưởng nào cả. Ngay cả chuyện ông Minh được đề nghị thay ông Hương làm tổng thống, anh Nhuận cũng cố gắng thuyết phục ông Minh không nhận và khuyên nên vận động để chủ tịch Thượng viện Nguyễn Văn Huyền hoặc nghị sĩ Vũ Văn Mẫu nhận chức vụ này.
Tôi nhớ lúc đầu ông Minh có ý định giao chức tổng trưởng Bộ Thông tin cho một người khác, nhưng sau cuộc trao đổi giữa ông Minh với anh Dương Văn Ba và một vài anh em, ông Minh giao cho tôi đảm trách bộ này. Tôi cũng nhớ ông Minh có ý định giao cho anh Nhuận Bộ Xây dựng Nông thôn mà theo ông rất phù hợp tính cách của anh Nhuận. Và tôi cũng nhớ - nếu trí nhớ của tôi vẫn tốt - anh Nhuận có một phản ứng giữa phiên họp làm mọi người không thể nín cười dù lúc tình hình cực kỳ căng thẳng. Anh nói: “Nông thôn đâu còn nữa mà cần Bộ Xây dựng nông thôn, thưa đại tướng!”.
Thế là anh Nhuận được ông Minh đề nghị lãnh chức vụ Đô trưởng Sài Gòn. Trong thực tế, ngay cả với chức vụ này, anh Nhuận cũng không... quan tâm. Lúc đó do những quan hệ riêng của anh với “bên trong”, tức người của MTDTGPMN, anh biết rõ hơn nhiều anh em trong nhóm ông Minh rằng... “màn đã hạ rồi”. Chuyện lập chính phủ vào thời điềm này rồi chẳng đi đến đâu Trong 48 tiếng đồng hồ cuối cùng, nhiều anh em không thấy Nhuận ở đâu, có người thì thấy anh lúc hiện lúc… biến.
Dân biểu Nguyễn Hữu Chung, ngồi bên cạnh ông Minh trong phiên họp, được ông Minh đề nghị làm phụ tá đặc biệt của tổng thống. Anh Nguyễn Hữu Chung là người rất thẳng tính đã từ chối chức vụ này vì cho rằng nó không xứng đáng với những đóng góp của anh ngay từ đầu trong nhóm. Ông Minh cố gắng thuyết phục Nguyễn Hữu Chung, nhấn mạnh rằng chực vụ phụ tá đặc biệt tổng thống được xếp ngang hàng bộ trưởng và là thành viên của hội đồng bộ trưởng. Ông còn dẫn chứng vai trò quan trọng của phụ tá đặc biệt Nguyễn Cao Thăng bên cạnh tổng thống Thiệu! Nhưng Nguyễn Hữu Chung vẫn nhất quyết từ chối. Có lẽ vì tại miền Nam lúc bấy giờ luôn có thành kiến đối với chức vụ phụ tá đặc biệt của tổng thống qua hai nhân vật chuyên “đi đêm” và làm những việc đen tối: Nguyễn Cao Thăng và Nguyễn Văn Ngân.
Anh Dương Văn Ba được đề nghị làm thứ trưởng giáo dục nhưng không nhân và bày tỏ ý muốn chuyển sang làm thứ trưởng bộ Thông tin cùng tôi.
Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền cùng luật sư Trần Ngọc Liễng được ông Minh giao nhiệm vụ hòa đàm với MTDTGPMN. Ngoài các thành viên chính phủ, thẩm phán Triệu Quốc Mạnh được chỉ định là tổng giám đốc cảnh sát Sài Gòn.

CHƯƠNG 24: CHÍNH PHỦ CUỐI CÙNG CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA

Nhưng cuối cùng chính phủ Dương Văn Minh chính thức lúc đầu chỉ gồm bốn thành viên: Tổng thống Dương Văn Minh, phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền, thủ tướng Vũ Văn Mẫu và tổng trưởng bộ Thông tin là tôi. Việc tôi được bổ nhiệm làm tổng trưởng thông tin trước khi công bố thành phần đầy đủ của nội các xuất phát từ một nhu cầu đặc biệt của tình hình lúc bấy giờ. Ngày 26-4-1975, quốc hội biểu quyết bầu ông Minh làm tổng thống, nhưng ông Minh dự định mãi đến ngày 30-4-1975 mới trình diện thành phần chính phủ. Như thế có một ‘‘khoảng trống chính trị’‘ đến bốn ngày. Các đài truyền hình và phát thanh Sài Gòn, nhất là đài chiến tranh chính trị quân đội, tiếp tục bình luận và phát nhạc chống cộng như lúc ông Thiệu, ông Hương vẫn nắm quyền. Tôi đã chủ động trình bày với ông Minh và ông Mẫu về tình hình này: cần chấm dứt ngay các hoạt động tuyên truyền chống cộng và hiếu chiến trên truyền hình và phát thanh, nếu không đường lối hoà bình và dự định hoà giải hòa hợp của chính phủ mới sẽ phá sản trước khi ra mắt. Trong ngày 27-4-1975, dù chưa được chính thức bổ nhiệm vào bộ Thông tin (lúc đó còn có tên ‘‘Bộ thông tin và chiêu hồi”) tôi đã chủ động gặp ông Lê Vĩnh Hòa, tổng giám đốc đài phát thanh truyền hình, tại nhà riêng của ông tại đường Tự Do (nay là Đồng Khởi), nơi vợ ông có một cửa hàng bán đồ cổ, để vận động ông ra lệnh thay đổi ngay giọng điệu của cả hai đài thuộc quyền của ông. Tôi đến nhà ông vào lúc khoảng 01 giờ trưa, ông đang ăn cơm với vợ. Tôi tự giới thiệu mình và cho biết tôi sẽ được tổng thống Dương Văn Minh chính thức bổ nhiệm trong ngày mai làm tổng trưởng Thông tin. Nhưng tôi cần gặp ông ngay hôm nay vì tình thế đòi hỏi phải có một thay đổi hoàn toàn về nội dung tuyên truyền trên hai đài truyền hình, truyền thanh, càng sớm càng tốt - về đường lối kết thúc chiến tranh và đặc biệt là thái độ của chính phủ mới đối với quân giải phóng. Tôi nói ‘‘Ông có quyền không nghe tôi vì tôi chưa chính thức là tổng trưởng Thông tin, nhưng tôi tha thiết yêu cầu ông, do đòi hỏi của tình thế cấp bách, nên có một quyết định có lợi cho cái chung ngay bây giờ”.
Tổng giám đốc Lê Vĩnh Hoà không cần tôi nói gì thêm, đã đồng ý hợp tác ngay. Ông ra lệnh bỏ tất cả các loại nhạc chống cộng và ngưng phát các bài, tin, mang tính chống cộng và cổ xuý tiếp tục chiến tranh. Tôi cũng điện thoại trực tiếp cho trung tướng Trần Văn Trung, tổng cục trưởng Tổng cục chiến tranh chính trị là người đang chỉ đạo đài quân đội. Tướng Trung chỉ hứa nhưng không chấp hành.
Cũng trong ngày 26-7-1975, thừa lệnh tổng thống Dương Văn Minh, tôi cũng đã hẹn gặp cố vấn chính trị tòa đại sứ Pháp Pierre Brochand để vận động tổng thống Pháp Giscard D’Estaing có một tuyên bố chính thức trên hệ thống truyền thông Pháp hỗ trợ chính phủ mới ở Sài Gòn. Chúng tôi hẹn gặp nhau tại Xẹc Tây, tức Cercle Sportif Saigonnais (CSS), được sắp xếp như một cuộc gặp tình cờ. Địa điểm nói chuyện: hồ bơi của CSS!
Khi hai chúng tôi đang đứng ở dưới nước thì Thomas Polgar, “xếp” CIA tại miền Nam nằm dài phơi nắng cạnh hồ bơi, cách chúng tôi không bao xa. Tôi chưa từng gặp mặt Polgar nên không biết sự hiện diện của ông ta. Chính Brochand đã nói khẽ cho tôi biết sự có mặt của Polgar.
Tôi mở đầu cuộc đối thoại: “Ngày mai tôi mới được bổ nhiệm làm tổng trưởng Thông tin nhưng hôm nay tôi được tổng thống Dương Văn Minh cử làm đại diện chính thức của ông, để thông qua tòa đại sứ Pháp, yêu cầu tổng thống Pháp Giscard D’Estaing có lời tuyên bố ủng hộ chính phủ mới cùng nỗ lực tìm kiếm hòa bình của chính phủ này”. Ông Pierre Brochand trả lời rằng ông sẽ báo cáo ngài đại sứ và sẽ chuyển ngay lời yêu cầu này về Paris và ông hi vọng tổng thống Pháp sẽ lên tiếng vào ngày mai. Tôi không được nghe trực tiếp lời tuyên bố của tổng thống Pháp ngày hôm sau vì lúc đó quá bận rộn, nhưng tôi được biết yêu cầu của tổng thống Dương Văn Minh đã được chính phủ Pháp đáp ứng. Rõ ràng đường lối của Pháp trong thời điểm này là ủng hộ chính phủ Dương Văn Minh và muốn chính phủ này có một vai trò trong kết thúc chiến tranh ở Việt Nam. Dĩ nhiên Pháp hi vọng, trong hoàn cảnh này, họ sẽ có một vị trí đặc biệt ở Việt Nam.
Người Mỹ, một mặt hy vọng người Pháp thành công trong nỗ lực của mình để họ có thêm thời gian thực hiện kế hoạch rút khỏi Việt Nam, nhưng mặt khác người Mỹ lại nhìn một cách không thiện cảm các hoạt động của Pháp, cho rằng người Pháp muốn phục hồi thời thuộc địa của họ ở Đông Dương. Trong quyển Interval Decent mà cựu nhân viên CIA Frank Snepp viết về sự kết thúc chiến tranh ở Việt Nam đã vạch ra Pierre Brochand là nhân viên “Phòng nhì” (Deuxieme Bureau) tương đương với CIA của Mỹ. Frank Snepp mỉa mai Pierre Brochand muốn trở thành một Kissinger thứ hai.
Có thể nói đây là lần đầu tiên và duy nhất, tôi bàn với Pierre Brochand một vấn đề chính trị cụ thể. Trước đó quan hệ giữa Pierre và tôi chủ yếu là bạn bè, dù đôi khi có đề cập một chuyện thời sự nào đó nhưng không đi xa hơn sự trao đổi bình thường giữa hai người bạn. Pierre Brochand đẹp trai, ăn mặc lịch sự và luôn hợp thời trang, quan hệ bạn bè khá cởi mở nhưng rất thận trọng khi đề cập các vấn đề nội bộ của người Việt Nam. Ông là người Pháp đáng ghét nhất đối với ông Thiệu vì ông Thiệu cho rằng chính Brochand là người thúc đẩy và hỗ trợ các nhóm hoạt động chính trị đối lập thuộc thành phần thứ ba.
...Ngày 28-4-1975, ông Minh chính thức cử tôi làm tổng trưởng Bộ Thông tin dù chưa chính thức công bố nội các. Quyết định bổ nhiệm tôi do thủ tướng Vũ Văn Mẫu ký. Cũng như Bộ Quốc phòng dự định giao cho một người chẳng biết gì về quân sự - giáo sư đại học Bùi Tường Huân - Bộ Thông tin giao cho tôi, một người hiểu biết rất ít về người cộng sản và càng không có khả năng đảm trách “cuộc chiến ý thức hệ” mà thường bộ thông tin của các chế độ trước đây ở miền Nam luôn phải tiến hành. Ông Dương Văn Minh cũng biết rõ điều đó và rõ ràng ông có chủ đích khi chọn tôi làm tổng trưởng Bộ Thông tin, bởi tôi hoàn toàn có khả năng đóng góp vào mục tiêu tìm kiếm hòa bình của chính phủ Dương Văn Minh.
Sáng 29-4-1975 tôi đến Bộ Thông tin Chiêu hồi trên đường Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu) ở gần ngã tư Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa), nhận nhiệm vụ mới của mình. Lúc ấy cái tên của bộ giao cho tôi còn là Bộ Thông tin Chiêu hồi. Việc đầu tiên của tôi khi đến đây là chỉ thị cho người trợ lý mới của tôi là Lưu Trường Khương đổi tên bộ này thành “Bộ Thông tin”, bỏ hai chữ “Chiêu hồi”. Anh Lưu Trường Khương cùng học một khoá ở Học viện quốc gia hành chánh với tôi. Khi tốt nghiệp anh bị Trung ương tình báo trưng dụng mặc dầu anh không muốn về làm việc ở đấy. Sau đó dù đã về đây nhưng Khương vẫn tìm cách vận động, qua nhiều người có thế lực trong chính quyền, để được rời khỏi chỗ này. Cuối cùng anh phải chấp nhận về bộ Dân vận Chiêu hồi (sau này mới đổi tên Thông tin Chiêu hồi) thời Hoàng Đức Nhã để thoát khỏi một ngành hoàn toàn không phù hợp với tánh tình anh. Ngay khi còn làm ở Trung ương tình báo, thỉnh thoảng Khương đến thăm tôi và tiết lộ cho tôi biết anh bị cấp trên giao nhiệm vụ theo dõi tôi. Anh nói: “Có lúc tôi đứng hàng giờ bên kia đường nhà ông. Tôi cảm thấy hết sức nhục nhã...”. Về bộ Dân vận Chiêu hồi, Nhã giao cho Khương làm đại diện vùng 4, tức miền Tây Nam Bộ.
Không có ai chỉ thị cho tôi đổi tên Bộ Thông tin Chiêu hồi, kể cả tổng thống Dương Văn Minh hay thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Tôi tự động làm việc này. Trong buổi họp đầu tiên và duy nhất tại văn phòng tôi ở Bộ Thông tin, với tư cách tổng trưởng Thông tin tôi còn chỉ đạo cho tất cả các bộ phận trực thuộc và địa phương từ nay không gọi Việt cộng nữa mà là “quân Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam”, gọi Nguyễn Hữu Thọ là Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam. Để tránh phản ứng điên cuồng của những phần tử chống cộng quá khích, khi giải thích lý do về những sửa đổi này, tôi đã nói rằng vì chính phủ Dương Văn Minh chủ trương hoà bình nên nhất thiết phải dùng chính danh khi nói về bên kia.
Giữa phiên họp, Lưu Trường Khương đến sau lưng tôi hỏi nhỏ vào tai “Ông ở lại hay đi?”. Tôi quay đầu lại trả lời Khương: “Mình ở lại”. Khương nói tiếp: “Dứt khoát như thế nhé. Mình cũng sẽ không đến chỗ hẹn của Mỹ để được bốc đi vào lúc 15 giờ. Mình cũng ở lại”. Địa điểm mà Khương được “bốc” đi là địa điểm dành riêng cho các nhân viên tình báo.
Trước đó ba hôm (26-4-1975) từ Dinh Hoa Lan về nhà, tôi được Quỳnh Nga, vợ tôi, cho biết anh chàng thanh niên người Mỹ được tôi thuê dạy Anh văn tại nhà mới hai tháng qua (được anh Dương Văn Ba giới thiệu) có mang đến nhà một giấy giới thiệu của người Mỹ dành cho bảy người trong gia đình tôi đi tản cư bằng phương tiện máy bay. Bảy người là đúng nhân số của gia đình tôi: Hai vợ chồng và năm đứa con. Vợ tôi nhờ anh Nguyễn Hữu Thái (đang lánh nạn trong nhà tôi) phiên dịch lại với anh thanh niên Mỹ là gia đình tôi không có ý định di tản. Vợ tôi kể lại: “Em nói cảm ơn anh ta và đã trả lại tờ giấy. Em bảo chồng tôi không có ý định rời quê hương”. Tôi rất tán đồng quyết định của vợ. Về anh chàng thanh niên Mỹ này, có dịp đọc bản thảo hồi ký của anh Dương Văn Ba, tôi mới nhớ lại tên anh là Peter Porr đến dạy anh văn cho anh Ba qua sự giới thiệu của nhà báo Mỹ phản chiến John Spragens. Peter Porr là giảng viên Đại học Văn khoa Sài Gòn. Tòa đại sứ Mỹ có chủ trương ưu tiên di tản người Mỹ và tiếp đó là những viên chức cao cấp của chính quyền Sài Gòn cùng những người đã hợp tác với họ trong ngành tình báo và các cơ quan của họ tại miền Nam. Ở mỗi khu vực, họ đều giao cho một người của họ lập danh sách và tập hợp để đưa ra sân bay tránh những cản trở của giới chức trách và an ninh của chính quyền Sài Gòn. Có lẽ Peter Porr được giao lôi kéo một số nhân vật chung quanh ông Dương Văn Minh. Với hai trường hợp mà tôi được biết (anh Ba và tôi) thì Peter Porr đều thất bại!
Sau 30-4-1975 Lưu Trường Khương đi học tập cải tạo. Lúc này vì hoàn cảnh tôi không giúp được gì cho Khương. Nghe đâu Khương vẫn lạc quan, sau đó thì có tin anh qua đời vì đau ruột thừa nhưng không được phát hiện kịp thời...
...Trở lại ngày 29-4-1975, sau phiên họp tại văn phòng bộ, tôi đến đài truyền hình cố gắng thuyết phục đồng bào không tiếp tục di tản ồ ạt. Theo yêu cầu của tôi, sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm người vừa được tân tổng giám đốc cảnh sát Triệu Quốc Mạnh (cũng là một đảng viên cộng sản nhưng lúc ấy chưa lộ) trả tự do theo lệnh ông Minh cũng có mặt tại đài truyền hình. Khi chúng tôi đến đài, tổng giám đốc phát thanh và truyền hình Lê Vĩnh Hòa và nghệ sĩ Trần Văn Trạch đón tôi. Hình như lúc này anh Trạch phụ trách phần văn nghệ của đài truyền hình Sài Gòn. Đây là lần cuối cùng tôi gặp anh Trạch, người mà tôi rất mến mộ tài năng. Anh đã từng mang truyền đơn bươm bướm cổ động bầu cử Hạ nghị viện của tôi phân phát cho các cư tri khi tôi ra ứng cử dân biểu lần thứ ba (1971). Anh nổi tiếng với giọng hát nhại theo các danh ca quốc tế như Tino Rossi, Maurice Chevalier... Đặc biệt anh Trạch nhại được cả âm thanh của các cuộc đua ô tô Công thức 1 như những buổi tường thuật trực tiếp trên các đài phát thanh nước ngoài. Đời sống riêng của anh khá chật vật, do đó không có điều kiện để phát huy sở trường của anh thật đúng mức.
Bài nói của tôi trên truyền hình không được viết sẵn nên nội dung cũng không được tổng thống Dương Văn Minh hay thủ tướng Vũ Văn Mẫu duyệt. Tôi được tổng thống Dương Văn Minh dành cho một quyền hạn khá rộng rãi và một sự tin cậy cao. Bởi tôi cũng là một trong những người góp phần hình thành lập trường chung của nhóm ông Minh, nên ông Minh và ông Mẫu tin chắc tôi nắm rõ quan điểm của nhóm trong phát biểu của mình.
Trong bài nói trên truyền hình, trước hết tôi khẳng định chính phủ Dương Văn Minh là một chính phủ chủ trương hoà bình. Những ngày sắp tới chắc chắn không có tắm máu như những lời đồn đại vì rằng chính phủ Dương Văn Minh dứt khoát sẽ không đối đầu quân sự với quân giải phóng: “Bà con hãy ở lại. Mồ mả ông bà của ta ở đây, quê hương của ta ở đây”. Những lời kêu gọi này, tôi nói gần như trong nước mắt.
Để làm tăng sự sợ hãi trong dân chúng, thúc đẩy người dân miền Nam ra đi ồ ạt, ngày 16-4-1975, bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Schlesinger nói với quốc hội Mỹ rằng nếu cộng sản chiến thắng sẽ có 200.000 người Việt Nam bị giết. Ngày 18-4-1975, người phát ngôn của Lầu Năm Góc, đại tá Robert Burke, tuyên bố rằng qua các báo cáo mật mà ông ta có, ở những vùng do cộng sản mới chiếm đã xảy ra nhiều vụ trả thù đẫm máu; một số chi tiết của những vụ trả thù này thật “ghê rợn” (horrifying). Còn tờ báo quân đội Mỹ phát hành ở khu vực Thái Bình Dương “Stars and Stripes” có bài báo với cái tít lớn “Ít nhất một triệu người Việt sẽ bị tàn sát”. Tôi nhớ lại lời kể của phóng viên ảnh của AP, Carl Robinson, rằng tòa đại sứ Mỹ có chủ trương tung những tin thất thiệt để gây hoảng loạn trong dân chúng Việt Nam trước sự tiến quân của quân giải phóng và thúc đẩy một cuộc di tản ồ ạt. Đặc phái viên của tờ Der Spiegel (Đức), Tiziano Terzani kể rằng ông nhận được một tin khẳng định một linh mục công giáo tại Ban Mê Thuột di tản không kịp bị cộng sản chặt làm ba khúc! Nhưng chỉ ít ngày sau chính vị linh mục này có mặt tại Sài Gòn “người ông vẫn nguyên vẹn”. Ở Ban Mê Thuột cũng có tin có 300 người bị cộng sản giết nhưng sau đó Tiziano Terzani xác nhận được rằng số người này chết vì bom do máy bay quân đội Sài Gòn thả xuống theo lệnh của tổng thống Thiệu khi thành phố được cộng sản giải phóng (Saigon 1975– Tiziano Terzani). Tung tin như thế để thúc đẩy người dân miền Nam ồ ạt rời bỏ quê hương mình, hàng ngàn người đã bỏ xác ngoài biển là một tội ác lớn.
...Tôi không hề có một thông tin nào về thái độ cuối cùng của quân giải phóng – đánh hay không đánh vào Sài Gòn – nhưng trong bài nói chuyện của tôi với dân chúng Sài Gòn trên truyền hình ngày 29-4-1975, tôi vẫn mạnh dạn cam đoan rằng sẽ không có trận đánh đẫm máu cuối cùng như cả Sài Gòn đang lo sợ. Tại sao? Lúc đó chỉ bằng suy đoán, căn cứ vào những phân tích và đánh giá chủ quan của tôi về lập trường của người cộng sản qua hai cuộc chiến mà họ tiến hành chống Pháp và chống Mỹ - đều là cuộc chiến yêu nước – tôi tin như đinh đóng cột rằng nếu quân đội Sài Gòn không tiếp tục đối đầu và nổ súng thì quân giải phóng cũng không bao giờ đánh vào Sài Gòn. Do đó sẽ không bao giờ có cuộc “tắm máu” như đã được loan truyền trong những ngày qua từ toà đại sứ Mỹ khiến cho người dân miền Nam ùn ùn tìm mọi cách để ra đi.
Trước khi kết thúc bài nói chuyện trên truyền hình, tôi mời anh Huỳnh Tấn Mẫm xuất hiện bên cạnh tôi và giới thiệu: “Đây, sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm bằng xương bằng thịt, vừa được trả tự do, đúng như lời hứa của chính phủ Dương Văn Minh trả tự do cho tất cả những người tù chính trị”. Cho đến lúc này anh Huỳnh Tấn Mẫm vẫn tiếp tục đóng vai một thanh niên trí thức hoạt động chống Thiệu tại Sài Gòn chứ không phải một đảng viên cộng sản hoạt động trong hàng ngũ của MTDTGPMN. Như đã nói chính quyền Thiệu nhiều lần toan tính trao trả anh Mẫm cho MTDTGPMN tại Lộc Ninh (để chứng minh anh là một người cộng sản) nhưng anh Mẫm luôn từ chối và đòi được trả tự do tại Sài Gòn.
Một cựu dân biểu có kể rằng vào những ngày giữa tháng 3-1975 sau khi Ban Mê Thuột thất thủ và cả Vùng 2 chiến thuật lần lượt tháo chạy, tướng Nguyễn Cao Kỳ đề nghị có cuộc tiếp xúc với tướng Dương Văn Minh. Tướng Minh đồng ý tiếp. Trong cuộc gặp này, tướng Kỳ đề nghị hợp tác với tướng Minh trong nỗ lực ngăn chặn làn sóng tiến công của cộng sản. Tướng Kỳ đưa ra giải pháp quân sự: lấy Cần Thơ làm thủ đô, gom tất cả lực lượng hải quân, không quân và bộ binh làm vành đai bảo vệ phần đất còn lại từ bến phà Cần Thơ trở về phía dưới miền Tây như Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Châu Đốc, Long Xuyên, Trà Vinh, Rạch Giá... Nhưng kế hoạch này không được ông Minh chấp nhận.
Tháng 2-2002 khi cựu tướng Nguyễn Cao Kỳ trở về quê hương lần đầu sau 1975, tôi có gặp lại ông. Trong một buổi cơm trưa, tôi hỏi ông Kỳ trong những ngày cuối cùng trước khi quân giải phóng vào Sài Gòn ông có gặp ông Minh để bàn về cuộc hợp tác không thì ông Kỳ cho biết không có cuộc gặp đó. Ông nói với tôi: ‘‘Tối 27-4-1975, tôi có điện tôi có điện thoại cho tùy viên quân sự của ông Minh là Đại tá Trương Minh Đẩu để yêu cầu gặp ông Minh bàn về sự hợp tác trong cuộc đối đầu với sự tiến quân của cộng sản. Đại tá Đẩu báo cáo với ông Minh và trả lời với tôi rằng ông Minh đang bận họp, sẽ gọi điện lại. Sáng 28-4-1975, đại tá Đẩu báo rằng ông Minh sẵn sàng tiếp tôi tại Dinh Độc Lập. Lúc đó tại nhà tôi có tướng Nguyễn Bảo Trị và một số bạn bè khác. Anh em khuyên tôi không đi vì đã quá muộn để có thể làm gì. Như thế vào những ngày cuối cùng, tôi không hề gặp ông Minh’‘. Cũng về những sự kiện xảy ra vào thời điểm tháng 4-1975, ông Kỳ còn kể rằng, trước đó khi ông Trần Văn Hương vừa lên thay ông Thiệu rút khỏi cương vị tổng thống, ông có tự động đi gặp quyền tổng thống Hương và đề nghị với ông Hương là ông sẵn sàng đứng đầu quân đội để chỉ huy cuộc chiến “ngăn chặn cộng sản”. “Ông Hương khéo léo từ chối bằng cách bảo rằng trước đây tôi là phó tổng thống mà bây giờ bổ nhiệm tôi làm tổng tham mưu trưởng thì... coi không được. Ý ông nói chức vụ này nhỏ hơn. Cho ông suy nghĩ thêm vài ngày. Tôi liền bảo trong vài ngày nữa miền Nam đâu còn nữa để cụ và tôi còn gặp nhau!”. Câu chuyện giữa ông Kỳ và ông Hương chưa hết ở đây. Ông Kỳ kể tiếp “Anh có biết không, cái ông già đó thật hết nói. Sau khi ổng bị quốc hội truất quyền và trao cái ghế tổng thống cho ông Minh thì chính ông lại điện thoại cho tôi và nói với tôi: bây giờ anh muốn làm gì cứ làm. Có nghĩa là ông già Hương xúi tôi đảo chính!”.
...Chiều 28-4-1975 vào lúc 16 giờ 45 buổi lễ bàn giao giữa quyền tổng thống Trần Văn Hương và tân tổng thống Dương Văn Minh diễn ra tại dinh Độc Lập. Thật sự ông Minh không bao giờ muốn có một buổi bàn giao như thế này. Ông vẫn từ chối trở thành người kế tục tổng thống Nguyễn Văn Thiệu theo hiến pháp của Đệ nhị Cộng hoà mà ông hoàn toàn phủ nhận giá trị của nó. Ông Minh muốn mình nhận một sự uỷ quyền khác của người dân miền Nam, có một nền tảng tín nhiệm của quần chúng thực sự. Nhưng bối cảnh lịch sử bấy giờ không cho ông có một chọn lựa nào khác. Ông Minh và những người cộng sự gần gũi với ông tự đặt cho mình một nhiệm vụ lịch sử cần kíp hơn, hệ trọng hơn: Bằng mọi giá truất quyền tiếp tục chiến tranh đang còn trong tay của phe Thiệu - để tránh xảy ra trận cuối cùng đổ máu làm hoang tàn Sài Gòn. Bởi ông Trần Văn Hương thay tổng thống Thiệu vẫn tuyên bố “quyết tiếp tục chiến đấu để giữ đến tấc đất cuối cùng”.
Tại Dinh Độc Lập, đọc xong bài diễn văn giao quyền của mình, quyền tổng thống Hương bắt tay ông Minh – tân tổng thống – và nói: “Nhiệm vụ của Đại tướng rất nặng nề”. Câu nói chứa đựng sự mỉa mai và cả sự hoài nghi của ông Hương về khả năng ông Minh tìm một giải pháp thương thuyết hoà bình cho miền Nam. Khi tân tổng thống Dương Văn Minh vừa bắt đầu đọc bài diễn văn nhậm chức của mình thì sét đánh ầm ầm, một trận mưa to chưa từng có trong nhiều năm ập xuống Sài Gòn. Thậm chí quan khách dự lễ không nghe được ông Minh nói gì. Nhiều người cho đó là một điểm gở cho tân chính phủ. Tôi không ngồi ở những hàng ghế dành cho các nhân vật chính phủ hay dân biểu nghị sĩ. Tôi đứng ở một góc cuối phòng gần chỗ dành cho các nhà báo nước ngoài. Cái không khí chung của buổi lễ nhậm chức thật buồn não. Nhiều người đã thấy trước sự vô ích của buổi lễ này. Một tân tổng thống chẳng có quân đội, lực lượng, chẳng còn đất đai. Một tổng thống của Sài Gòn thì đúng nghĩa hơn là một tổng thống của miền Nam. Và cái chức vụ ấy gần như trống rỗng.
Diễn văn nhậm chức tổng thống của ông Dương Văn Minh rõ ràng đã phản ánh lại hai áp lực mà ông không thể không tính đến: Một mặt quân đội VNCH vẫn còn đó, và dù hiện rất xơ xác, nhưng vẫn còn điều kiện để phản ứng điên rồ nếu họ thấy mình bị “phản bội”; mặt khác tân tổng thống Dương Văn Minh phải chứng minh được với “phía bên kia” đây là một chính phủ không có mục đích đeo đuổi chiến tranh, mong muốn được thương thuyết hoà bình. Kết quả bài diễn văn nửa vời ấy bị coi là nhợt nhạt, không tạo ra được một lực đẩy mới mạnh mẽ và dứt khoát hướng tới con đường chấm dứt chiến tranh.
Thật khó cho chính phủ Dương Văn Minh vào thời điểm này nghiêng hẳn lập trường bắt tay với quân giải phóng. Những đồn đãi về một cuộc đảo chánh từ các phe chống cộng râm ran khắp nơi. Nhất là từ phía lực lượng không quân thuộc ảnh hưởng của tướng Nguyễn Cao Kỳ. Từ khi quốc hội biểu quyết cử ông Minh thay ông Hương, lực lượng không quân ở Tân Sơn Nhất đã đóng cổng, chối từ nhận lệnh điều động của tổng thống Minh!
Khi ông Minh và đoàn tuỳ tùng vừa từ Dinh Độc Lập trở về Dinh Hoa Lan thì nghe vang lên những tiếng nổ làm rung chuyển cả Sài Gòn. Các loại súng ở Dinh Độc Lập và Hải quân ở bến Bạch Đằng bắn lên như điên nhưng chẳng biết bắn vào mục tiêu cụ thể nào. Lúc đó tôi đang ở tại văn phòng báo chí của ông Minh nằm ở cổng sau Dinh Hoa Lan, cùng một số anh em khác. Mọi người đều chui xuống bàn. Chưa kịp trao đổi với nhau, nhưng tất cả đều nghĩ phe Kỳ đảo chính. Có người còn đặt ra giả thuyết: có khả năng Kỳ dội bom xuống Dinh Hoa Lan. Liền đó, trung tướng Mai Hữu Xuân, người thân tín của ông Minh ra lệnh anh em rời Dinh Hoa Lan. Tôi cùng ông Minh, bà Minh và một số người di chuyển đến một biệt thự nằm trên đường Phùng Khắc Khoan, cách Dinh Hoa Lan 500 mét đường chim bay và chỉ cách tư dinh của đại sứ Mỹ Graham Martin khoảng 100 mét. Nhà này hình như của một tư sản gốc Hoa, bạn của tướng Mai Hữu Xuân. Tại đây tướng Xuân mới được báo cáo: các tiếng nổ là do máy bay Việt cộng oanh kích xuống phi trường Tân Sơn Nhất. Có tất cả năm chiếc A-37s – mà quân giải phóng mới chiếm được - xuất phát từ Nha Trang đã tham gia cuộc tấn công dưới sự chỉ huy của trung uý phi công Nguyễn Thành Trung. Đây là cuộc tấn công thứ hai của Nguyễn Thành Trung từ khi ông rời quân đội Sài Gòn vào vùng giải phóng (tin tức sau này cho biết ông Trung là đảng viên cộng sản nằm vùng từ lâu được cài trong binh chủng không quân Sài Gòn). Trong số phi công dội bom sân bay Tân Sơn Nhất, chỉ có Nguyễn Thành Trung là thông thạo loại chiến đấu cơ của Mỹ. Bốn phi công còn lại trước đó chỉ lái Mig. Điều này khiến cho giới quân sự Sài Gòn và Mỹ kinh ngạc. Mặt khác vì ở trại Davis vẫn còn phái đoàn quân sự của MTDTGPMN nên giới quân sự Sài Gòn vẫn nghĩ rằng quân giải phóng không dám cho máy bay oanh tạc khu vực này.
Tướng Xuân cho điều động một số xe tăng đến bảo vệ Dinh Hoa Lan. Các liên lạc với căn cứ không quân ở Tân Sơn Nhất vẫn không thực hiện được. Khoảng hơn 10 giờ đêm, ông Minh và đoàn tùy tùng trở về Dinh Hoa Lan.
Tôi không biết Đô đốc Chung Tấn Cang, tư lệnh Hải quân, vào Dinh Hoa Lan tối 28-4-1975 gặp ông Dương Văn Minh nói gì về quyết định ra đi của ông. Nhưng sau đó trong giới thân cận của ông Minh hay tin ông Minh đã chấp nhận cho con rể của mình là đại tá Đài đưa con gái và hai cháu ngoại của ông lên tàu hải quân cùng đi di tản với Đô đốc Chung Tấn Cang. Vào lúc này có lẽ ông Minh đã biết chuyện thương thuyết với quân giải phóng là vô vọng. Các tin tức từ đại sứ Pháp Jean Marie Merillon và cố vấn chính trị Pierre Brochand không có sự tiến triển nào cả. Vai trò trung gian của Pháp cho một giải pháp chính trị mà lúc đầu họ rất tự tin cuối cùng trở nên vô vọng.
Sau này đọc quyển sách Cruel April của Olivier Todd, tôi ngạc nhiên vô cùng được biết trong lần gặp ông Minh cuối cùng tại Dinh Hoa Lan, đi theo Chung Tấn Cang còn có hai sứ giả của ông Trần Văn Hựu, cựu thủ tướng thời Bảo Đại. Hai sứ giả này là Lê Quốc Tuý và Mai Văn Hạnh. Họ đề nghị ông Minh mời ông Hựu về làm thủ tướng “vì Hà Nội và Chính phủ Cách Mạng lâm thời tán đồng vai trò của ông Hựu”. Nhưng ông Minh đã dất khoát từ chối những gợi ý của hai người này. Tôi không biết rõ điều tiết lộ của Olivier Todd có đúng sự thật hay không. Trong giới thân cận của ông Minh, mãi cho đến sau này, không ai nhắc đến sự kiện này.
Cũng trong ngày 28-4-1975, cựu dân biểu Ngô Công Đức từ Paris về đến Bangkok cũng có liên lạc với ông Dương Văn Minh qua trung gian của dân biểu Hồ Ngọc Nhuận. Nhắc lại: Đức rời khỏi Sài Gòn tháng 8-1971 sau khi thất bại trong nỗ lực tái cử của mình vì bị chính quyền Thiệu gian lận. Ngô Công Đức dự định trở về Sài Gòn nhưng từ ngày 26-4-1975 máy bay dân sự không còn được phép đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất. Đức đã phải quay lại Bangkok. Trong cuộc điện đàm với ông Dương Văn Minh, anh Đức nói rằng đến lúc này không có giải pháp chính trị cho sự kết thúc chiến tranh Việt Nam. Ông Minh hỏi anh Đức: “Toa thấy không còn cách nào à ?”. Anh Đức trả lời: “Thưa Đại tướng, theo tôi không có cách nào!”. Gặp Đức sau 1975, tôi có hỏi anh sự khẳng định đó anh có từ đâu. Đức nói theo nhận định riêng của anh qua các tiếp xúc chứ không là tin chính thức từ đâu cả.
Ông Minh nhận trách nhiệm trước lịch sử ở lại đóng nốt vai trò của mình bất kể sự việc kết thúc sẽ ra sao. Sự ra đi của con gái và hai cháu ngoại giúp cho ông nhẹ bớt âu lo chuyện riêng tư. Bà Dương Văn Minh thì vẫn ở lại bên chồng.
Mãi đến 12 giớ đêm tôi mới về đến nhà ở đường Nguyễn Tri Phương. Vợ tôi chưa ngủ, vẫn thức chờ tôi. Năm đứa con đã ngủ. Đứa lớn nhất Lý Quí Hùng 13 tuổi, kế đó Lý Quí Dũng 11, Lý Quí Trung 9 tuổi, Lý Quỳnh Kim Trinh – con gái duy nhất – 7 tuổi và Lý Quí Chánh nhỏ nhất mới 5 tuổi. Trong giấc ngủ, chúng như những thiên thần. Trong đầu tôi bỗng lóe lên một ý nghĩ: chiếc thuyền tôi đang lèo lái chở khẳm quá, trong khi biển đang sóng to gió lớn, chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra. Nước mắt như chực trào ra. Không biết tại sao. Nhưng tôi kịp ngăn lại. Thay quần áo xong, tôi để một băng nhạc Trịnh Công Sơn vào máy AKAI, bật lên và nằm dài trên thảm. Nhiều lần tôi đã làm như thế sau một ngày chống Thiệu gay go. Với tôi, nhạc Trịnh Công Sơn luôn là một liệu pháp tinh thần kỳ diệu.
Người con gái Việt Nam da vàng
Yêu quê hương như yêu đồng lúa chín
Người con gái Việt Nam da vàng
Yêu quê hương nước mắt lưng dòng...
Em chưa biết quê hương thanh bình
Em chưa thấy xưa kia Việt Nam
Em chưa hát ca dao một lần
...
(“Người con gái Việt Nam”, Ca khúc da vàng)
Cha mẹ tôi chưa biết quê hương thanh bình. Tôi cũng chưa biết quê hương thanh bình một ngày nào. Hy vọng thanh bình ấy sẽ đến với các con tôi chăng? Mây đen đang vần vũ trên bầu trời nhưng ánh sáng tươi đẹp đang ló dạng? Tôi thiếp ngủ lúc nào không biết...
Bộ mặt của Sài Gòn sáng 29-4-1975 khác hẳn ngày hôm trước. Đó là những dấu hiệu đầu tiên của hoảng loạn. Từ nhà riêng ở đường Nguyễn Tri Phương ra Dinh Hoa Lan, ô tô của tôi được hai chiếc xe Jeep của cảnh sát bảo vệ. Một chiếc chạy phía trước và một chiếc chạy bọc sau.
Trước khi bước lên xe, tôi nhận ra sự hiện diện của bốn viên cảnh sát đã từng theo dõi tôi đứng trong tư thế sẵn sàng bên chiếc xe đi theo bảo vệ. Khi ông Thiệu bỏ chạy ra nước ngoài, bốn viên cảnh sát này liền liên hệ với những người bảo vệ tôi và ngỏ ý nhập vào toán cận vệ của tôi nếu ông Minh trở thành tổng thống. Và tôi đã chấp nhận. Họ và tôi chẳng có gì để hận thù nhau. Họ chỉ làm phận sự do cấp trên giao.
Đoàn xe của tôi vừa ra đến đường Trần Quốc Toản (nay là đường Ba Tháng Hai) thì chứng kiến một vụ lính thuỷ quân lúc chiến cướp xe gắn máy của một người đàn ông. Cận vệ của tôi - Nguyễn Văn Bé – cho biết tối hôm qua tại thành phố đã xảy ra một số vụ binh lính đào ngũ dùng súng cướp nhiều tiệm vàng và cửa hàng. Trên đường đến Dinh Hoa Lan, tôi không thấy một bóng dáng nào của cảnh sát giữ trật tự và an ninh ở các ngã đường. Trong đầu tôi hiện lên những cảnh cướp bóc mà thành phố Đà Nẵng đã trải qua trước khi quân giải phóng có mặt. Tôi nghĩ: “Làm sao tránh cho Sài Gòn tai hoạ này?”.
Tổng giám đốc cảnh sát là trung tướng Nguyễn Khắc Bình đã bỏ chạy, chỉ còn phó tổng giám đốc là thẩm phán Phạm Kim Qui. Tối 28-4-1975, theo lệnh của tổng thống Minh, anh Dương Văn Ba điện thoại cho ông Qui yêu cầu cho ông ta bằng tất cả khả năng còn lại của Tổng nha cảnh sát cố gắng giữ trật tự trị an, đừng để xảy ra cướp bóc, nhất là vào ban đêm. Phạm Kim Qui cho biết ông ta còn có thể điều động được một sư đoàn cảnh sát dã chiến và sẽ cố gắng thực hiện chỉ thị của tổng thống Minh. Ngày 28-4-1975, theo yêu cầu của tôi, anh Ba (lúc này là thứ trưởng bộ Thông tin) cũng đã liên hệ với Phạm Kim Qui điều động một đại đội cảnh sát dã chiến bảo vệ an ninh khu vực Bộ Thông tin. Điều đáng nói là lúc này chúng tôi, sợ binh lính VNCH đào ngũ làm bậy hơn là sợ Việt cộng tấn công!
Khi tôi đến Dinh Hoa Lan trong phòng khách chỉ có ông Minh và vợ tôi (đã ra đây bằng ô tô riêng chờ tôi). Ông Minh hỏi tôi tình hình bên ngoài như thế nào? Tôi tường thuật cho ông Minh nghe vụ cướp trên đường Trần Quốc Toản và không khí trên phố, kể cả những gì được anh cảnh sát cận vệ kể lại. Tiếp theo đó, tôi thẳng thắn bày tỏ suy nghĩ của mình:
“Thưa đại tướng (trong sự thân mật, tôi và những người thân cận vẫn gọi ông Minh là đại tướng dù ông đã là tổng thống) tôi thấy tình hình rất nguy ngập, nhất là đối với dân thường. Không còn ai bảo vệ trật tự an ninh của thành phố. Sài Gòn hiện giờ là một thành phố không còn luật pháp. Tôi lo ngại Sài Gòn sẽ bị cướp bóc và hỗn loạn như ở Đà Nẵng mà mình thì bó tay. Thưa Đại Tướng, tôi nghĩ mình nên tuyên bố “Sài Gòn bỏ ngỏ” – ville ouverte – và để quân giải phóng kiểm soát và bảo vệ an ninh cho thành phố. Chỉ có cách đó là tránh cho Sài Gòn khỏi hỗn loạn...”
Liền đó tôi đưa thêm một ý kiến: Không nên công bố việc chuyển giao quyền hành cho quân giải phóng ngay vì như thế Sài Gòn sẽ trải qua một đêm vô chính phủ cực kỳ nguy hiểm. Tôi đề nghị sáng mai hãy công bố. Quyết định này sẽ được giữ kín trong một số rất ít người.
Sáng hôm sau các thành viên của tân nội các vẫn tụ tập tại phủ thủ tướng ở đại lộ Thống Nhất (nay là đường Lê Duẩn) chờ dự lễ gia mắt. Nhiều người thân cận ông Minh, trong chiều 29-4-1975, cũng chưa hay quyết định này, ngoại trừ thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Hình như phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền cũng không được thông báo.
Quyết định của ông Minh có thể không xuất phát hoàn toàn từ đề xuất của tôi. Một số vị khác có thể cũng có đề xuất như vậy. Ý nghĩ ấy có lẽ cũng đã ở sẵn trong đầu của ông Minh trước đó. Những tin tức bế tắc từ sứ quán Pháp, cuộc trao đổi với anh Ngô Công Đức từ Paris... chắc chắn đã có ảnh hưởng vào suy nghĩ của ông. Hơn nữa ông Minh là một nhà quân sự nên cũng rất hiểu tình hình lúc đó là như thế nào.
Sau khi quyết định, ông Minh liền giao việc soạn thảo bản tuyên bố cho bác sĩ Hồ Văn Minh. Tôi không biết sau đó bác sĩ Hồ Văn Minh có nhận lời không, và có thêm ai khác tham gia soạn thảo bản tuyên bố này không.
Chiều tối, trung tướng Vĩnh Lộc - tổng tham mưu trưởng – cùng chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh (từ lâu đã đứng về phía cách mạng, là cơ sở của Ban binh vận miền Nam) – lúc này là phụ tá tổng tham mưu trưởng vào Dinh Hoa Lan thuyết trình lần cuối tình hình quân sự và an ninh quanh khu vực Sài Gòn. Cuộc thuyết trình càng khẳng định tình thế hoàn toàn tuyệt vọng đối với quân đội VNCH.
Sau khi hai tướng lĩnh này ra về, tôi đề xuất với ông Minh nên vào Dinh Độc Lập ngủ đêm nay. Vừa nghe đề nghị của tôi, ông Minh đã cực lực phản đối: “Tôi không bao giờ vào Dinh Độc Lập dù có tồn tại trên cái ghế tổng thống. Tôi đã nói điều đó với anh em rồi”. Đúng là trong khi đấu tranh giành chính quyền, ông Minh đã từng nói với những cộng sự viên thân tín của mình rằng dù ông có trở thành tổng thống ông cũng không vào trong Dinh Độc Lập, mà vẫn tiếp tục ở Dinh Hoa Lan của mình. Nhưng ông có nói với tôi: “Mình sẽ vào đó đánh quần vợt” (Phía sau Dinh Độc Lập có hai sân quần vợt giành cho ông Thiệu và bạn bè thân tín của ông). Cách ông Minh nói “Mình sẽ vào đó đánh quần vợt” có thể được hiểu quyết tâm của ông Minh hạ bệ tổng thống Thiệu.
Tôi phải giải thích rõ hơn ý kiến của mình: “Thưa đại tướng, ở lại đây đêm nay rất nguy hiểm cho tính mạng của đại tướng. Chỉ một quả pháo kích không biết từ đâu đến rơi vào đây là chúng ta sẽ bị tiêu diệt. Sáng mai sẽ không ai có đủ thẩm quyền tuyên bố ngừng bắn và chuyển giao quyền cho quân giải phóng. Vì quyền lợi chung, tôi nghĩ đại tướng nên vào Dinh Độc Lập đêm nay. Ở đó có tầng hầm chống lại các cuộc pháo kích và ném bom”.
Sau một phút suy nghĩ, ông đồng ý vào Dinh Độc Lập. Lúc đó khoảng 9 giờ tối.
Từ Dinh Hoa Lan, ra cổng trước, đi theo đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai), đến đường Công Lý (nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa) rẽ trái là đến cổng chính vào Dinh Độc Lập. Đường đi chưa đến một ngàn mét. Trong Dinh Hoa Lan có hai chiếc ô tô đều được dùng cho cuộc di chuyển này. Ngoài ra cũng có một số xe khác đậu ở cổng sau. Vợ chồng tôi đi xe chung với ông bà Dương Văn Minh. Vì có khá đông người, trong đó có cả gia đình của một số dân biểu nghị sĩ, nên không đủ xe đi. Một số phải đi bộ. Đoàn người, vừa đi xe vừa đi bộ, kéo dài trên đường đến Dinh Độc Lập.
Vào đến Dinh Độc Lập đoàn người chia nhau tìm chỗ ngủ qua đêm. Dinh quá lớn, đủ chỗ cho mọi người. Dĩ nhiên phải sử dụng cả những phòng làm việc. Đầu tiên ông Minh và các cộng sự thân cận của ông được đi xem tầng hầm, nơi đây ông Thiệu dùng để đối phó với các cuộc đảo chính bất ngờ, có thể an toàn tiếp tục chỉ huy cuộc phản công. Phòng trú ẩn rất rộng, trang bị đầy đủ hệ thống truyền tin và liên lạc vô tuyến với đủ loại bản đồ quân sự của Sài Gòn và cả miền Nam.
Khi sĩ quan trong dinh hướng dẫn ông bà Dương Văn Minh đến phòng ngủ của ông bà Thiệu trước đây ở tầng hai, chúng tôi đi qua hành lang phía sau dinh, từ đây, xuyên qua hàng cây sao, ông Minh và tôi nhìn thấy sân quần vợt. Tôi còn nhớ câu nói đùa của ông trước đó: “Mình vào đây rồi và nhìn thấy nó nhưng mình sẽ không có cơ hội cầm vợt bước ra sân”.
Ông bà Minh mời vợ chồng tôi và vợ chồng dân biểu Nguyễn Hữu Chung vào ở chung phòng. Phòng ngủ của ông bà Thiệu khi chúng tôi đến đã trống trơn! Trên thảm, trước giường ngủ chỉ còn bộ da cọp nằm đó trơ trọi. Trong phòng tắm không có một cục xà bông nào. Nhớ sực hồi chiều chưa dùng cơm, tôi hỏi viên sĩ quan trong dinh có gì để ăn không. Viên sĩ quan này bối rối trả lời rằng không còn gì cả dù chỉ là một miếng bánh mì và thịt nguội!
Ông Minh nhìn xuống bãi cỏ trước dinh, thấy hai chiếc trực thăng dành riêng cho tổng thống vẫn nằm yên đó. Ông quay vào bảo người tuỳ viên quân sự là thiếu tá Hoa Hải Đường hỏi xem hai viên phi công trực thăng còn có mặt ở đây không, nếu còn, mời họ đến gặp ông. Một lúc sau, hai viên phi công trình diện ông Minh. Đó là trung tá Nguyễn Văn Minh và đại uý Tạ Duy Báo. Trung tá Minh từng học chung với Hoàng Đức Nhã ở trường trung học Pháp Lycée Yersin Đà Lạt. Tôi cũng quen biết Minh khi học trường Yersin. Minh học trên tôi hai lớp. Có lẽ anh được Nhã gọi về phụ trách đội bay trực thăng của ông Thiệu là do mối thân tình bạn bè ở Yersin. Còn Tạ Duy Báo, tuy là phi công nhưng thường có mặt trên sân quần vợt nhiều hơn. Anh là đấu thủ số một của Xẹc Tây. Anh còn được xếp hạng vào một trong năm cây vợt mạnh nhất của miền Nam, đứng sau Võ Văn Bảy, Võ Văn Thành, Lý Aline, Dương Văn Minh (trùng tên với Đại tướng Dương Văn Minh). Anh Báu có cú đánh rờve (trái tay) hồi mã thương rất mạnh và bất ngờ. Hoàng Đức Nhã quen biết Báu trên sân tennis và rút anh về bổ sung ê kíp lái trực thăng cho người anh bà con mình ở Dinh Độc Lập.
Ông Minh hỏi hai viên phi công: “Trực thăng có đủ nhiên liệu bay ra Đệ thất hạm đội hay không?” Hai viên sĩ quan nghĩ tổng thống Minh và đoàn tuỳ tùng định ra đi, liền báo cáo “đủ và an toàn”. Ông Minh chuyển sang hỏi thăm gia cảnh của hai người. Trung tá Minh than phiền cách đối xử của ông Thiệu đối với các nhân viên thuộc cấp như anh. Khi ông Thiệu ra đi ông chẳng có một quan tâm gì về những người đã từng sát cánh với ông và bảo đảm mạng sống của ông trong thời gian dài. Ông Dương Văn Minh đã gặp và có dịp chơi bóng với Tạ Duy Báu một đôi lần. Báu còn rất trẻ, lúc đó chỉ khoảng 26-27 tuổi. Anh chẳng nói gì cả, chắc trong đầu anh lúc này chỉ nghĩ về gia đình, âu lo không biết có chạy kịp trước khi cộng sản vào Sài Gòn. Ông Minh đột ngột nói với hai viên phi công “Tôi không đi đâu. Tôi cho phép anh em ai muốn đi cứ sử dụng cả hai chiếc trực thăng”.
Trung tá Minh nói ngay anh không đi, chỉ có Báu đi. Hai chiếc trực thăng đã rời khỏi Dinh Độc Lập khi trời còn tối để tránh phản ứng của binh lính đang còn bảo vệ dinh. Tôi không biết mỗi chiếc mang theo bao nhiêu người.
...Trong phòng ngủ của ông Thiệu chỉ có một cái giường – dành cho ông bà Minh. Tôi không biết ông bà có chợp mắt được hay không. Vợ chồng tôi và vợ chồng Nguyễn Hữu Chung ngả lưng trên sàn có trải thảm cạnh đó. Vợ tôi và vợ Chung Nguyễn rì rầm nói chuyện với nhau cả đêm.
Chỗ Chung Nguyễn và tôi nằm, nhìn thẳng ra đại lộ Thống Nhất. Trước mắt chúng tôi là quang cảnh máy bay trực thăng liên tục đáp xuống sân thượng tòa đại sứ Mỹ bốc người đưa ra Đệ thất hạm đội, tạo nên một vầng sáng kỳ lạ, nhìn từ xa như một đám cháy lớn. Thật khó tả tâm trạng của tôi trước quang cảnh này. Tôi tưởng như những người được bốc đi là những người thân của mình, vĩnh viễn không bao giờ được gặp lại. Có cái gì trì nặng trong lồng ngực. Nước mắt ứa ra lúc nào không hay. Đúng lúc đó tôi bỗng nghe Chung Nguyễn nói nhỏ vào tai tôi: “Mai tao đi. Con tao còn nhỏ quá, bên vợ không ai chịu ở lại...”. Con của Chung Nguyễn lúc đó mới được sáu-bảy tháng. Lấy vợ khá lâu anh mới có con, có lúc tưởng đâu hết hy vọng. Gia đình bên vợ là người Bắc di cư vào Nam năm 54 sau Hiệp định Genève. Hoàn cảnh của Chung Nguyễn thật khó ở lại. Biết được quyết định của người bạn đã gắn bó với mình trong suốt những năm tháng hoạt động chung ở quốc hội tôi sững sờ nằm lặng yên. Bởi tôi biết lời khuyên của tôi trong trường hợp này là vô ích. Chung Nguyễn là người bạn thân nhất của tôi dù đôi khi chúng tôi có quan điểm khác nhau. Ở Sài Gòn lúc đó người ta quen gọi phân biệt hai Chung và hai Trung. Chung Nguyễn (Nguyễn Hữu Chung) và Chung Lý (Lý Quí Chung) trong quốc hội và báo chí; Trung Lý (Lý Chánh Trung) và Trung Nguyễn (Nguyễn Văn Trung) trong Đại học là những trí thức tiến bộ. Tôi không nhớ đêm đó mình có chợp mắt lúc nào hay không. Vầng sáng trước mặt, nóng hực như một đám cháy, kéo dài suốt đêm, đến hừng sáng 30-4 mới tắt.
Chiếc trực thăng di tản cuối cùng - chiếc thứ 19 - rời khỏi sân thượng tòa đại sứ Mỹ vào lúc 3 giờ 58 phút sáng 30-4-1975 mang theo đại sứ Martin. Ông đến Sài Gòn tháng 4-1973, coi chiến tranh Việt Nam như một thứ thập tự chinh của cái gọi là “thế giới tự do”, còn bản thân ông, tự trao cho mình sứ mạng tiêu diệt người cộng sản. Khi chấp nhận làm đại sứ ở Sài Gòn, ông tuyên bố: “I accepted because I felt it to be a mission”. Theo nhà báo Tiziano Terzani, ông ta là người chống cộng thuộc thập niên 50. Các đồng nghiệp của Martin gọi ông là “người Mohican cuối cùng của chiến tranh lạnh”. Ông có một người con trai chết trận ở Việt Nam cũng như tướng De Latre de Tassigny, đứng đầu quân đội viễn chinh Pháp thất trận 20 năm trước, cũng mất một người con trên chiến trường Việt Nam. Martin đi bộ từ nhà riêng của mình (ở đường Phùng Khắc Khoan) qua tòa đại sứ Pháp (cửa vào đường Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai) rồi từ đây đi sang tòa đại sứ Mỹ xuyên qua một khoảng tường trống vừa được mở ra để hai tòa đại sứ thông với nhau. Đại sứ Martin bỏ lại mọi thứ, sách vở, tranh ảnh, đồ cổ, chỉ mang theo cái cặp và... con chó. Ông bước lên trực thăng, một tay ôm lá cờ Mỹ, cũng như đồng nghiệp ông, đại sứ Mỹ tại Campuchia – John Gunther Dean - trước đó hai tuần, đã ôm lá cờ Mỹ leo lên trực thăng rời khỏi Phnom Pênh.
Còn với 129 Thủy quân lúc chiến phụ trách an ninh ở sứ quán Mỹ bảo vệ cuộc di tản, thì đến 7 giờ 53 phút ngày 30-4-1975 người cuối cùng mới rời khỏi sứ quán. Trong hai tuần, tòa đại sứ Mỹ di tản 50.000 người Việt Nam và 6000 người Mỹ. Khi Mỹ kết thúc các chuyến bay di tản vào 4 giờ 58 phút, trong khuôn viên tòa đại sứ Mỹ còn kẹt lại 420 người Việt Nam mặc dù trước đó chỉ ít tiếng đồng hồ người Mỹ quả quyết “No one will be left behind” (Không ai sẽ bị bỏ lại).
Bình luận về sự “cuốn cờ” thảm hại của đại sứ Mỹ Martin, nhà báo Tiziano Terzani viết trong quyển Saigon 1975: Three Days and Three Months như sau: “Người Mỹ! Họ muốn tiêu diệt một phong trào cách mạng nhưng thực tế họ đã nuôi dưỡng nó. Họ đến đây nhằm đặt lại mọi thứ trong trật tự nhưng họ lại ra đi để lại sự hỗn loạn. Họ đến để xây dựng nhưng lại tàn phá. Họ đến để bảo vệ một dân tộc mà họ cho rằng bị tấn công nhưng họ chỉ bảo vệ cho chính họ chống lại những người mà họ coi là “bạn” của mình”.
Năm 2002, một giáo sư người Nhật, Hajime Hitamura thuộc Đại Học Western Sydney (Úc) chuẩn bị một quyển sách về chiến tranh Việt Nam, có gặp tôi và đặt câu hỏi: Tại sao Mỹ thất trận tại Việt Nam? Tôi có đọc một tài liệu: Năm 1963 trả lời nhà báo Walter Cronkite trong một cuộc phỏng vấn về chiến tranh Việt Nam, tổng thống John F. Kennedy có nói: “Xét cho cùng thì chiến tranh này là chiến tranh người Việt, thắng hay bại là tuỳ ở họ”. Theo tôi cuộc chiến Việt Nam chưa bao giờ thật sự là một cuộc chiến của người Việt Nam theo nghĩa một cuộc xung đột ý thức hệ giữa người Việt Nam với nhau. Người Mỹ ngụy biện khi nói rằng: họ đến đây để giúp những người Việt Nam theo thế giới tự do chống lại cộng sản. Thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đều lấy cái có đó để tiến hành chiến tranh tại Việt Nam nhằm áp đặt lên dân tộc nước này ý muốn xâm lược của họ. Thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ở mỗi thời kỳ của mình đều có ý đồ riêng nhằm vào Việt Nam. Sau cuộc chiến của người Pháp thì đếncuộc chiến của người Mỹ. Pháp thất trận ở Điện Biên Phủ, cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ 1 kết thúc. Và khi Mỹ không đối phó được chiến dịch Hồ Chí Minh rút chạy thì cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai cũng theo chân họ mà tàn lụi. Mỹ tiến hành chiến tranh ở Việt Nam với quân lính, phương tiện, tiền bạc của họ, dùng người Việt Nam của họ lập nên chính quyền Sài Gòn, thuê mướn và cưỡng bức một bộ phận người Việt Nam cầm súng cho họ. Tôi nhớ rất rõ quần chúng miền Nam không hề có cái gọi là lý tưởng chống cộng, có cuộc chiến đấu của mình để chống lại người cộng sản, ngoại trừ một số đảng phái chống cộng không có quần chúng. Cuộc chiến mà người Mỹ tiến hành nhân danh “người Việt Nam chống cộng” do đó hoàn toàn không có quần chúng. Chỉ có họ và những người vì quyền lợi riêng tư hoặc bị ép buộc theo họ. Chính vì vậy người Mỹ ở Việt Nam không chỉ phải chống lại cộng sản mà còn phải chống lại tất cả những người yêu nước không cộng sản, nói một cách nào đó là phải chống lại gần như cả nhân dân Việt Nam. Cuối cùng người Mỹ phải cuốn cờ rút khỏi Việt Nam là chuyện tất yếu.
Tôi nói với ông Hajime Kitamura rằng tôi không phải là một nhà nghiên cứu chiến tranh Việt Nam. Tôi chỉ nêu một suy nghĩ riêng của mình và chắc chắn chưa phản ánh một cách đầy đủ nguyên nhân thất bại của người Mỹ tại Việt Nam.
Tiêu biêu cho một trí thức có “lý tưởng chống cộng”, tướng Đỗ Mậu, từng là tổng trưởng thông tin và phó thủ tướng thời Nguyễn Khánh (sau 1-11-63) đã viết trọn một hồi ký chỉ để vạch trần sự phá sản của hai chế độ Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa (từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu). Hồi ký của tướng Đỗ Mậu đã lý giải khá đầy đủ vì sao chế độ gọi là “quốc gia” đã thất bại.

 CHƯƠNG 25: THỜI KHẮC LỊCH SỬ: ĐẦU HÀNG

8 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, các nhân vật dự kiến trong tân nội các tập trung tại phủ thủ tướng nằm ở cuối đại lộ Thống Nhất. Một số thành viên của tân chính phủ đã ngủ đêm tại đây.
Khi tổng thống Dương Văn Minh đến, cuộc họp diễn ra với một số người rất hạn chế, gồm phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền, thủ tướng Vũ Văn Mẫu... Các thành viên khác ngồi chờ đợi buổi họp ở phòng bên ngoài.
Ông Minh mở đầu buổi họp bằng việc trình bày tình hình quân sự nói chung và Sài Gòn nói riêng là không còn cứu gỡ. Cũng không nên nghĩ tới một cuộc thương thuyết chính trị với chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam và Hà Nội, qua trung gian chính phủ Pháp. Trong khi đó tình hình an ninh của thành phố Sài Gòn rất nguy ngập, hỗn loạn và cướp bóc có thể xảy ra bất cứ lúc nào nhưng chính phủ hoàn toàn không có khả năng kiểm soát. Và ông Dương Văn Minh kết luận: “Để tránh cho người dân Sài Gòn những tai hoạ đã xảy ra như tại Đà Nẵng, mà có thể còn tồi tệ hơn, tôi quyết định trao quyền cho chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam”. Phòng họp im lặng, không có ai phản đối, kể cả những vị mới biết được quyết định này.
Được sự đồng ý của những thành viên chính yếu của chính phủ, ông Minh ra lệnh cho tôi với tư cách tổng trưởng thông tin cho gọi các nhân viên kỹ thuật của đài truyền hình và đài phát thanh đến để thu âm bài tuyên bố. Tôi bước ra khỏi phòng và truyền lệnh cho anh Dương Văn Ba, thứ trưởng thông tin, với lời dặn: nói với anh em rằng đã có thỏa hiệp ngưng bắn và hòa bình rồi, anh em đến để thu lời tuyên bố của tổng thống nói chuyện với đồng bào. Tôi dặn như thế để anh em phấn khởi sẵn sàng làm nhiệm vụ mà không bỏ trốn. Bởi lúc bấy giờ rất ít công sở còn nhân viên đi làm.
Khoảng 15 phút sau, anh em kỹ thuật viên đến vì đài truyền hình rất gần phủ thủ tướng. Và cuộc thu âm bài tuyên bố giao quyền của tổng thống Dương Văn Minh bắt đầu, chỉ thu tiếng chứ không có điều kiện thu hình. Lần thu đầu tiên, ông Minh cho dừng lại vì có đoạn ông đọc vấp. Lần thứ hai cũng hỏng vì có người đẩy cửa vào gây tiếng động. Đến lần thứ ba mới thu hoàn chỉnh.
Khi tôi bước ra phòng họp cùng anh em kỹ thuật viên thì gặp chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá tổng tham mưu trưởng, giờ đây có quyền hành như tổng tham mưu trưởng vì trung tướng Vĩnh Lộc cùng trung tướng Trần Văn Trung chạy khỏi Sài Gòn bằng tàu hải quân sáng 30 tháng 4. Chuẩn tướng Hạnh nói với ông Dương Văn Minh: “Xin để tôi trực tiếp mang đi cho chắc ăn. Nhưng theo tôi, ngoài bản tuyên bố của tổng thống cho dân chúng, cần có một nhật lệnh của tổng tham mưu trưởng ra lệnh trực tiếp cho quân đội không được nổ súng nữa...”. Ông Minh tán đồng đề xuất của anh Hạnh và yêu cầu anh thảo luôn nhật lệnh.
Tướng Hạnh cầm cuộn băng và bản nhật lệnh đi đến đài. Anh nói với tôi: anh sẽ đọc và thu bản nhật lệnh tại đài. Nhớ lại chi tiết này, tôi thấy đóng góp của anh Nguyễn Hữu Hạnh vào lúc này thật ý nghĩa và thiết thực.
Trước khi phiên họp kết thúc, ông Minh nói: “Bắt đầu từ giớ phút này sự ràng buộc giữa anh em chúng ta không còn nữa. Mỗi người hoàn toàn tự do quyết định sự lựa chọn của mình: Đi hay ở lại. Tôi xin thông báo cho anh em nào muốn đi: hiện chiếc tàu Việt Nam Thương Tín (VNTT) vẫn còn đậu ở cảng...”. Ông Minh thông báo rõ cổng số mấy, bến số mấy, để lên tàu VNTT, chiếc tàu thủy viễn dương lớn nhất của Sài Gòn lúc bấy giờ. Trước đó khoảng một tiếng đồng hồ, dân biểu Nguyễn Hữu Chung điện thoại cho ông Minh nói rõ tàu VNTT đang chờ ở đâu để những thành viên nào trong chính phủ muốn ra đi thì đến đó. Chính một người của anh Nguyễn Hữu Chung lái chiếc tàu này. Tàu có giấy phép của chính phủ cho rời bến với lý do chính thức là “để tránh pháo kích của cộng quân”. Nhưng thực sự đây là một giấy phép trá hình cho tàu được di tản. Trong khi liên lạc điện thoại với ông Minh, Chung Nguyễn còn tỏ ý chờ bà Dương Văn Minh sẽ ra đi theo con gái, con rể và hai cháu ngoại (đã đi trước đó hai ngày). Nhưng ông Minh sau khi hỏi ý kiến vợ đã trả lời rằng bà Minh không đi.
Những người có mặt trong phòng họp cũng không ai đi. Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền, một luật sư công giáo, nói dứt khoát ông ở lại. Còn thủ tướng Vũ Văn Mẫu cho biết ông không đi trong những điều kiện như thế này. Nếu sau này chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam cho ra đi chính thức thì ông sẽ đi. Có lẽ người duy nhất có ý định ra đi là giáo sư Bùi Tường Huân, được dự kiến làm tổng trưởng quốc phòng. Anh Huân hỏi lại ông Minh: “Tôi về nhà sắp xếp để vợ con cùng đi còn kịp không?”. Ông Minh trả lời là tàu VNTT không thể chờ đợi lâu. Nếu quyết định đi là phải đi ngay. Thế là giáo sư Huân quyết định không đi nữa. Anh không hay rằng vợ anh, con cái của anh đã di tản chiều hôm qua với gia đình bên vợ (chị vợ của anh Huân là ca sĩ Hà Thanh). Tối hôm qua, anh cùng một số thành viên khác ngủ lại ở phủ thủ tướng nên không hay chuyện ra đi của gia đình. Khi anh trở về nhà thì trong nhà chẳng còn thứ gì giá trị vì nhà anh đã bị cướp sạch. Anh Hồ Văn Minh cũng nói dứt khoát không đi.
Lúc này tôi ngồi kế bên ông Minh. Ông quay sang nói nhỏ với tôi:
“Chung, toa nên đi.Toa có con đông”. Ông nghĩ đến 5 đứa con của tôi. Thỉnh thoảng khi thân mật ông Minh vẫn xưng hô “toa, moa” với tôi. Tôi trả lời:
“Đại tướng không đi phải không? Tôi cũng không đi”. Ông lặp lại đến hai lần lời khuyên đó nhưng vẫn thấy tôi tỏ ra rất dứt khoát nên ông không thuyết phục nữa. Khi từ chối chuyện ra đi, lúc đó tôi chẳng phải suy nghĩ gì nhiều. Ý nghĩ ra đi chẳng bao giờ xuất hiện trong đầu tôi. Ở lại, với tôi, là tất yếu, là cái tiếp theo lô gích của những chọn lựa và thái độ chính trị của tôi trước đó. Vợ chồng tôi chưa bao giờ đem chuyện “đi hay ở” ra bàn với nhau. Quỳnh Nga, vợ tôi cũng không hề băn khoăn về chuyện này. Trước đó mấy ngày, khi một người Mỹ (dạy Anh văn cho tôi) đến nhà gặp vợ tôi, đưa ra giấy ưu tiên đi bằng máy bay của Mỹ cho cả gia đình tôi (gồm bảy người) – tôi không có ở nhà - vợ tôi đã tự quyết định từ chối.
...Sau khi mọi người có mặt đều quyết định không đi, phòng họp lại im lặng.
Bỗng có người vào báo cáo có một khách người Pháp muốn gặp tổng thống Dương Văn Minh. Tôi cùng ông bước ra. Đó là cựu tướng Pháp Vanuxem đã từng thất trận ở cuộc chiến tranh Đông Dương thời thực dân Pháp. Gần đây ông trở qua Việt Nam đóng vai trò cố vấn quân sự cho chính phủ Thiệu như kiểu chuyên gia chiến tranh du kích người Anh Sir Robert Thompson mang những kinh nghiệm chống cộng ở Mã Lai sang làm cố vấn cho hai anh em Ngô Đình Diệm – Ngô Đình Nhu trong những năm đầu của chế độ đệ nhất cộng hòa! Nhưng Vanuxem không được ông Thiệu tin dùng. Ông Minh bắt tay Vanuxem và hỏi lý do ông ta muốn gặp ông.
Vanuxem cho biết ông muốn hiến kế cho ông Minh để cứu vãn tình hình tuyệt vọng của chế độ Sài Gòn. Theo Vanuxem, nên lên tiếng kêu gọi sự can thiệp của một cường quốc, và chỉ cần có một yêu cầu chính thức của chính quyền miền Nam là cường quốc này sẽ can thiệp ngay. Ông Minh cười chua chát: “Tôi cảm ơn thiện chí của ông, nhưng trong đời tôi, tôi đã từng làm tay sai cho Pháp rồi tay sai cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai...”. Đứng xớ rớ một lúc, Vanuxem biến lúc nào tôi không nhớ.
Cũng đúng lúc này có điện thoại từ chùa Ấn Quang của sinh viên đấu tranh Nguyễn Hữu Thái. Tôi không rõ Thái rời khỏi chỗ ẩn náu tại nhà tôi từ một năm qua, vào lúc nào. Lúc này Thái đang có mặt tại chùa Ấn Quang, anh cho biết thượng tọa Thích Trí Quang muốn nói chuyện trực tiếp với ông Minh. Cuộc nói chuyện kéo dài khoảng hai phút. Sau đó thượng tọa Trí Quang nói chuyện với giáo sư Vũ Văn Mẫu. Tôi được biết nội dung hai cuộc điện đàm này của thượng tọa Thích Trí Quang nhằm thuyết phục tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng. Nhưng tôi lại e ngại, nếu đầu hàng chính thức đơn phương thì sẽ ra sao? Vì nhiều đơn vị quân đội VNCH vẫn còn đó, có khả năng sẽ phản ứng điên cuồng.
Khoảng 10 giờ, tổng thống Minh lên ô tô đi đến Dinh Độc Lập. Các thành viên khác của chính phủ và một số dân biểu nghị sĩ cũng lên xe mình đến Dinh Độc Lập. Tôi cùng ngồi xe của tổng thống Minh. Lúc này toàn bộ các mô tô cảnh sát danh dự, gồm tám chiếc còn đầy đủ, vẫn đi theo bảo vệ xe tổng thống. Đoàn xe tổng thống đi ngang qua tòa đại sứ Mỹ trên đại lộ Thống Nhất, ông Minh nhìn thấy trước mắt cảnh tòa đại sứ Mỹ đang bị dân chúng ùa vào “làm thịt”: từng đoàn người từ trong sứ quán hối hả đi ra, khuân vác nào là máy đánh chữ, ti vi, ghế, tủ, bàn v.v... Từ trên lầu sứ quán, những tấm thảm cắt ra từng miếng dài khoảng 5-6 mét được ném xuống sân... Thế là nơi tượng trưng cho quyền lực nước Mỹ, tưởng như bất khả xâm phạm giờ đây tan tác... như một đống rác khổng lồ!
Đoàn xe của tổng thống Minh đi trên đại lộ Thống Nhất vắng tanh người - ngoại trừ đoạn đường trước sứ quán Mỹ. Phần đông dân Sài Gòn đều rút vào nhà. Số người tiếp tục nuôi ý định ra đi kéo nhau xuống bến Bạch Đằng với hy vọng gặp được chuyến tàu nào đó chưa kịp rời bến. Một số người khác dùng mọi phương tiện chạy về hướng miền Tây tìm đường ra biển.
Ngồi trong xe bên cạnh ông Minh đi đến Dinh Độc Lập, chưa bao giờ tôi thấy gần gũi và gắn bó với ông như lúc này. Trong đời ông trải qua nhiều giây phút lịch sử nhưng có lẽ những giây phút này là trọng đại nhất. Nhưng tôi vẫn thấy ông điềm tĩnh một cách lạ lùng. Ông chẳng nói gì cả, nét mặt bình thản. Ông vốn không thích dùng nhiều lời lẽ rườm rà và hoa mỹ để giải thích các quyết định của mình.
Tôi lên tiếng để phá vỡ sự im lặng: “Nếu cả chính phủ Sài Gòn sau này buộc phải đi “an trí”, tôi sẽ yêu cầu được quản thúc chung với đại tướng. Để chi, đại tướng biết không?”. Ông quay nhìn tôi: “Để chi?” – “Để đại tướng và tôi có thể tiếp tục nói chuyện tennis với nhau!” Ông Minh vỗ đùi tôi, cười. Tôi cùng ông Minh đi đến Dinh Độc Lập mà trong lòng chẳng có một đắn đo nào. Thật lạ lùng làm sao. Sau này khi nhớ lại thời điểm đó tôi cố gắng nhớ lại trong đầu mình lúc đó nghĩ gì. Nhưng không làm sao nhớ ra bởi thật sự lúc đó tôi như người bị cuốn hút về một hướng đã định sẵn từ một hai năm trước rồi. Dinh Độc Lập, nơi đoàn quân giải phóng sẽ đến, vào lúc này, đúng là điểm hẹn của Lịch sử. Ông Dương Văn Minh đi đến đó mà không hề bị ai bắt buộc. Trưa hôm qua, 29-4-1975, người cuối cùng từng lãnh đạo miền Nam, tướng Nguyễn Cao Kỳ, cũng đã thoát thân trên chiếc Huey, trực thăng của ông. Khi máy bay sắp rời khỏi mặt đất, tướng Ngô Quang Trưởng xuất hiện và cũng được tướng Kỳ... mời nhảy lên. Trực thăng của họ bay ra hướng biển và liên lạc được với tàu sân bay Midway.
...Chiếc xe của tổng thống Minh và đoàn mô tô bảo vệ đến Dinh Độc Lập khoảng 9 giờ 30 sáng. Ở cửa chính vẫn còn lính gác. Ông Nguyễn Văn Hảo, phó thủ tướng của nội các Nguyễn Bá Cẩn, nội các cuối cùng của chính phủ Thiệu, có mặt ở phòng họp chính. Theo chương trình đã định trước thì phó thủ tướng Hảo sẽ đại diện cho nội các cũ thực hiện cuộc bàn giao cho nội các mới của ông Dương Văn Minh. Nhưng cuộc bàn giao giữa hai nội các cũ và mới đã không xảy ra.
Các thành viên chính của chính phủ Dương Văn Minh tập hợp trong phòng làm việc trước đây của Nguyễn Văn Thiệu. Trong lúc chờ quân giải phóng đến, tôi chợt nhớ binh lính bảo vệ Dinh Độc Lập chưa nhận được lệnh không nổ súng. Tôi đề nghị ông Minh nên ra lệnh tất cả các binh lính bảo vệ dinh phải nộp vũ khí, bởi chỉ cần một người lính nào đó điên cuồng bóp cò thì hậu quả không thể nào lường được. Tổng thống Minh giao cho thiếu tá Hoa Hải Đường thực hiện lệnh của ông. Lúc này tôi không thấy đại tá Đẩu có mặt ở dinh. Đại tướng Minh có hai tuỳ viên quân sự là đại tá Đẩu và thiếu tá Đường. Đại tá Đẩu vừa được thăng cấp cách đây không lâu và là cấp cao nhất trong văn phòng của đại tướng Minh. Còn thiếu tá Đường là con của ông Hoa Văn Mùi, đã từng là giám đốc cảnh sát thời Diệm rồi tổng lý văn phòng một bộ (nhân vật thứ ba trong bộ đứng sau bộ trưởng và thứ trưởng), nhưng lại được nhiều người biết tiếng khi ông là cầu thủ đội tuyển bóng đá miền Nam thập niên 40. Ông Mùi cùng thời với những danh thủ như Tốt, Guichard, Paccini, Bửu (tức Trương Tấn Bửu, giám đốc Sở Thể dục Thể thao TP. HCM đầu tiên sau giải phóng). Thành tích của ông Mùi là từng vô hiệu hoá “cầu vương” Lý Huệ Đường của Hồng Kông mặc dù về thể hình ông hơi thấp người.
Luật sư, nghị sĩ Nguyễn Văn Huyền được ông Minh chọn làm phó tổng thống, lúc đầu có mặt tại Dinh Độc Lập nhưng sau đó lại về nhà riêng. Luật sư, nghị sĩ Vũ Văn Mẫu, thủ tướng chính phủ vẫn có mặt tại dinh vào thời điểm này.
Thời gian chờ đợi căng thẳng tôi chợt nghĩ: cũng nên có mặt nhà báo vào lúc quân giải phóng vào Dinh Độc Lập. Lúc này tôi nhớ đến nhà báo nữ V.T.T. Mai làm cho hãng thông tấn AFP. Với tôi, Mai không chỉ là một nhà báo mà còn là một mối thâm tình. Tôi rất mong sự hiện diện của Mai vào lúc này. Tôi gọi điện cho Mai. Và Mai đến ngay với trưởng văn phòng AFP tại Sài Gòn Jean Louis Arnaud. Lúc nào Arnaud cũng ăn mặc trịnh trọng. Một bộ complet màu trắng khói, trên cổ thắt một chiếc nơ và trên tay có sẵn một cuốn sổ nhỏ.
Khoảng 11 giờ 30 sáng, chiếc tăng đầu tiên loại T-54 của quân giải phóng xuất hiện ở từ đầu kia đại lộ Thống Nhất, phía Thảo cầm viên. Tổng thống Minh và các thành viên chính phủ cùng một số dân biểu nghị sĩ, ra đứng tại tiền đình của Dinh Độc Lập để chuẩn bị cuộc đón tiếp. Chiếc tăng to lớn tiến gần, đến khoảng ngang nhà thờ Đức Bà thì đột ngột nổ liền hai phát nhưng không nhắm vào Dinh Độc Lập. Nhưng tiếng nổ của hai phát đại bác đã gây hoảng hốt cho tất cả những người đang đứng chờ ở tiền đình. Thế là tất cả lui vào phòng làm việc của ông Thiệu và.. lo lắng chờ.
Sau này các tài liệu viết rằng chiếc tăng đi đầu đã ủi sập cửa sắt ở cánh cổng còn đóng của Dinh Độc Lập. Vậy là lính gác ở dinh không chấp hành lệnh chăng? Vì tôi nhớ rất rõ ông Minh đã ra lệnh cho lính gác ở dinh mở sẵn cổng chính trước rồi.
Chỉ ít phút sau, tiếng chân người vang dội trong sảnh, có cả tiếng khua vũ khí và tiếng đạn lên nòng. Rồi tiếng hô to từ phía đại sảnh: “Mọi người đi ra khỏi phòng ngay!” Sau này có nhiều nhà báo nước ngoài trở lại sự kiện 30-4 này hỏi tôi lúc đó có lo sợ không? – Tôi không chối cãi mình có lo sợ. Một phần vì tôi chưa từng đối diện với quân giải phóng. Những suy nghĩ riêng và niềm tin trong lòng của mình về họ, chưa qua thực tế, không đủ để trấn an tôi hoàn toàn vào giây phút này. Mặt khác hoàn toàn không thể đoán trước chuyện gì sẽ xảy ra nếu có hỗn loạn.
...Người bước ra khỏi phòng trước tiên là tổng thống Dương Văn Minh. Đi sát bên ông Minh là thiếu tá Hoa Hải Đường. Tiếp theo là thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Ông Minh và ông Mẫu đều rất bình tĩnh, sự bình tĩnh của hai ông cũng truyền sang tôi. Tôi trao cái cặp da xách tay của tôi cho dân biểu Thạch Phen rồi mạnh dạn bước theo. Chúng tôi vừa bước ra hành lang để đi đến đại sảnh thì ở đầu kia thấy có nhiều bộ đội cầm súng và hô to: “Mọi người giơ tay lên!”. Ông Minh, ông Mẫu và tôi cùng mọi người đi phía sau đều nhất loạt giơ tay. Ra đến đại sảnh, tôi thấy có nhiều người mặc thường phục cũng có mặt lẫn với bộ đội. Tôi nhận ra một số gương mặt quen thuộc, đã từng hoạt động báo chí hoặc trong các phong trào đấu tranh học sinh sinh viên. Tôi nhớ hình như có các anh Nguyễn Vạn Hồng (tức Cung Văn), Triệu Bình, Nguyễn Hữu Thái, Huỳnh Bá Thành, Huỳnh Văn Tòng v.v... Ai đó, tôi không nhớ rõ, chạy đến ôm tôi nâng lên khỏi mặt đất và nói to trong sự mừng rỡ tột cùng: “Mình thắng rồi!”, trong lúc hai tay tôi vẫn giơ cao trong tư thế của người đầu hàng. Nước mắt tôi trào ra, tôi khóc vì quá sung sướng thấy cuộc chiến tranh kéo dài triền miên trên quê hương mình đã kết thúc. Tính cả thời Pháp đô hộ là 117 năm! Nhưng trong nước mắt ấy có cả những giọt xót xa: Mình từng chống Mỹ, chống Thiệu để khi kết thúc, mình lại thay Mỹ thay Thiệu đầu hàng! Dù rằng tôi cũng đã sẵn sàng tinh thần để chấp nhận tình thế này, nhưng khi nó diễn ra, lòng vẫn không thể không nhói đau!
Một người bộ đội (tôi không rõ quân hàm) nói với tổng thống Minh: “Anh chỉ cho tôi đường đi lên để hạ cờ ngụy quyền”. Ông Minh quay sang tôi đang đứng bên cạnh: “Chung, toahướng dẫn cho người này lên sân thượng”. Sau này tôi biết đó là người chỉ huy chiếc tăng ký hiệu 843 tên là Bùi Quang Thận lúc đó mang hàm đại úy. Nói về sự kiện 30-4 tại Dinh Độc Lập, có một hai bài viết kể tên một ai đó đã đưa bộ đội lên hạ cờ. Tôi không biết ở Dinh Độc Lập còn có một nơi nào khác treo cờ hay không ngoài cột cờ trên sân thượng. Năm 1990, khi kỷ niệm 15 năm giải phóng miền Nam, một hãng truyền hình Nhật có mời tôi và trung tá cùng tái hiện lại những giây phút tôi đưa đại uý Thận lên sân thượng Dinh Độc Lập để hạ cờ của chế độ Sài Gòn.
Trước ống kính của truyền hình Nhật, chúng tôi cùng tái hiện lại những diễn tiến tại Dinh Độc Lập 15 năm về trước:
...Sau khi nhận chỉ thị của ông Minh, tôi đưa người bộ đội trẻ tuổi đến thang máy để lên sân thượng. Đến trước thang máy, tôi bấm nút cho cửa mở. Khi cửa mở rồi người bộ đội trẻ vẫn chưa chịu bước vào. Tôi đoán trong đời anh chưa bao giờ đặt chân vào một thang máy. Tôi nói với người bộ đội trẻ: “Anh vào đi. Không có gì lo. Tôi cùng vào với anh”. Nói xong, tôi vào trước. Sau ít giây do dự, anh bước vào, trên tay là khẩu súng và lá cờ Giải phóng. Tôi không thể tưởng tượng được có một ngày như hôm nay: đi thang máy chung với một người bộ đội. Tôi bấm nút lên tầng cuối cùng. Trước đây tôi có vào Dinh Độc Lập nhiều lần nhưng chưa bao giờ lên đến sân thượng. Bước ra khỏi thang máy, tôi nhìn thấy ngay khu vườn hoa của bà Nguyễn Văn Thiệu mà có lần bà đã than phiền tướng Kỳ, lúc còn làm phó tổng thống, đã làm hư hại nó do mỗi ngày tướng Kỳ đi làm đều đáp trực thăng riêng xuống đây. Thời điểm đó, văn phòng của tổng thống Thiệu và phó tổng thống Kỳ còn đặt chung trong Dinh Độc Lập. Cách thang máy không xa, ở phía trước sân thượng, sát bên ngoài là chỗ cắm cờ. Người bộ đội đi thẳng ra đó hạ lá cờ vàng ba sọc đỏ xuống. Tôi không bước ra theo. Tôi đứng phía trong một lúc, rồi quay trở lại thang máy đi xuống trước một mình.
Trong một bài báo kỷ niệm ngày 30-4-1975 của một tác giả đã đăng vào dịp tháng 4-2003, có ghi lại lời kể của ông Thận khi gặp ông Minh: Ông yêu cầu ông Minh chỉ đường lên hạ cờ ngụy quyền thì ông Minh liền nói với người đứng kế bên thực hiện lời yêu cầu này. Người đứng kế bên ông Minh chính là tôi.
Xem lại các bức ảnh ghi lại giây phút lịch sử này, tôi thấy ngoài lá cờ được đại uý Bùi Quang Thận treo cao trên nóc Dinh Độc Lập - cột cờ chính thức của Dinh – còn thấy xuất hiện hai hay ba chiến sĩ bộ đội đứng phất cờ tại bao lơn (balcon) ở tầng một. Có lẽ chính vì thế mà có sự ngộ nhận đại uý Thận không phải là người duy nhất treo cờ trên nóc Dinh Độc Lập và cũng có lý khi có người khác cũng nhận là mình đã hướng dẫn bộ đội lên treo cờ.
...Khi từ sân thượng tôi trở xuống đại sảnh thì mọi người đã vào trong phòng họp có cái bàn to hình ô van nằm bên cánh phải Dinh Độc Lập. Tôi nghe một người bộ đội cấp chỉ huy nói với ông Minh: “Anh hãy viết ngay một bản tuyên bố đầu hàng”. Ông Minh trả lời rằng sáng này ông đã có một tuyên bố trao quyền rồi. Viên chỉ huy nói: “Anh chẳng có gì để trao. Anh chỉ có thể tuyên bố đầu hàng!”. Lúc này trong những người chứng kiến cuộc đối thoại, có một người mặc thường phục đứng bên cạnh kỹ sư Tô Văn Cang - một trí thức Sài Gòn có quan hệ với Mặt Trận. Người mặc thường phục tự giới thiệu mình là người hoạt động cách mạng nội thành và nói với viên chỉ huy bộ đội: “Ông Minh là người hoạt động cho hòa giải hòa hợp dân tộc. Anh nên đối xử nhẹ nhàng với ông”. Ông Minh vẫn đứng yên lặng. Viên chỉ huy đề nghị ông Minh đi đến đài phát thanh để thảo và đọc bản tuyên bố đầu hàng. Viên chỉ huy yêu cầu những thành viên chính thức của chính phủ đang có mặt gồm tổng thống Minh, thủ tướng Mẫu và tổng trưởng thông tin là tôi cùng đến đài phát thanh. Tôi chuẩn bị bước ra khỏi phòng thì nghe tiếng anh Thạch Phen gọi tôi lại. Anh Thạch Phen trả cho tôi cái cặp da tôi đã nhờ anh cầm giùm lúc nãy. Anh Phen tưởng tôi quên. Thật sự tôi vẫn nhớ nhưng tôi thấy chẳng cần thiết phải lấy lại. Trong cặp là toàn bộ số tiền tôi đã lãnh một ngày trước đó ở Hạ nghị viện trước khi toà nhà lập pháp này đóng cửa. Trong những ngày cuối cùng, chủ tịch Hạ nghị viện đã ký rút ra gần hết số tiền thuộc ngân sách của Hạ nghị viện và ứng trước tiền phụ cấp và đủ các thứ tiền khác thành một cục phát cho tất cả các dân biểu. Tôi nhớ số tiền đó hình như tương đương cả 7-8 chục triệu tiền bây giờ. Phụ cấp hàng tháng của một dân biểu nghị sĩ lúc đó là rất cao trong xã hội. Tôi định bỏ luôn cái cặp vì nghĩ tiền của chế độ Sài Gòn sẽ không còn xài nữa. Tôi miễn cưỡng lấy lại cái cặp trên tay dân biểu Thạch Phen.
Trước khi rời Dinh Độc Lập, ông Dương Văn Minh nói với vị chỉ huy bộ đội: “Vợ tôi vẫn đang ở đây. Xin các anh bảo đảm an ninh giùm”. Viên chỉ huy đáp “Anh hãy an tâm”.
Ông Minh và ông Mẫu được đưa đến Đài phát thanh Sài Gòn trên chiếc xe Jeep của bộ đội. Còn tôi đi theo trên một chiếc xe Jeep khác của các nhà báo Đức. Khi tôi đến đài phát thanh thì hai ông Minh và ông Mẫu đã vào bên trong. Tôi vừa bước vào sân thì anh Nguyễn Hữu Thái và một hai thanh niên khác đứng ở cổng nói với tôi “Anh về đi, khi nào có bộ phận chính trị vào sẽ liên lạc lại”. Lúc này thật khó biết ai là ai, ai có đủ thẩm quyền quyết định chuyện này chuyện nọ.
Nghe thế tôi lại đi trở ra. Sau này được biết, khi hai ông Minh và ông Mẫu vào bên trong đài phát thanh thì không còn nhân viên kỹ thuật nào ở đó để làm công việc thu băng. Sinh viên Nguyễn Hữu Thái phải mất hai tiếng mới tìm ra nhân viên kỹ thuật. Bản tuyên bố đầu hàng do chính trị viên Bùi Văn Tùng thảo. Ông Minh đọc và đài phát vào lúc 13 giờ 30. Sau đó hai ông Minh và ông Mẫu được đưa trở lại Dinh Độc Lập. Vào lúc 17 giờ 30, luật sư Nguyễn Văn Huyền, phó tổng thống Sài Gòn trở vào Dinh Độc Lập trình diện. Ông Huyền đã rời Dinh Độc Lập nửa giờ trước khi quân đội giải phóng vào Dinh.
Đài phát thanh Sài Gòn nằm ở góc đường Nguyễn Bỉnh Khiêm – Phan Đình Phùng (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu). Cổng chính lúc đó mở ra đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ra khỏi đài, tôi rẽ qua đường Phan Đình Phùng, đi bộ ngược về hướng trung tâm thành phố vì tôi không còn xe riêng, taxi cũng không có. Dáo dác tìm “Honda ôm” cũng không ra. Một tay cầm áo vét và một tay xách cái cặp da đầy “giấy lộn” (trong đầu tôi vẫn nghĩ thế) chẳng biết vứt đi đâu. Trong đầu tôi rất lộn xộn: mừng vui lẫn buồn tủi. Cái hình ảnh được anh em ôm lấy và hô lên “Mình thắng rồi” nhưng trong tư thế hai tay giơ cao đầu hàng vẫn quay tới quay lui trong đầu. Đi một lúc khá lâu tôi ngửng đầu lên. Thật bất ngờ. Ngay trước mặt tôi bên kia đường (ngã tư Công Lý – Phan Đình Phùng) là... trụ sở Bộ thông tin, nơi mới hôm qua tôi còn triệu tập họp các viên chức chỉ huy của bộ với tư cách bộ trưởng. Tôi dừng bước lại. Nhớ lại chiếc cà vạt vẫn còn thắt trên cổ, tôi liền tuột nó ra. Chân tôi tự động quay ngược lại. Đúng lúc đó may mắn có một anh chạy xe ôm hất hàm hỏi tôi có đi không, tôi gật đầu.
Xe Honda đưa tôi về hướng quận 10 nhưng tới cuối đường Hiền Vương (bây giờ là Võ Thị Sáu) thì nghe những tiếng nổ dữ dội. Tôi thấy xa xa một chiếc xe tăng T54. Người chạy tán loạn. Tôi đoán phía quận 10 còn hỗn loạn. Tôi bèn quyết định tạm qua đêm nay tại nhà của trung tá Nguyễn Đức Hồng là chánh văn phòng của tôi ở khu Tân Định. Đến đây, tôi điện thoại về nhà cho vợ tôi. Lúc này tôi không còn kềm được nước mắt. Như thể bị ngăn lại từ sáng, nước mắt bây giờ tha hồ tuôn ra. Vợ tôi chia sẻ sự xúc động của chồng nhưng dĩ nhiên vợ tôi chưa hiểu hết những gì xảy ra với tôi trong ngày 30-4 này, từ sáng đến giờ. Tôi đã trải qua những giây phút kỳ diệu và kỳ lạ nhất đời mình. Vợ tôi cho hay cả nhà đều bình yên và cho biết gia đình anh Dương Văn Ba từ nơi “tị nạn chính trị” của anh ở trong Dinh Hoa Lan đã “di tản” ra nhà tôi.
Đêm 30-4-1975 tôi quá mỏi mệt nằm xuống ngủ như chết. Sáng hôm sau tôi thức dậy sực nhớ biến cố lịch sử đã xảy ra, một cảm giác thật lạ lùng lan toả trong người tôi. Tôi nằm yên một lúc lâu lắng nghe cái cảm giác ấy. Không hiểu sao, nó làm tôi nhớ lại cái buổi sáng tôi mới có đứa con đầu tiên. Thức dậy và thấy mình không còn như trước. Một thay đổi lớn đã đến với đời mình. Sáng ngày 1-5-1975 tôi cũng có một cảm giác như thế!
Thay đồ xong, chưa ăn sáng, tôi gọi về nhà. Tôi được biết vợ con đã sang nhà cha mẹ tôi bên đường Bà Hạt. Trung tá Hồng lấy xe Honda đưa tôi đến nhà cha mẹ. Gặp lại vợ con tôi cứ ngỡ mình trở về từ một chuyến đi thật xa. Cả đại gia đình tôi, từ cha mẹ, bảy đứa em – sáu gái và một trai – hai em rể và gia đình riêng của tôi - vợ và năm con - đều có mặt đông đủ. Gặp lại những người thân yêu không thiếu một người, đều bình yên, tôi vô cùng xúc động. Cha tôi lặng im nhìn tôi. Tôi đọc thấy trong mắt ông câu hỏi ‘‘Vậy con có bình yên hay không?’‘. Cuộc đời công chức của cha tôi sẽ hết sức bình thản nếu... không có tôi. Ông bị mất chức, về hưu sớm, vì từ chối với chính quyền Thiệu không gây áp lực với con mình ngưng các hoạt động chống chính phủ Thiệu. Giờ đây lại âu lo không biết sự thay đổi chính trị có ảnh hưởng gì đến con trai mình hay không? Buổi ăn trưa hôm đó cũng là lúc tôi kể lại cho cả nhà nghe các diễn tiến xảy ra trong buổi sáng ngày 30-4 đến khi về nhà ông Nguyễn Đức Hồng. Tôi nhìn thấy mẹ tôi khóc. Bà không hiểu nhiều về chính trị nhưng bà có trái tim yêu quê hương. Bà luôn ủng hộ các hoạt động của con trai mình dù các hoạt động đó có ảnh hưởng xấu đến sự nghiệp của chồng. Bằng sự nhạy cảm của người mẹ, bà hiểu được con trai mình đã trải qua sự kiện trọng đại này của đất nước như thế nào...
Xong cơm trưa vào phòng nghỉ, vợ tôi âu lo nói với tôi: “Gia đình mình chẳng còn đồng nào. Còn lại chút ít, mấy ngày chót đã tiêu xài hết…” Thực tế là trong nhà tôi không có lúc nào dư dả. Làm báo thì sống bằng lương và nhuận bút. Báo bị đóng cửa thì gặp khó khăn ngay. Làm dân biểu 3 nhiệm kỳ suốt mười năm thì sống bằng phụ cấp của quốc hội, thoải mái hơn nhưng cũng không thật dư dả. Vợ tôi thường than phiền không cho bà buôn bán làm ăn, cứ sợ bị mang tiếng (mãi đến khi chúng tôi chia tay nhau bà mới bắt đầu kinh doanh).
Tôi sực nhớ lại cái cặp da. Tôi hỏi vợ tôi “Em thấy ngoài chợ tiền cũ còn xài không?”. Vợ tôi cho biết vẫn xài. Tôi đi tìm cái cặp mà đã mấy lần tôi định vứt nó. Thế là “đống giấy lộn” (tôi tưởng là như thế) đã “nuôi” được gia đình tôi mấy tháng đầu sau ngày 30-4!
Từ 30-4-1975 cho đến 2-5-1975, các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu và một số dân biểu, nghị sĩ vẫn còn ở trong Dinh Độc Lập. Dự kiến sau khi đại diện Ủy ban Quân quản gặp họ, tất cả sẽ được tự do ra về. Trong hai ngày ông bà Minh còn ở lại trong Dinh Độc Lập, vợ tôi đã mang các bữa ăn sáng trưa và chiều vào Dinh cho hai ông bà. Ngày 2-5-1975, chủ tịch Ủy ban Quân quản Trần Văn Trà đã nói: “Người Việt Nam chúng ta không có ai thắng hay bại, người chiến thắng là toàn thể dân tộc Việt Nam và kẻ bại là đế quốc Mỹ”.
Chiều 2-5-1975, nhà báo Pháp Jean Louis Arnaud điện thoại hẹn tôi để thực hiện bài phỏng vấn đầu tiên sau ngày 30-4 cho AFP. Ông Arnaud không khỏi ngạc nhiên khi nghe những lời phát biểu đầy phấn khởi và xúc động của tôi về chiến thắng 30-4. Bởi chính ông đã chứng kiến cảnh tôi đưa hai tay lên đầu hàng. Ông không hiểu được người giơ tay đầu hàng lại chia sẻ niềm vui với người chiến thắng? Tôi nói: “Trước hết đội quân chiến thắng là người Việt Nam, đồng bào tôi. Họ đã chiến thắng thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ, mang lại độc lập và thống nhất cho xứ sở. Họ đã làm được điều mà nhiều người Việt Nam như tôi không làm được...”. Lúc này, dù tôi hoàn toàn không đoán được chuyện gì sẽ đến trong những ngày sắp tới nhưng có hai điều mà tôi biết chắc nước Việt Nam đang có được là quá lớn, vượt lên mọi tính toán cá nhân và quyền lợi riêng tư: đó là hoà bình và thống nhất.

     2      3      4      5      6

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét